Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nhâm K30C Sinh
Trờng đại học s phạm hà nội 2
Khoa sinh - ktnn
****************
Nguyễn thị nhâm
Nghiên cứu một số chỉ tiêu thể
lực, sinh lý của phụ nữ trong
độ tuổi sinh đẻ từ 18 - 54 trên
địa bàn xã mỹ hơng - huyện lơng tài - tỉnh bắc ninh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Giải phẫu sinh lý ngời động vật
Hà nội 2008
Trường ĐHSP Hà Nội 2
1
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nhâm K30C Sinh
Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới cô giáo - Thạc sĩ
Nguyễn Thị Lan - người đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
3
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nhâm K30C Sinh
Mục lục
Phần 1. Mở Đầu
1.1.
Đặt vấn đề..
1
1.2. Mục đích của đề tài
2
Phần 2. Tổng quan tài liệu
2.1. Các vấn đề chung về hình thái thể lực sinh lý...
3
2.2. Lược sử nghiên cứu về hình thái thể lực sinh lý............
5
24
4.3. Kết quả nghiên cứu về chỉ số BMI của phụ
nữ xã Mỹ Hương trong độ tuổi từ 18 - 54.......
27
4.4. Kết quả nghiên cứu về chỉ số 3 vòng của phụ nữ
xã Mỹ Hương trong độ tuổi từ 18 - 54
29
4.5. Kết quả nghiên cứu về chỉ số nhịp
tim của phụ nữ xã Mỹ Hương trong độ tuổi từ 18 - 54
Trường ĐHSP Hà Nội 2
36
4
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nhâm K30C Sinh
phần 5. Kết luận và đề nghị.....................................................
44
n
: Số mẫu nghiên cứu
BMI
: Chỉ số khối cơ thể
MmHg
: Milimet thuỷ ngân
cm
: Centimet
Kg
: Kilogam
Nxb
: Nhà xuất bản
Nxb GD
: Nhà xuất bản giáo dục
khhgđ
Bảng 4.8. Bảng kết quả so sánh chỉ số vòng 1 của phụ nữ xã Mỹ Hương trong
độ tuổi từ 18 - 54 với chỉ số vòng 1 của của phụ nữ bình thường
thập kỉ 90 - thế kỷ XX
Bảng 4.9. Bảng kết quả so sánh chỉ số vòng 2 của phụ nữ xã Mỹ Hương trong
độ tuổi từ 18 - 54 với chỉ số vòng 2 của của phụ nữ bình thường
thập kỉ 90 - thế kỷ XX
Bảng 4.10. Bảng kết quả so sánh chỉ số vòng 3 của phụ nữ xã Mỹ Hương trong
độ tuổi từ 18 - 54 với chỉ số vòng 3 của của phụ nữ bình thường
thập kỉ 90 - thế kỷ XX
Trường ĐHSP Hà Nội 2
6
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nhâm K30C Sinh
Bảng 4.11. Bảng kết quả nghiên cứu về chỉ số nhịp tim của phụ nữ xã Mỹ
Hương trong độ tuổi 18 - 54
Bảng 4.12. Bảng kết quả so sánh chỉ số nhịp tim của phụ nữ xã Mỹ Hương
trong độ tuổi 18 - 54 với chỉ số nhịp tim của phụ nữ bình thường
thập kỷ 90
Bảng 4.13. Bảng kết quả nghiên cứu chỉ số HA của phụ nữ ở tình trạng khác
nhau theo sở y tế thành phố HCM
Bảng 4.14. Bảng kết quả nghiên cứu về chỉ số HA của phụ nữ xã Mỹ Hương
trong độ tuổi 18 - 54
Bảng 4.15. Bảng kết quả so sánh chỉ số HATT của phụ nữ xã Mỹ Hương trong
độ tuổi 18 - 54 với chỉ số HATT của phụ nữ bình thường thập kỷ 90
Hình 4.7. Đồ thị so sánh chỉ số vòng 3 của phụ nữ xã Mỹ Hương trong độ tuổi
từ 18 - 54 với chỉ số vòng 3 của của phụ nữ bình thường thập kỉ 90
- thế kỷ XX
Hình 4.2. Đồ thị so sánh chỉ số nhịp tim của phụ nữ xã Mỹ Hương trong độ
tuổi 18 - 54 với chỉ số nhịp tim của phụ nữ bình thường thập kỷ 90
Hình 4.9. Biểu đồ về chỉ số HA của phụ nữ xã Mỹ Hương trong độ tuổi từ
18-54
Hình 4.10. Đồ thị so sánh chỉ số HATT của phụ nữ xã Mỹ Hương trong độ
tuổi 18 - 54 với chỉ số HATT của phụ nữ bình thường thập kỷ 90
Hình 4.11. Đồ thị so sánh chỉ số HATTr của phụ nữ xã Mỹ Hương trong độ
tuổi 18 - 54 với chỉ số HATTr của phụ nữ bình thường thập kỷ 90
Trường ĐHSP Hà Nội 2
8
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nhâm K30C Sinh
Phần 1. Mở Đầu
1.1. Đặt vấn đề
Tầm vóc và thể lực là những đặc điểm phản ánh một phần thực trạng
của cơ thể và đặc biệt liên quan đến khả năng lao động và thẩm mỹ của con
người. Song những chỉ số về hình thái thể lực này của con người thay đổi theo
thời gian do sự thay đổi của xã hội, môi trường tự nhiênđáng kể nhất là chế
độ dinh dưỡng, luyện tập thể dục thể thao, chế độ làm việc và thực trạng ô
nhiễm môi trường.
