Mục lục
Mở đầu
2
1. Đặt vấn đề
2
2. Mục đích, nhiệm vụ
3
Chương 1: cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
4
1.1. Thể lực
4
1.2. Tình trạng dinh dưỡng
7
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
11
2.1. Đối tượng nghiên cứu
15
3.2. Thực trạng thể lực của các em học sinh
16
3.2.1 Thực trạng thể lực của các em học sinh nam
16
3.2.2 Thực trạng thể lực của các em học sinh nữ
19
3.2.3 So sánh sự phát triển thể lực giữa các em học sinh nam và nữ
21
3.2.4 So sánh với một số nghiên cứu khác
23
3.3. Tình trạng dinh dưỡng của các em học sinh
28
3.3.1 Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo BMI
28
3.5. Đề xuất biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng
Chương 4: Kết luận và đề nghị
41
43
4.1. Kết luận
43
4.2. Đề nghị
44
Tài liệu tham khảo
45
3
Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ cũng như
sự hợp tác từ nhiều phía.
Trước hết em xin được gửi lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy
Nguyễn Xuân Thành người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em đặc biệt là
trong những bước khó khăn nhất của đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến trạm y tế xã Lang Sơn, đến tập thể
các thầy giáo cô giáo và các em học sinh ở trường Tiểu học và Trung học cơ sở
SDD: Suy dinh dìng
VNTB: Vßng ngùc trung b×nh
WHO: Tæ chøc Y tÕ thÕ giíi (World Health Organization)
6
Các bảng và hình vẽ
Bảng
Bảng 1: Thang phân loại dinh dưỡng theo tiêu chuẩn của WHO
Bảng 2: Số lượng học sinh theo giới và tuổi
Bảng 3: Số lượng học sinh theo khu dân cư
Bảng 4: Thực trạng thể lực của các em nam
Bảng 5: Thực trạng thể lực các em nữ
Bảng 6: Chiều cao theo tuổi và giới (cm)
Bảng 7: Cân nặng theo tuổi và giới (kg)
Bảng 8: Tình trạng dinh dưỡng theo BMI
Bảng 9: Tình trạng dinh dưỡng theo chiều cao
Bảng 10: Tình trạng dinh dưỡng theo trọng lượng
Bảng 11: Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo giới tính
Bảng 12: Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo tuổi
Bảng 13: Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo khu dân cư
Bảng 14: Tỷ lệ số con trong gia đình của các em học sinh
Bảng 15: Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo số con trong gia đình
Hình vẽ
Hình 1: Sự biến đổi chiều cao của các em học sinh nam
Hình 2: Sự biến đổi cân nặng của các em học sinh nam
Hình 3: Sự biến đổi vòng ngực của các em học sinh nam
Hình 4: Sự biến đổi chiều cao của các em học sinh nữ
thể lực được coi là thước đo một mặt về sức khoẻ, mặt khác về khả năng lao
động. Bên cạnh đó, tình hình dinh dưỡng của một cộng đồng, một địa phương
cũng như trên quy mô cả nước là một nguồn dẫn liệu rất quan trọng để xây
dựng và đánh giá các dự án về sức khoẻ và phát triển kinh tế, xã hội [9]. Vì
vậy mà từ lâu hai vấn đề trên đã được nhiều nhà y học trên thế giới cũng như ở
Việt Nam quan tâm nghiên cứu.
ở nước ta, kể từ sau hai hội nghị hằng số sinh học năm 1967 và 1972 đã
có thêm nhiều công trình nghiên cứu về thể lực con người ở hầu hết các khu
vực trên cả nước. Kết quả của những công trình nghiên cứu này đã và đang
làm sáng tỏ các đặc điểm hình thái cơ thể người Việt Nam, tuy nhiên theo quy
luật sinh học nói chung thì cứ khoảng 10 năm, do những điều kiện sống thay
đổi làm tầm vóc thể lực nói riêng và các đặc điểm sinh học nói chung của một
số dân cư cũng thay đổi theo [10]. Và rất có thể kết quả của những nghiên cứu
trước đây không còn phù hợp với sự phát triển cơ thể con người hiện nay nữa.
Bên cạnh đó, tình trạng dinh dưỡng người Việt Nam cũng đã được
nghiên cứu nhiều nhưng hầu hết chỉ tập trung ở trẻ dưới 5 tuổi, phụ nữ có thai
và bà mẹ cho con bú. Do đó dữ liệu về tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ trên
trẻ học đường còn hạn chế [3].
