Số hóa bởi trung tâm học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HOÀNG MAI QUYÊN
HƢỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU CHÙM THƠ THU CỦA
NGUYỄN KHUYẾN DƢỚI GÓC ĐỘ THI PHÁP LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên – 2013
Số hóa bởi trung tâm học liệu LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc của mình tới GS.TS. Nguyễn
Thanh Hùng – ngƣời thầy đã tận tâm hƣớng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo em trong suốt
quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn và khoa
Sau đại học đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn
thành công trình khoa học này.
Tác giả luận văn cũng bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện,
giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn.
Tác giả luận văn
Hoàng Mai Quyên
Số hóa bởi trung tâm học liệu
i
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
2.3. Đọc hiểu Chùm thơ thu theo đặc trƣng thi pháp thể loại 47
2.3.1. Cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Khuyến trong Chùm thơ thu 47
2.3.2. Mĩ lệ hóa cảnh vật và ngôn ngữ bình dị trong Chùm thơ thu 48
2.3.3. Không gian và thời gian nghệ thuật trong Chùm thơ thu 55
2.3.4. Biểu tƣợng cảm khái về đời và về bản thân tác giả trong Chùm thơ thu 60
2.3.5. Sự kết tình trong cấu trúc Chùm thơ thu 62
2.4. Đổi mới dạy đọc hiểu Câu cá mùa thu dƣới góc độ thi pháp 66
2.4.1. Lựa chọn tri thức cho bài Câu cá mùa thu 66
2.4.2. Vận dụng đọc hiểu Câu cá mùa thu để phân tích, bình giá tác phẩm. 70
2.4.3. Phát hiện giá trị nhân văn của nội dung nghệ thuật và ý vị nhân sinh trong Câu
cá mùa thu. 73
2.4.4. Xác định tiến trình đọc hiểu bài thơ Câu cá mùa thu 75
2.4.5. Học sinh phát triển và bổ sung tiến trình đọc hiểu bài thơ 76
2.4.6. Kiểm tra, đánh giá yêu cầu cần đạt 77
Chƣơng 3. Thực nghiệm dạy đọc hiểu Câu cá mùa thu dƣới góc nhìn thi pháp 80
3.1. Mục đích thực nghiệm 80
3.2. Địa bàn thực nghiệm 80
3.3. Đối tƣợng thực nghiệm 80
3.4. Phƣơng pháp tiến hành thực nghiệm 80
Số hóa bởi trung tâm học liệu
iii
3.5. Tiến trình thực nghiệm 81
3.5.1. Thiết kế giờ dạy đọc hiểu Câu cá mùa thu dƣới góc nhìn thi pháp 81
3.5.2. Dạy thực nghiệm 98
3.5.3. Dạy đối chứng 100
3.5.4. Đánh giá thực nghiệm 106
3.5.5. Kết luận về quá trình thực nghiệm 109
KẾT LUẬN 111
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐƢỢC CÔNG BỐ 113
Giáo viên
3.
HS
Học sinh
4.
NXB
Nhà xuất bản
5.
SGK
Sách giáo khoa
6.
SGV
Sách giáo viên
7
THPT
Trung học phổ thông
8.
TS
Tiến sĩ
Số hóa bởi trung tâm học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Đổi mới phƣơng pháp dạy - học là vấn đề đang thu hút đƣợc sự quan tâm,
chú ý của ngành giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung. Dạy học văn hƣớng tới
mục đích là HS lĩnh hội tri thức và giá trị văn chƣơng, yêu thích văn học và hình
thành một nhân cách sống tốt đẹp. Bao trùm lên quá trình tiếp nhận văn chƣơng là
hoạt động đọc hiểu. Tuy nhiên, nắm đƣợc lí thuyết đọc hiểu là một chuyện, áp dụng
năm nay. Chùm thơ thu vừa là sáng tác tiêu biểu cho một thể loại lớn trong nền văn
học Trung đại Việt Nam đó là thể thơ Nôm Đƣờng luật, lại vừa đƣợc Nguyễn Khuyến
vận dụng có nhiều sáng tạo trong phong cách và tài hoa thơ nên việc hƣớng dẫn HS
đọc hiểu bài thơ này là vấn đề cần thiết trong nhà trƣờng phổ thông.
Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Hướng dẫn học sinh đọc
hiểu Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến dưới góc độ thi pháp”.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu đề tài: Hƣớng dẫn học sinh đọc hiểu Chùm thơ
thu của Nguyễn Khuyến dƣới góc độ thi pháp học
Từ giữa thế kỷ XX, công việc nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học theo tinh
thần thi pháp học là xu hƣớng chung trên phạm vi toàn thế giới. Ở Việt Nam, với chủ
trƣơng hội nhập, từ sau Đổi mới đến nay chúng ta đã có nhiều điều kiện tốt để thực
hiện công việc ý nghĩa này. Sau nhiều nỗ lực nghiên cứu, chúng ta đã nhiều công
trình có giá trị.
Khái niệm “Thi pháp học” đã xuất hiện ở Hy Lạp từ thời cổ đại với tác
phẩm “Poetica” (Nghệ thuật thơ ca) của Aristote. Tuy nhiên, “Thi pháp học nghiên
cứu cấu trúc tác phẩm và những hợp thể của các cấu trúc đó: các tác phẩm của một
nhà văn, các khuynh hướng văn học, các thời đại văn học) thì mới hình thành vào
đầu thế kỷ XX ở Nga rồi dịch chuyển sang Âu - Mỹ và phổ biến khắp thế giới”
[www.Tamtay.vn]
Trên lộ trình du nhập vào Việt Nam, thi pháp học đã chứng kiến sự lao động cật
lực của một đội ngũ các nhà nghiên cứu tâm huyết nhƣ: GS. Đỗ Đức Hiểu, nhƣng
trƣớc hết thi pháp học gắn với tên tuổi của GS.TS Trần Đình Sử, ngƣời đã có công
giới thiệu thi pháp học vào Việt Nam và vận dụng nó một cách sáng tạo.
Trong cuốn Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại, Trần Đình Sử đã nghiên
cứu thi pháp văn học truyền thống một cách nền tảng và sâu sắc trong thế đối sánh
với thi pháp học hiện đại. Bên cạnh đó, ông còn trình bày thi pháp văn học trung đại
Số hóa bởi trung tâm học liệu
3
ở một số phƣơng diện nhƣ: “Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ trữ tình
4
cảnh Việt Nam. Trong số những tuyệt bút viết về cảnh sắc thôn quê thì ba bài: Câu cá
mùa thu (Thu điếu), Ngâm vịnh mùa thu (Thu hứng), Uống rượu mùa thu (Thu ẩm) đã
tạo nên một Chùm thơ thu nức danh nhất trong sự nghiệp thơ ca Nguyễn Khuyến.
Trong chùm thơ đó, Câu cá mùa thu đã đƣợc giới thiệu và đƣa vào giảng dạy ở
chƣơng trình SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 và thu hút đƣợc đông đảo sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu.
TS. Chu Văn Sơn trong một chuyên đề nghiên cứu có viết: “Cõi riêng của
Nguyễn Khuyến, ta thấy không có ở người khác. Ông nhào nặn, tái tạo từ những
nguyên liệu, vật liệu quen thuộc của cảnh quê, nhưng lại khắc phục những cái thô
mộc, quê kệch để làm cho tình cảm trở nên thanh nhã, cao sang hơn.” [33.25]. Nhận
xét trên đã cụ thể hoá nét đặc sắc về Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến từ chất liệu
miêu tả trong thơ, qua đó khẳng định một chất thơ không lẫn với ai, đó là phong cách
quê kiểng mà lại rất thanh cao.
Lã Nhâm Thìn trong bài Câu cá mùa thu [ 46.22] đã nhận xét “Câu cá mùa thu
thể hiện tài năng bậc thầy về thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, ông sành sỏi trong việc
sử dụng ngôn ngữ, phát huy được một cách kì lạ khả năng diễn đạt hết sức tinh tế,
chính xác của những từ ngữ rất đỗi nôm na, bình dị…” Dƣới cái nhìn của một nhà
nghiên cứu văn học trung đại, tác giả bài viết đã thông qua Câu cá mùa thu để cho
bạn đọc thấy tài năng ngôn ngữ thơ Nôm của Nguyễn Khuyến.
Tác giả Trần Mạnh Hảo trong một bài nghiên cứu đã viết: “Tựa gối ôm cần lâu
chẳng được, như thể ông là tù binh của cần câu, của chính hồn mình đang ở đâu đâu
trong trời đất mang mang thiên cổ luỵ” [ 26.24]. Đó là nhận xét khái quát về nỗi
niềm đầy ẩn ức của Nguyễn Khuyến gửi gắm qua Câu cá mùa thu.