Trong những năm gần đây, đất nước ta có sự phát triển mạnh mẽ về
1.2. Mục đích của đề tài
* Đánh giá thực trạng một số chỉ tiêu về thể lực, sinh lý của phụ nữ
trong độ tuổi sinh đẻ ở các nhóm tuổi khác nhau trên địa bàn xã Mỹ Hương huyện Lương tài - tỉnh Bắc Ninh.
* Cung cấp các số liệu về một số chỉ số thể lực, sinh lý cơ bản; góp
phần xây dựng các chỉ số sinh học người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
* Thấy được ảnh hưởng của điều kiện kinh tế xã hội, thói quen sinh
hoạt, môi trường sống lên sự phát triển của người dân quê mình.
* Xây dựng được ý thức và đề ra các phương pháp chăm sóc và bảo vệ
sức khoẻ cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên địa bàn của xã.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
10
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nhâm K30C Sinh
Phần 2. tổng quan tài liệu
2.1. Các vấn đề chung về hình thái thể lực, sinh lý
2.1.1. Thể lực và các chỉ tiêu đánh giá thể lực
Thể lực là khái niệm phản ánh đặc điểm, cấu trúc tổng hợp của cơ thể,
có liên quan tới sức lao động và thẩm mỹ của con người. Sự phát triển của thể
lực là quá trình thay đổi đặc điểm hình thái, chức năng của cơ thể con người
trong đời sống cá thể. Các chỉ tiêu về mặt thể lực còn mang tính đặc thù về
mặt giới tính, chủng tộc, lứa tuổi trong môi trường sống nhất định. Thể lực là
thước đo sức khoẻ, khả năng lao động và học tập. Chính vì vậy nghiên cứu và
ứng dụng các chỉ số thể lực được phổ biến rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như y
học, khoa học, thể thao, giải trí
2.1.1.3. Chỉ số BMI (Body Mass Index): Chỉ số khối của cơ thể
Thể hiện mối tương quan giữa 2 đại lượng là cân nặng và chiều cao
Trọng lượng (kg)
BMI =
[chiều cao đứng (m)]2
Theo tổ chức y tế thế giới thì chỉ số BMI của phụ nữ Châu á giới hạn
trong khoảng:
Dưới 18.5:
thiếu cân, thiếu năng lượng trường diễn
Từ 18.5 - 23: là bình thường
Từ 25 - 29.9: là thừa cân
Lớn hơn 30: là béo phì
2.1.1.4. Chỉ số vòng 1, vòng 2, vòng 3
Là 3 chỉ số thể hiện nét đẹp ngoại hình đặc trưng của người phụ nữ. Các
chỉ số này thay đổi theo tuổi tác, điều kiện làm việc, luyện tập thể dục thể thao
và chế độ dinh dưỡng.