Mặt khác, thể lực con người được đánh giá qua các chỉ số nhân trắc như
chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực trung bình,v.v...[9], trong khi đó sử
dụng các chỉ số nhân trắc cũng là một phương pháp để đánh giá tình trạng
dinh dưỡng của cơ thể, gọi là phương pháp nhân trắc học, có ưu điểm là đơn
giản, an toàn và chi phí rẻ [1].
Hạ Hoà là một huyện miền núi ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, phần
lớn dân cư sống ở khu vực nông thôn (khoảng 90%), nguồn thu nhập của
9
người dân chủ yếu từ các đồi, các ruộng, các bãi. Đời sống nhân dân trong
huyện đang ngày càng được nâng lên nhưng suy dinh dưỡng ở trẻ em vẫn là
Thể lực là năng lực vận động của con người, là biểu hiện tổng hợp trình
độ phát triển các hệ thống, cơ quan trong một cơ thể hoàn chỉnh, thống nhất.
ở bất kỳ ai, người bình thường đều có trình độ thể lực nhất định, chỉ khác
nhau về nhịp độ phát triển và mức độ đạt tới [4].
Thể lực là điều kiện cơ bản, là nhân tố trước hết đảm bảo cho mọi hoạt
động học tập và lao động đạt kết quả [4].
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thể lực
Nghiên cứu thể lực là một hướng nghiên cứu quan trọng, từ lâu đã được
nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm. Để đánh giá sự phát
triển thể lực, tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra khuyến cáo dùng các chỉ số là
chiều cao, cân nặng và vòng ngực trung bình.
* Tình hình nghiên cứu trong nước
ở Việt Nam, việc đo đạc các chỉ số đo người như chiều cao, cân nặng,
vòng ngực, chiều rộng của vai v.v... để đánh giá sự phát triển thể lực con người
được tiến hành từ hai thế kỷ trước.
Có lẽ công trình nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng chiều cao và cân
nặng của trẻ em ở Việt Nam là của Mondiere (1875) và sau này là của Huard
và Bigot (1938) và Đỗ Xuân Hợp [8, 9].
Từ sau năm 1954, khi miền Bắc được giải phóng, đã có nhiều công trình
nghiên cứu về chỉ tiêu nhân trắc ở trẻ em. Hội nghị về nhân trắc học Việt Nam
11
trong những năm 1967 - 1972 đã có những kết luận cơ bản về chỉ số người
Việt nam lúc bấy giờ [8, 9].
Từ những năm 1970, Trịnh Bỉnh Dy, Đoàn Yên và cộng sự đã chứng
minh: Từ 6 tuổi các thông số của nam thường cao hơn nữ đôi chút, đến 12
tuổi, nữ tăng vọt kích thước, cao và nặng hơn nam, qua 14 tuổi sự phát triển
của nam lại cao hơn hẳn nữ [5].
ngày càng cao của sự phát triển kinh tế và xây dựng đất nước.
* Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Việc nghiên cứu hình thái thể lực của cơ thể người trên thế giới đã được
tiến hành từ rất sớm.
Từ thế kỷ XVIII, Tenon đã coi trọng lượng là 1 chỉ số quan trọng để
đánh giá thể lực [9].
Công trình nghiên cứu cắt ngang đầu tiên về tăng trưởng của trẻ em là
luận án tiến sĩ của Christian Friedrich Jumpert ở Halle (Đức) năm 1754. Trong
đó đã trình bày các số liệu đo đạc về cân nặng, chiều cao và các đại lượng
khác của một loạt trẻ trai và gái từ 1 - 25 tuổi [8].
Năm 1919, Rudolf Martin đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo
đạc các kích thước của cơ thể người, được đánh giá cao và được sử dụng cho
đến tận ngày nay.
Sang thế kỷ XX cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại,
việc đo đạc, nghiên cứu thể lực của con người ngày càng được mở rộng. Năm
1977, NCHS đã thu thập số liệu từ hàng nghìn trẻ em, xây dựng biểu đồ tăng
trưởng áp dụng cho lứa tuổi này và liên tục được sửa đổi bổ sung [13].
Từ đó đến nay đã có nhiều công trình lớn về phát triển thể lực trẻ em
được nghiên cứu và công bố, đặc biệt là ở các nước phát triển. Có thể kể đến
như các công trình của Tomner (1979), M. Semper, M.P. RogPernot (1987)
v.v... [1,11].
Nói chung, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đều khẳng định thể
lực phát triển liên tục ở giai đoạn tuổi học sinh, nếu so với các lứa tuổi khác
13
thì nhịp độ phát triển tương đối ở giai đoạn này là lớn nhất và có những đột
biến quan trọng: Thường lứa tuổi 8 - 11 và 14 - 15, tốc độ và nhịp độ phát
triển đạt mức cao nhất [5].