Tất cả những công trình trên đều là những tƣ liệu quý báu để tác giả luận văn
tham khảo. Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đây vẫn còn tản mạn, chƣa có một
công trình nào đi vào nghiên cứu giảng dạy bài Chùm thơ thu dƣới góc độ thi pháp.
Đề tài luận văn của chúng tôi sẽ nhìn Câu cá mùa thu dƣới cái nhìn liên văn bản, với
hi vọng sẽ giúp cho việc dạy học bài thơ Câu cá mùa thu đạt hiệu quả, đồng thời là tƣ
1. Giả thuyết khoa học
Nếu GV có những cách thức hƣớng dẫn HS đọc hiểu bài thơ Chùm thơ thu của
Nguyễn Khuyến dƣới góc độ thi pháp thì sẽ nâng cao kết quả tiếp nhận giá trị nghệ
thuật và nội dung của giờ đọc hiểu Câu cá mùa thu
Số hóa bởi trung tâm học liệu
6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phƣơng pháp, biện pháp khoa học sau:
- Phƣơng pháp thống kê, phân loại.
- Phƣơng pháp tổng hợp, vận dụng lí thuyết
- Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu tƣ liệu.
- Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm: quan sát, phiếu trắc nghiệm, dạy học
thực nghiệm đối chứng.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba
chƣơng:
Chƣơng 1: Thi pháp học và dạy- học văn
1.1. Khái niệm về thi pháp học
1.2. Đặc trƣng thi pháp văn học trung đại Việt Nam.
1.3. Nét nổi bật về thi pháp trong thơ Nôm Đƣờng luật của Nguyễn Khuyến
1.4. Vận dụng thi pháp học để khám phá giá trị đích thực của tác phẩm văn
chƣơng
Chƣơng 2: Những biện pháp hƣớng dẫn học sinh đọc hiểu Câu cá mùa thu
dƣới góc nhìn thi pháp
2.1. Những tri thức cơ bản về đọc hiểu tác phẩm văn chƣơng
2.1.1. Quan niệm về đọc hiểu
2.1.2. Nội dung đọc hiểu
2.1.3. Tri thức đọc hiểu
2.1.4. Kĩ năng đọc hiểu
8
NỘI DUNG
Chƣơng 1. THI PHÁP HỌC VÀ DẠY – HỌC
1.1. Khái niệm về thi pháp học
Thi pháp học là một danh từ quen mà lạ. Đó là tên gọi một bộ môn cổ xƣa nhất
nhƣng cũng đồng thời là bộ môn đƣợc nghiên cứu sâu rộng trong xã hội hiện đại, thi
pháp học đang mang đến cho ngành văn những luồng sinh khí mới. Đặc biệt việc dạy
Văn theo tinh thần thi pháp học ở nhiều nƣớc đang ngày càng trở nên phổ biến.
Vào những năm 70 của thế kỉ XX đời sống phê bình, lí luận văn học nƣớc ta
gần nhƣ suy kiệt khả năng sáng tác và khủng hoảng về đƣờng hƣớng sáng tác văn
học. Chính trong thời điểm ấy, sự xuất hiện của thi pháp học hiện đại đã đáp ứng một
cách hiệu quả nhu cầu đổi mới văn học từ hai phía sáng tạo và tiếp nhận. Nếu trong
một thời gian dài chúng ta quá quan tâm đến nội dung mà coi nhẹ hình thức, tách rời
hình thức với nội dung thì thi pháp học lại đặc biệt coi trọng hình thức.Tất nhiên, đó
không phải là hình thức thuần tuý mà là hình thức mang tính quan niệm, không phải
là hình thức bị cắt vụn mà là hình thức mang tính chỉnh thể, thống nhất, hệ thống của
cái nhìn độc đáo về cuộc sống. Từ phƣơng diện này, thi pháp học đã coi văn học nhƣ
một chỉnh thể sống, một sáng tạo nghệ thuật có giá trị văn hoá sâu sắc, luôn mở và
động.
Muốn xác định và tìm hiểu những yếu tố nội hàm của thi pháp học thì trƣớc hết
ta phải xác định thi pháp học là gì? Có rất nhiều định nghĩa về thi pháp học: Theo
viện sĩ M.Khrápchencô “trong thuật ngữ “poetica” nên phân biệt thành hai nghĩa.