2.1.2. Sinh lý và chỉ tiêu đánh giá
Nghiên cứu sinh lý người và động vật đã trở thành một môn khoa học
chuyên ngành của sinh học đó là sinh lý học động vật và người. Sinh lý học
động vật và người nghiên cứu các chức năng và các quy luật hoạt động sống
bình thường của cơ thể một số động vật và người. [5]
Khi nghiên cứu sinh lý người phụ nữ trong đề tài này tôi sử dụng các
chỉ số sinh lý cơ bản là:
Trường ĐHSP Hà Nội 2
12
đơn thuần là có bệnh hay tật.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
13
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nhâm K30C Sinh
Việc nghiên cứu hình thái thể lực, sinh lý của cơ thể được xem như một
bộ phận của sinh học cơ thể, cũng có lịch sử tồn tại và phát triển hết sức phong
phú thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau trên thế giới cũng như tại Việt
Nam.
Hình thái thể lực, sinh lý là một trong những vấn đề được nhiều người
quan tâm khi nghiên cứu con người.
Nold, Ludman và Valanski là những nhà nhân trắc học đầu tiên đưa ra
những số liệu chứng minh mối quan hệ giữa hình thái với các yếu tố tự nhiên
xã hội.
Năm 1919, Rudolf Martin, nhà nhân trắc học tiên phong người Đức đã
đề xuất phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể và đã được
nhiều nhà nghiên cứu áp dụng để đánh giá thể lực. Hai tác phẩm nổi tiếng của
ông là Giáo trình về nhân trắc học - 1919 và Chỉ nam đo đạc cơ thể và chỉ
số thống kê - 1924". [1]
Trong những năm gần đây nghiên cứ tăng trưởng vẫn được tiến hành
thường xuyên và có phương pháp đánh giá thể lực bằng chỉ số thống nhất, các
dụng cụ đo đạc được chuẩn hoá quốc tế. Các nhà khoa học đã sử dụng phương
pháp, phương tiện hiện đại cho việc nghiên cứu được nhanh chóng và chính
xác.
Trọng lượng có quy luật tăng trưởng phù hợp với quy luật tăng trưởng
chiều cao. ở lứa tuổi 18 - 25, đối với phụ nữ trọng lượng trung bình đạt 43.0
3.9 kg. Đây mới chỉ là kết quả nghiên cứu ở miền Bắc nhưng đó thật sự là
chỗ dựa tin cậy cho các nghiên cứu sau này.
Năm 1980, 1982, Đoàn Yên và cộng sự đã nghiên cứu một số chỉ tiêu
sinh học người Việt Nam trong đó có chiều cao, cân nặng. Ông đưa ra nhận
xét chiều cao trung bình của người Việt Nam thấp hơn nhiều so với người
Châu Âu và Châu Mỹ mọi lứa tuổi.
Atlat nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động - 1986 do
Võ Hưng chủ biên được thực hiện nghiên cứu trên tất cả 3 miền của đất nước.
Qua công trình này tác giả đã nêu được đặc điểm và quy luật phát triển tầm
vóc, thể lực người Việt Nam. [2]
Mặt khác, có những công trình nghiên cứu về từng đối tượng cụ thể công
nhân, nông dân, cán bộ viên chức, thanh niên, sinh viên, học sinhnhư:
Các chỉ số dinh dưỡng của người của người lớn thuộc một xã thuộc
tỉnh Hà Tây do Đào Huy Khê, Nguyễn Hữu Cường và Nguyễn Yên nghiên
cứu. [8]
Hình thái thể lực, khối mỡ, khối nạc và bề dày lớp mỡ dưới da của
công nhân Liên hiệp xí nghiệp Mộc Châu do Lê Hữu Hưng, Vũ duy Sơn và
cộng sự tiến hành. Nghiên cứu này cho thấy từ lứa tuổi 18 - 25 sang lứa tuổi
26 - 40 hầu hết các kích thước của nam nữ công nhân Liên hiệp xí nghiệp Mộc
Châu đều rất ít thay đổi. Khi bước sang lứa tuổi 41 - 45, các kích thước cũng
như khối nạc, khối mỡ giảm rõ rệt. [6]
Trường ĐHSP Hà Nội 2
16
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
17
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nhâm K30C Sinh
Từ kết quả của dự án này, ban biên tập gồm các Nhà khoa học Y học
đại diện cho các chuyên khoa, chuyên ngành Y học trong cảc nước do GS. TS.