1.2. Tình trạng dinh dưỡng
tình trạng dinh dưỡng trẻ em trong những năm 2001 - 2005 thì tỷ lệ suy dinh
dưỡng ở học sinh cấp II và III cao hơn so với cấp I [3].
Theo Nguyễn Công Khẩn và nhiều người khác thì các yếu tố nguy cơ
của suy dinh dưỡng trẻ em là thu nhập hộ gia đình (thu nhập cao hơn thì tình
trạng dinh dưỡng của trẻ em tốt hơn), trình độ văn hoá của bố mẹ (thể hiện rõ
rệt nhất ở sự khác biệt về tỷ lệ suy dinh dưỡng của con), tuổi, giới tính, nghề
nghiệp bố mẹ (tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn ở trẻ có bố mẹ làm nông nghiệp),
cỡ gia đình (tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở những gia đình đông con nhiều hơn
ở những gia đình chỉ có 1 - 2 con), cuối cùng là nước sạch và vệ sinh môi
trường [3].
Bên cạnh đó, kể từ khi được thành lập năm 1980, Viện Dinh Dưỡng đã
liên tục tiến hành các cuộc điều tra khảo sát dinh dưỡng trên quy mô cả nước.
Các kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng trong triển khai chiến lược quốc gia
về dinh dưỡng, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em và các can
thiệp dinh dưỡng đặc hiệu khác. Nói chung các công trình nghiên cứu đều cho
thấy tình trạng dinh dưỡng của những thế hệ sau tốt hơn những thế hệ trước [3,
10].
Tháng 3/2008, Việt Nam được ban thường trực dinh dưỡng Liên hợp
quốc chọn là nước chủ nhà và đã tổ chức thành công hội nghị lần thứ 35 để
chia sẻ kinh nghiệm phòng chống suy dinh dưỡng [3, 10].
* Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Tình trạng sức khoẻ trẻ em thiếu dinh dưỡng đang là mối quan tâm của
nhiều nước trên thế giới, trước hết là ở các nước đang phát triển.
15
Bác sĩ Cicely Williams (người Anh) đã mô tả và dùng thuật ngữ
Kawashiorkor vào năm 1931. Sau đó các báo cáo khảo sát của Brock và Autret
ở nhiều nước châu Phi (1951) và Trowell, Davies và Dean ở Uganda (1954) thì
độ 2 khi thấp hơn - 2SD.
- Theo độ lệch chuẩn (Z Score hay SD Score) được tính như sau:
Kích thước đo được Số trung bình của quần thể tham chiêú
Z Score =
Độ lệch của quần thể tham chiếu
- Theo Xentin (Percentile): Sắp xếp các kích thước nhân trắc theo Xentin
so với quần thể tham chiếu, ở mức 3 xentin (nghĩa là có 3% số trẻ dưới mức
này) gần tương đương với - 2SD (chính xác là - 1,881 SD) nên dưới mức này
có thể xếp vào loại thiếu dinh dưỡng. Thường các bảng xentin lấy mức 3 và 97
xentin để phân loại tình trạng dinh dưỡng.
Đối với chỉ số khối cơ thể (BMI) người ta dùng 3 mức xentin để phân loại
là dưới 5 xentin (gầy hoặc thiếu dinh dưỡng), trên 85 xentin (thừa cân) và trên
95 xentin (béo trệ) [1, 11].
Tại hội nghị thượng đỉnh về dinh dưỡng tại Roma tháng 12/1992, đại
diện của 159 nước đã tuyên bố quyết tâm đẩy lùi các bệnh suy dinh dưỡng.
Hội nghị cũng khẳng định: Suy dinh dưỡng không thể nào chấp nhận được
trong một thế giới mà ở đó có đầy đủ kiến thức và của cải vật chất để thanh
toán thảm hoạ này của loài người [3, 6].
17
Chương 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là toàn bộ học sinh đang học tập tại trường Tiểu học và
trường Trung học cơ sở xã Lang Sơn, trong đó, không có em nào bị dị dạng
hình thái hay bị bệnh mãn tính.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Ví dụ, đối tượng sinh ngày 15/09/2000 được coi là 8 tuổi trong khoảng thời
gian từ 15/09/2008 đến 14/09/2009 (tức là chưa đến ngày sinh nhật lần thứ 9
thì chưa được xếp vào lứa tuổi 9). Theo cách đó tuổi học sinh nghiên cứu được
phân loại như sau: 7 - 7.99 tuổi, 8 - 8.99 tuổi v.vtương ứng với lứa tuổi 7
tuổi, 8 tuổi v.v...
* Ngoài giới tính, tuổi đã thu thập được chúng tôi còn tiến hành phỏng
vấn trực tiếp các em học sinh, thu thập các thông số về khu dân cư và số con
trong gia đình các em để đánh giá thêm về tình trạng dinh dưỡng.
