Khóa luận tốt nghiệp
Đại học sư phạm Hà Nội 2
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S – GVC Vũ Ngọc
Doanh. Thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập, nghiên cứu, cũng như luôn động viên khuyến khích tôi thực hiện đề tài
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp dạy
học Ngữ Văn, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Hà Nội ngày 02/05/2010
Sinh viên
Nguyễn Hồng Linh
1
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Đại học sư phạm Hà Nội 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin khẳng định kết quả của đề tài “Thi pháp thể loại với việc hướng
dẫn đọc – hiểu các tác phẩm tự sự trung đại trong trường THPT” không có
6. Đóng góp khóa luận .......................................................................... 8
7. Bố cục khóa luận ............................................................................... 8
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG………………….….9
1. Thi pháp thể loại, thi pháp tự sự ........................................................ 9
1.1 Thi pháp thể loại .............................................................................. 9
1.1.1 Khái niệm thi pháp ....................................................................... 9
1.1.2 Thể loại và thi pháp thể loại........................................................ 12
1.1.2.1 Thể loại ................................................................................... 12
1.1.2.2 Thi pháp thể loại ...................................................................... 16
1.2 Thi pháp tự sự và thi pháp tự sự trung đại ..................................... 17
1.2.1 Loại hình tự sự ........................................................................... 17
1.2.2 Thi pháp thể loại tự sự ................................................................ 22
1.2.3 Thi pháp tự sự trung đại.............................................................. 22
1.2.3.1 Khái niệm văn học trung đại .................................................... 22
3
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Đại học sư phạm Hà Nội 2
1.2.3.2 Thi pháp cốt truyện .................................................................. 24
1.23.3 Thi pháp nhân vật ..................................................................... 25
K32A Khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Đại học sư phạm Hà Nội 2
2.3 Vấn đề dạy học các tác phẩm tự sự trung đại trong trường THPT
hiện nay............................................................................................... 40
2.4 Dạy học tác phẩm tự sự trung đại theo thi pháp thể loại ................ 42
2.5 Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm tự sự trung đại theo đặc trưng
thi pháp văn học trung đại ................................................................... 46
2.5.1 Đọc – hiểu cốt truyện ................................................................. 49
2.5.2 Đọc – hiểu nhân vật .................................................................... 56
2.5.2 Đọc – hiểu ngôn ngữ .................................................................. 64
CHƯƠNG 3 GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM...................................69
Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Trích Truyền kì mạn lục)
Nguyễn Dữ .......................................................................................... 70
Vào phủ chúa Trịnh (Trích Thượng kinh kí sự ) Lê Hữu Trác ............. 85
KẾT LUẬN….…………………………………………………86
5
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Đại học sư phạm Hà Nội 2
bên cạnh tên tuổi của những nhà nghiên cứu hàng đầu như: Hoàng Trinh,
Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Kính, Đỗ Bình Trị….
Việc tiếp nhận các tác phẩm văn học nói chung trong trường trung học
phổ thông theo thi pháp thể loại là một vấn đề đòi hỏi người giáo viên phải có
những phương pháp thích hợp để giúp học sinh tiếp nhận một cách trọn vẹn
và sâu sắc nhất. Ngày nay, cùng với sự đổi mới của chương trình Ngữ văn nên
vấn đề phương pháp được đặt ra. Việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh được đặt lên hàng đầu. Hơn nữa, môn Ngữ văn
trong trường phổ thông cũng đã có sự thay đổi đột phá. Việc tiếp nhận tác
phẩm văn chương bằng hoạt động “đọc – hiểu” theo thể loại cũng là một
trong các phương pháp mới. Giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp nhận các tác
phẩm. Học sinh một mặt chịu sự tác động của giáo viên mặt khác phải phát
huy tư duy sáng tạo và khả năng tự học để nhận thức được cái “hay” cái
“đẹp”, định hướng được sự tiếp nhận của mình để đón nhận những giá trị nội
dung, nghệ thuật nắm bắt được chiều sâu tác phẩm và thi pháp tác giả để có
những kĩ năng tạo lập một văn bản.