Lê Ngọc Trọng, Thứ trưởng Bộ Y tế làm Tổng biên tập đã được thành lập để
biên soạn cuốn sách Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập
kỷ 90 - thế kỷ XX. Cuốn sách này còn được bổ sung một số giá trị sinh học
khác từ các đề tài khoa học cấp Bộ đã được nghiệm thu hoặc từ các Luận án
Tiến sĩ Y học đã được bảo vệ mà dự án Điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh
học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 chưa làm được. [7]
Công trình này cho thấy các chỉ số sinh học người tăng lên đáng kể so
với những thập kỷ trước. [7]
Điều này có thể giải thích do điều kiện sống được cải thiện hơn nhiều,
người Việt Nam được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng và có chế độ luyện tập
thể dục hàng ngày.
Đây là công trình gần đây nhất có đầy đủ thông tin về thể lực người
Việt Nam ở mọi lứa tuổi trong đó có phụ nữ ở lứa tuổi 18 - 54. Kết quả công
trình này là chỗ dựa đáng tin cậy cho các công trình nghiên cứu sau này.
2.3.2. Nghiên cứu về sinh lý
Một trong những nguyên nhân gây tử vong cơ bản lại liên quan đến các
bệnh thuộc hệ tim mạch. Với lứa tuổi 18 - 29 tỷ lệ này không cao nhưng ở lứa
tuổi 50 trở về sau thì tỷ lệ này ở nữ giới tăng 260 lần. Vì vậy đây là vấn đề cần
Có nhiều đề tài nghiên cứu của sinh viên khoa Sinh - KTNN trường
ĐHSP 2 về một số chỉ tiếu sinh lý của sinh viên tuổi 18 - 25.
Huyết áp tâm trương trung bình của nữ là 70.68 8.03 mmHg.
Huyết áp tâm thu trung bình của nữ là 116.04 9.74 mmHg. [1]
Những công trình nghiên cứu về thể lực sinh lý đã đóng góp rất lớn
trong lĩnh vực y học, sinh học, giáo dục, nghiên cứu khoa học và làm sáng tỏ
đặc điểm hình thái cơ thể người Việt Nam nói chung và phụ nữ nói riêng trong
mối tương quan với môi trường sống.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
19
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nhâm K30C Sinh
Phần 3. đối tượng và phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Là 417 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 18 - 54 trên địa bàn xã Mỹ
Hương - huyện Lương Tài - tỉnh Bắc Ninh trừ những phụ nữ có dị tật bẩm
sinh, bị bệnh mãn tính, phụ nữ có thai và đang cho con bú.
3.2. Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu thuộc xã Mỹ Hương - Lương Tài - Bắc Ninh. Đây
là một xã nông thôn có hơn 7000 người, trong đó phụ nữ tuổi từ 18 - 54 có
1688 người (tính đến tháng 4/2008 - theo ban dân số xã Mỹ Hương). Phụ nữ
trong độ tuổi này thuộc nhiều ngành nghề khác nhau như: giáo viên, học sinh,
thợ may, bán hàng... nhưng đại đa số là làm ruộng. Những người làm ruộng
còn làm thêm một số công việc khác như: gánh gạch, phụ vữa, làm hàng
3.4.2. Phương pháp thu thập thông tin
3.4.2.1. Phương pháp đo chỉ số chiều cao đứng: Đơn vị đo (cm). Đo
theo phương pháp cổ điển của Martin. Người được đo ở tư thế đứng trên nền
phẳng, hai gót chân sát nhau sao cho 4 điểm chẩm, lưng, mông, gót chạm vào
thước đo.
ảnh 3.1. Phương pháp đo chỉ số chiều cao đứng
Trường ĐHSP Hà Nội 2
21
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nhâm K30C Sinh
3.4.2.2. Phương pháp đo trọng lượng: Đơn vị đo là kg. Dụng cụ đo là
cân đồng hồ Trung Quốc có độ chính xác đến 0.1 kg. Cân được đặt trên nền
cứng có độ phẳng cao, đối tượng được cân mặc quần áo mỏng, đứng thẳng sao
cho trọng tâm rơi vào điểm giữa cân.
ảnh 3.2. Phương pháp đo chỉ số trọng lượng
Trường ĐHSP Hà Nội 2
22
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Nhâm K30C Sinh
Đo chỉ số vòng 3: Vòng dây qua điểm nhô cao nhất của mông để đo và
vuông góc với cột sống.
ảnh 3.5. Phương pháp đo chỉ số vòng 3
Trường ĐHSP Hà Nội 2
25