2.3.2 Xử lý số liệu
Các số liệu thu được (họ tên, ngày sinh, khu dân cư, giới, chiều cao, cân
nặng, vòng ngực trung bình và số con trong gia đình) được nhập vào máy tính,
xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2003. Trong quá trình xử lý, các số liệu
luôn được kiểm tra để đảm bảo sự chính xác.
* Đánh giá tình trạng thể lực của các em học sinh:
Các thông số được tính là:
- Giá trị trung bình:
X
1 n
Xi
n i 1
X : Giá trị trung bình
Xi: Giá trị bất kỳ của mỗi học sinh
n: Số học sinh trong mẫu nghiên cứu
19
Bảng 1. Thang phân loại dinh dưỡng theo tiêu chuẩn của WHO.
Mức độ
Cân nặng theo tuổi
Chiều cao theo tuổi
Rất nặng
Rất cao
Béo phì
+1SD +2SD Nặng
Cao
Thừa cân
- 2SD +1SD Bình thường
Bình thường
Bình thường
-3SD -2SD
SDD nhẹ (nhẹ)
SDD nhẹ (thấp)
100
Tổng số học sinh của tuổi đó
- Theo khu dân cư:
Số học sinh bị suy dinh dưỡng
của một khu dân cư
100
Tỷ lệ suy dinh dưỡng (%) =
Tổng số học sinh của khu đó
- Theo số con trong gia đình
Số học sinh bị suy dinh dưỡng
cùng số anh chị em trong gia đình
100
Tỷ lệ suy dinh dưỡng (%) =
Tổng số học sinh có cùng số anh
chị em trong gia đình
21
Chương 3
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Số lượng học sinh trong cứu
3.1.1. Số lượng học sinh theo giới và tuổi
Bảng 2: Số lượng học sinh theo giới và tuổi
26
45
10 - 10.99
24
29
53
11 - 11.99
23
21
44
12 - 12.99
26
23
49
13 - 13.99
Có 446 em học sinh trong độ tuổi từ 7 - 15 được đo đạc và điều tra, mỗi
nhóm tuổi gồm từ 44 - 59 em. Số lượng nam và nữ gần như tương đương nhau
(Nam: 223 em tương ứng với 50.22%; Nữ: 222 em tương ứng với 49.78%).
3.1.2 Số lượng học sinh theo khu dân cư
Xã Lang Sơn thuộc huyện Hạ Hoà có 10 khu dân cư, với số lượng các
em học sinh ở mỗi khu như sau:
22
Bảng 3: Số lượng học sinh theo khu dân cư
Khu
1
2
3
4
5
6
7
8
Bảng 4: Thực trạng thể lực của các em nam
Tuổi
Chiều cao trung Cân nặng trung Vòng ngực trung
bình (cm)
bình (kg)
bình (cm)
7 - 7.99
113.67 4.72
18.54 2.52
54.96 4.79
8 - 8.99
121.79 6.06
19.25 1.94
54.82 3.38
9 - 9.99
122.00 6.35
139.80 6.61
31.16 6.36
64.56 5.28
14 - 14.99
144.68 8.42
35.11 6.27
65.89 5.52
15 - 15.99
155.81 8.10
43.74 6.81
72.22 4.53
Qua bảng 4 và các hình 1, 2, 3 ta thấy:
- Các chỉ số cân nặng và chiều cao của các em nam đều tăng khi tuổi
tăng. Riêng vòng ngực có 2 thời điểm không tăng đó là 2 độ tuổi 7 8 và
11 12.
23
10
11
12
13
14
15
Hình 1: Sự biến đổi chiều cao của các em học sinh nam
24
kg
60
50
40
30
20
Tuæi
10
7
8
9
10
11
12
13
14
15
H×nh 3: Sù biÕn ®æi vßng ngùc cña c¸c em häc sinh nam
25
3.2.2 Thùc tr¹ng thÓ lùc cña c¸c em häc sinh n÷
B¶ng 5: Thùc tr¹ng thÓ lùc c¸c em n÷
Tuæi
ChiÒu cao trung
C©n nÆng trung
Vßng ngùc
10 - 10.99
127.07 5.61
22.03 2.23
56.48 2.47
11 - 11.99
133.05 6.62
27.05 6.45
63.10 6.02
12 - 12.99
138.30 7.92
29.48 5.30
64.83 4.49
13 - 13.99
142.68 6.04
33.16 4.51
7
8
9
10
11
12
13
14
15
H×nh 4: Sù biÕn ®æi chiÒu cao cña c¸c em häc sinh n÷
26