Tác phẩm văn học trong chương trình phổ thông thuộc rất nhiều loại
thể khác nhau trong đó thể loại tự sự chiếm tỉ lệ khá lớn. Văn học Trung đại là
một bộ phận quan trọng của nền văn học Việt Nam, nó được đánh dấu bằng
những tác phẩm có giá trị văn hóa cũng như lịch sử. Rất nhiều tác phẩm tiêu
pháp học hiện đại thì phải đến đầu thế kỷ XX mới hình thành. Ban đầu phát
triển mạnh ở Nga với trường phái hình thức, sau đó dịch chuyển sang Âu –
Mỹ. Đến giữa thế kỷ XX thì trên thế giới, người ta không lạ gì phương pháp
hình thức. Tuy nhiên, bước đường phổ biến chủ nghĩa hình thức ở các nước
xã hội chủ nghĩa không mấy thuận lợi. Thi pháp học là bộ môn khoa học cũ
mà mới. Cũ là bởi vì nó đã xuất hiện ở Hy Lạp từ thời cổ đại với Nghệ thuật
thi ca của Aristote. Nhưng Thi pháp học với tư cách là một bộ môn khoa học
chỉ hình thành vào đầu thế kỷ XX ở Nga rồi dịch chuyển sang Âu – Mỹ và
phổ biến khắp thế giới. Ở Việt Nam trước 1975, Thi pháp học đã thâm nhập
vào miền Nam nhưng chưa có điều kiện phổ biến ở miền Bắc. Mãi đến sau
đổi mới, nó mới được chú ý và nhanh chóng trở thành “mốt” thời thượng
được nhiều người vận dụng. Cho nên, mãi đến cuối thế kỷ XX, ở Việt Nam
mới bùng phát phong trào nghiên cứu Thi pháp học.
Ở Việt Nam, GS Hoàng Trinh và GS Trần Đình Sử là những người đầu
tiên đề cập đến thi pháp coi thi pháp là hướng phát triển tất yêu của ngành
8
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Đại học sư phạm Hà Nội 2
nghiên cứu văn học. Ngay từ những năm 70, 80 của thế kỉ trước các ông đã có
hàng loạt các bài nghiên cứu về các yếu tố riêng lẻ của thi pháp. Nhưng để
ghi nhận sự hiện diện của thi pháp tại Việt Nam phải chờ đến công trình "Thi
10
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Đại học sư phạm Hà Nội 2
GS. TS Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn "Văn học và nhân cách" (NXB Văn
học, 1994) và công trình "Văn học tầm nhìn biến đổi" (NXB Văn học, 1996).
"Đọc và tiếp nhận văn chương" (NXB Giáo dục, 2002). GS. Phan Trọng Luận
trong chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học” đã phân tích rõ tầm
quan trọng của hoạt động đọc. GS. Trần Đình Sử “Đọc – hiểu là một khâu đột
phá trong nội dung và phương pháp dạy học hiện nay” (Tài liệu bồi dưỡng
giáo viên, NXB Giáo dục, 2006). “Đọc văn, học văn” (NXB Giáo dục –
2001). Ngoài ra Trần Đình Sử còn có rất nhiều bài viết nhấn mạnh vai trò của
đọc – hiểu như “Môn văn thực trạng và giải pháp” (Báo Văn nghệ số ra
14/02/1998). Trần Thanh Đạm “Dạy văn: dạy đọc, dạy viết” (Báo văn nghệ,
2005). Nguyễn Trọng Hoàn “Phát triển năng lực đọc trong dạy học văn”
(Báo Văn học và Tuổi trẻ số 7, 2003).
Tất cả các bài viết của các nhà nghiên cứu đều cho rằng đọc là hoạt
động đầu tiên của tiếp nhận văn chương và khẳng định vai trò của đọc hiểu
không chỉ trong văn chương và mà cả trong đời sống.
Việc tiếp cận tác phẩm theo thi pháp thể loại với việc hướng dẫn học
sinh đọc hiểu tác phẩm tự sự trung đại Việt Nam còn rất nhiều điều cần được
nghiên cứu một cách kĩ lưỡng vì vậy, dựa trên các thành tựu nghiên cứu của
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi tập chung vào việc tìm hiểu về vấn
đề thi pháp và thi pháp tự sự trung đại. Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu về thể
loại và đặc điểm của thể loại tự sự và vấn đề tiếp nhận văn học để từ đó ứng
dụng các kết quả vào việc hướng dẫn học sinh đọc – hiểu các tác phẩm tự sự
Trung đại trong trường THPT.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài tài “Thi pháp thể loại với việc hướng dẫn
học sinh đọc hiểu tác phẩm tự sự trung đại trong trường THPT” chúng
tôi chỉ tập chung vào các tác phẩm tự sự trung đại được đưa vào trong chương
trình trung học phổ thông.
5. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp hệ thống
2. Phương pháp phân tích
3. Phương pháp hồi cứu tài liệu (chép, trích dẫn)
12
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Đại học sư phạm Hà Nội 2
4. Pháp thực nghiệm
6. Đóng góp khóa luận
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Thi pháp thể loại, thi pháp tự sự
1.1 Thi pháp thể loại
1.1.1 Khái niệm thi pháp
Thi pháp học là bộ môn cổ xưa nhất và cũng là bộ môn hiện đại nhất
của nghiên cứu văn học đem lại cho tình hình nghiên cứu văn học những sinh
khí mới. Khi nghiên cứu lịch sử văn học, nó hướng tới khám phá sự tiến hóa
của các phương tiện, phương thức và hình thức nghệ thuật.
Trong các bộ môn của ngành nghiên cứu văn học hiện nay như lịch sử
văn học lí luận, phê bình văn học thì thi pháp học là bộ môn nghiên cứu có
nhiệm vụ khá đặc thù. Cũng như nhiều bộ môn nghiên cứu văn học khác hiện
đang được triển khai theo chiều hướng khác nhau, về thi pháp học hiện nay
cũng khó tìm được một định nghĩa nào được mọi nhà nghiên cứu chấp nhận.
Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu trong “Thi pháp hiện đại” đã trình bày
như sau: “Thi pháp là phương pháp tiếp cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác
phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật để tìm
hiểu các ý nghĩa biểu hiện hoặc chìm ẩn của các tác phẩm: ý nghĩa mĩ học,
triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học… Cấp độ nghiên cứu thi pháp học
các hình thức nghệ thuật (kết cấu âm điệu, nhịp điệu, nhịp câu, đối thoại, thời
gian, không gian, cú pháp, yêu cầu đọc tác phẩm như một chỉnh thể ở đó các
yếu tố ngôn ngữ liên kết chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống để biểu
đạt ý tưởng, tình cảm tư duy, nhân sinh quan….”
Trong “Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại Việt Nam”
14
Nguyễn Hồng Linh
hiểu theo nghĩa rộng, ngoài các thành tố nói trên thi pháp còn “bao gồm cả
những vấn đề loại hình, thể tài, những nguyên tắc và phương pháp phản ánh
thực tại và các phạm trù: Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, quan
niệm của tác giả về thế giới và con người”
15
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Đại học sư phạm Hà Nội 2
“Thi pháp là hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện đời
sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. Hệ thống đó có thể
chia tách thành các phương tiện (yếu tố), thể loại, kết cấu, phương pháp,
không gian, thời gian, ngôn ngữ…” [Nguyễn Thị Bích Hải (2006) Thi pháp
thơ Đường. NXB Thuận Hóa – Huế. 8. tr10]
Có thể thấy điểm xuất phát của thi pháp là coi tác phẩm văn học là văn
bản ngôn từ. Từ văn bản ngôn từ ấy hiện lên một thế giới nghệ thuật – hình
thức để phân tích tác phẩm. Thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo cũng
của nhà văn. Người đọc có thể cảm nhận được thế giới nghệ thuật đó khi mở
trang đầu của tác phẩm văn học. Mỗi tác phẩm có một thế giới không gian
riêng nhưng là không gian, thời gian được sắp xếp, cấu tạo nên gọi là không
gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật. Trong thế giới nghệ thuật, con người
giữ vai trò trung tâm, là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học. Con người
trở thành nhân vật văn học thể hiện tư tưởng của tác giả. Trong thế giới đó
phương thức nghệ thuật, miêu tả đặc trưng của thể loại văn học, từ đó mới tìm
tòi các tầng lớp ý nghĩa ẩn giấu của tác phẩm.
Đứng từ những góc nhìn khác nhau các tác giả đưa ra những khái niệm
khác nhau về thi pháp học nhưng tựu chung lại chúng ta có thể biết được
phân tích tác phẩm theo thi pháp học là phải đi từ những yếu tố hình thức đến
nội dung. Những điều thuộc văn bản thế giới nghệ thuật là phạm vi hình thức,
là cái phản ánh. Nội dung là cái biểu hiện, là thông tin nghệ thuật chứa trong
cái phản ánh và được rút ra từ các yếu tố hình thức.
1.1.2 Thi pháp thể loại
1.1.2.1 Thể loại
Theo “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) (NXB Đà Nẵng,
2007) thì thể loại là “hình thức phản ánh hiện thực, vận dụng ngôn ngữ”
[10, trang 933]
Theo “Từ điển văn học” thì thể loại là “hình thức biểu hiện của tác
phẩm văn học dựa theo kết cấu (thơ ca, tiểu thuyết, tản văn, kịch).”
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi thì thể loại được hiểu là “dạng thức của tác phẩm được tồn
tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, thể hiện
ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại
hình tượng đời sống được miêu tả về tính chất của mối quan hệ của nhà văn
đối với các hiện tượng đời sống ấy” [9, tr.297]
17
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
18
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Đại học sư phạm Hà Nội 2
không phải hình thức bên ngoài. Tức là mọi sự phân chia là từ sự cấu tạo bên
trong của tác phẩm văn học chứ không phải là đơn thuần dựa vào một số biểu
hiện về hình thức bên ngoài. Kiến trúc tác phẩm, cấu tạo hình tượng như thế
nào là don phương thức phản ánh và biểu hiện đó qui định. Nếu hình tượng
thiên về mặt biểu hiện tư tưởng tình cảm của tác giả ta sẽ có tác phẩm trữ
tình, nếu hình tượng thiên về mặt biểu hiện con người, sự việc trong cuộc
sống ta sẽ có tác phẩm tự sự. Tác phẩm tự sự tập chung, cô đọng đến mức độ
bản thân nhân vật, sự việc, câu chuyện có thể tự mình bộc lộ trên trang sách
hoặc trên sân khấu, không cần sự “dẫn chuyên” của tác giả, như thế ta sẽ có
tác phẩm kịch. Trữ tình, tự sự và kịch là ba phương thức cơ bản nhất của sự
phản ánh hiện thực cuộc sống và biểu hiện nội tâm của tác giả, ba phương
thức cơ bản của sự cấu tạo hình tượng, khiến trúc tác phẩm văn học. Đồng
thời đó cũng là ba lọai cơ bản nhất trong lòng mỗi loại và trên biên giới của
mỗi lọai thể sẽ nảy sinh rất nhiều các thể khác nhau của sự sáng tác văn học.
Nhưng trên thực tế chúng ta không nên đi xác định rõ ràng, dứt khoát
ranh giới giữa các loại thể bởi trong quá trình phát triền văn học các loại thể
luôn có sự tác động qua lại, bổ sung cho nhau. Chẳng hạn chúng ta có thể tìm
thấy những yếu tố trữ tình trong tác phẩm tự sự như: “Truyện Kiều” của
cuộc sống và biểu hiện nội tâm của tác giả, ba phương thức cơ bản nhất của
sự cấu tạo hình tượng, kiến trúc tác phẩm văn học. Đồng thời đó cũng là ba
loại cơ bản nhất trong lòng mỗi loại và trên biên giới của mỗi loại sẽ nảy sinh
rất nhiều các thể khác nhau của sự sáng tác văn học.
Từ ba loại thể trên có thể chia nhỏ như sau:
- Tự sự:
+ Tự sự dân gian: Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện
cười.
+ Tự sự trung đại và hiện đại: Truyền kì, tiểu thuyết, truyện, kí.
- Trữ tình:
+ Trữ tình dân gian: Ca dao, câu đố
+ Trữ tình trung đại và hiện đại: Thơ cổ thể truyền thống, thơ tự do.
- Kịch:
+ Kịch dân gian: Chèo, tuồng, múa rối.
+ Kịch hiện đại: Bi kịch, hài kịch.
20
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Đại học sư phạm Hà Nội 2
1.1.2.2 Thi pháp thể loại
Thể loại là một trong những cấp độ nghiên cứu quan trọng của thi pháp
học. Cho dù có những ý kiến cực lực phê phán sự phân chia văn học thành các
Đại học sư phạm Hà Nội 2
1.2 Thi pháp tự sự và thi pháp tự sự trung đại
1.2.1 Loại hình tự sự
Theo “Từ điển tiếng Việt 2007” cho rằng: “Tự sự là thể loại văn học
phản ánh hiện thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách thông qua cốt
truyện tương đối hoàn chỉnh”.
“Từ điển thuật ngữ văn học” của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi có ghi “Tự sự là phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai
phương diện khác là trữ tình và kịch”
GS Trần Thanh Đạm trong “Mấy vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học
theo loại thể” quan niệm: “Tự sự là loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếp
hiện thực khách quan “như một cái gì tách biệt”, “ở bên ngoài” đối với tác
giả thành một câu truyện có sự phát triển tâm trạng, tính cách, hành động
của con người”.
Từ góc độ lí luận văn học thì tự sự là “Tác phẩm phản ánh đời sống
trong tính khách quan của nó – qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại
bởi một người kể truyện nào đó”.
Như vậy tự sự trước hết là tiêu chí để phân loại tác phẩm văn học. Mặt
khác văn học là nghệ thuật ngôn từ người nghệ sĩ sử dụng ngôn từ như một
công cụ và phương tiện để tái hiện đời sống. Hay nói khác đi văn học phản
ánh kết quả nhận thức của người nghệ sĩ về cuộc đời. Hơn nữa phản ánh và
biểu hiện trong văn học có nhiều phương thức khác nhau mà tự sự là phương
thức cơ bản: nhà văn dùng phương thức kể để tái hiện kết quả nhận thức, đời
sống khách quan nhằm gửi vào đó tư tưởng, tình cảm của mình.
1.2.1.1 Sự phân chia thể loại tự sự
Căn cứ vào tiến trình lịch sử văn học có thể chia tự sự thành: Tự sự dân
gian, tự sự trung đại, tự sự hiện đại
22
động, tiến trình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm tự sự và kịch, đôi khi
cả các tác phẩm trữ tình”.
Ta có thể đi đến một định nghĩa chung nhất cho cốt truyện: Cốt truyện
là một tập hợp các biến cố, các sự kiện, các tình tiết diễn ra trong tác phẩm,
được sắp xếp theo một trật tự logic nhất định.
Cốt truyện thường tổ chức sắp xếp theo hai trường hợp:
23
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Đại học sư phạm Hà Nội 2
- Trường hợp 1: Sắp xếp các tình tiết theo chiều thời gian: Đây là cách
sắp xếp phổ biến nhất. Có hai kiểu thời gian là: thời gian tuyến tính và thời
gian đa chiều. Việc sắp xếp theo thời gian tùy thuộc vào ý đồ nghệ thuật của
tác giả.
Trường hợp 2: Sắp xếp các tình tiết theo chiều không gian: Tùy theo
quy mô của sự kiện, có nhiều hay ít sự kiện. Mỗi sự kiện xảy ra trong không
gian khác nhau và có hai không gian là: Không gian khách quan và không
gian tâm lí nhưng khi vào nghệ thuật thì có chung tên gọi là không gian.
Về phương diện kết cấu và qui mô nội dung cốt truyện có thể chia
thành hai loại là cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa tuyến. Mọi cốt truyện
đều trải qua một tiến trình vận động thông thường gồm: trình bày, thắt nút,
phát triển, đỉnh điểm, kết thúc. Tuy nhiên không phải bất cứ cốt truyện nào
Thế nhưng theo một số nhà lí luận thì khái niệm “nhân vật” được quan
niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều. Đó không phải chỉ là những con người
cụ thể được miêu tả trong tác phẩm, có tên hoặc không có tên, được khắc sâu
hay chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm mà còn có thể là những sự vật,
loài vật hoặc ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người.
Đặc điểm quan trọng nhất của tác phẩm là nhân vật. Nhân vật là hình
thức của tự sự, nó là phương tiện mà nhà văn sử dụng, phản ánh cuộc sống
khách quan. Mỗi nhân vật trong tác phẩm tự sự bao giờ cũng được đặt vào rất
nhiều mối quan hệ: quan hệ với hoàn cảnh, quan hệ với môi trường, quan hệ
với cộng đồng (với những nhân vật khác). Những quan hệ ấy là căn cứ và là
cơ sở để nhà văn thể hiện tính cách nhân vật. Ngoài ra tính cách nhân vật còn
được thông qua ngoại hình, hành động, ngôn ngữ…
Phân loại nhân vật:
Dựa vào vị trí của nhân vật trong tác phẩm có thể chia nhân vật thành:
Nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm.
Dựa vào tính cách của nhân vật và lí tưởng thẩm mĩ xã hội của nhà văn
có thể chia nhân vật thành: nhân vật chính diên và nhân vật phản diện.
Xét theo cấu trúc của tác phẩm nhân vật có thể chia thành: nhân vật
chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng.
Trong quá trình giảng dạy chúng ta không thể tiến hành phân tích tất cả
các nhân vật trong tác phẩm mà chúng ta phải tiến hành thống kê cho đủ các
nhân vật rồi từ đó tìm ra nhân vật chính. Nếu một tác phẩm có nhiều nhân vật
chính thì phải chọn ra đâu là nhân vật trung tâm của tác phẩm.
25
Nguyễn Hồng Linh
K32A Khoa Ngữ Văn