Một là các nguyên tắc thi pháp vốn tồn tại trong văn học và hai là thi pháp học, khoa
học nghiên cứu thi pháp”. [40.4] Tác giả cũng cho rằng ở châu Âu việc dùng một
thuật ngữ để chỉ vừa đối tƣợng nghiên cứu, vừa chỉ khoa học nghiên cứu đối tƣợng
đó đã trở thành thông lệ. Ở đây, M.Khrápchencô mới chỉ dừng lại ở việc đƣa ra quan
niệm và cái nhìn về bộ môn thi pháp học mà thôi.
Viện sĩ Avêrinxép thì nói: “Thi pháp là hệ thống nguyên tắc sáng tạo của một
tác giả, một trường phái, hay cả một thời đại văn học, tức là những gì mà bất cứ nhà
kết cấu, thi pháp không gian, thời gian, thi pháp ngôn ngữ…
Từ các định nghĩa trên ta thấy thi pháp học chủ yếu là một lĩnh vực nghiên cứu
về đặc trƣng, tổ chức, các phƣơng thức, phƣơng tiện, nguyên tắc làm nên giá trị thẩm
mĩ của văn học trong tính chỉnh thể của văn bản. Thi pháp học chỉ chú ý đến những
Số hóa bởi trung tâm học liệu
10
yếu tố thuộc hình thức tác phẩm nhƣ: hình tƣợng nhân vật, không gian – thời gian,
kết cấu – cốt truyện – điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Nội dung trong một tác phẩm
phải đƣợc suy ra từ hình thức, đó là “hình thức mang tính quan niệm” (Trần Đình
Sử). Phƣơng pháp chủ yếu của thi pháp học là phƣơng pháp hình thức, chúng ta hiểu
phƣơng pháp hình thức là “phương pháp phân tích các khía cạnh hình thức của tác
phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mĩ của nó” (Nguyễn Văn Dân). Dạy
Văn theo hƣớng thi pháp học nghĩa là nghiêng về phân tích hình thức nghệ thuật của
tác phẩm.
Sự phân tích của các khái niệm cuối cùng cũng dẫn đến hai khuynh hƣớng
nghiên cứu quy luật nội tại của một tác phẩm đó là: hình tƣợng thế giới gồm có
không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật và hình tƣợng tác giả. Tác động của hai
yếu tố trên tạo nên điểm nhìn nghệ thuật có tác dụng quy định tất cả mọi điều cơ bản
của cấu trúc tác phẩm.
Vì Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến thuộc thể loại trữ tình nên chúng tôi chỉ
tập trung đi sâu vào nghiên cứu thi pháp học ở khía cạnh hình tƣợng thế giới và hình
tƣợng tác giả chứ không đi vào phân tích điểm nhìn nghệ thuật.
1.2. Một vài đặc trƣng tiêu biểu của thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Văn học trung đại là một giai đoạn lớn trong lịch sử văn học nhân loại và dân
tộc, đồng thời đó cũng là một phạm trù lớn của văn học, bên cạnh văn học cổ đại và
hiện đại. Chính vì vậy đi tìm hiểu thi pháp văn học trung đại cũng là để tìm hiểu thêm
về một thời kì có ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn học dân tộc.
Văn học trung đại đƣợc đặt dấu mốc từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX. Đây là thời
kì văn học có tầm quan trọng đặc biệt góp phần làm nên diện mạo văn chƣơng, tƣ
văn học trung đại bao gồm ba tính chất cơ bản: tính uyên bác và cách điệu hoá cao
độ, tính sùng cổ và tính phi ngã.
1.2.1.1. Tính uyên bác và cách điệu hoá cao độ
Nếu văn học dân gian đƣợc coi là văn chƣơng bình dân thì văn học trung đại lại
đƣợc gọi là văn chƣơng bác học bởi ngƣời sáng tác phải bác học và ngƣời tiếp nhận
cũng phải bác học, đó là những trí thức Hán học tài hoa, những bậc tao nhân mặc
khách. Sáng tác trong môi trƣờng ấy ắt văn chƣơng phải có tính thẩm mĩ, uyên bác
Số hóa bởi trung tâm học liệu
12
cao. Cả ngƣời sáng tác và ngƣời tiếp nhận văn chƣơng đều phải thông thuộc kinh sử,
điển tích, điển cố, phải có vốn thi liệu phong phú đƣợc học tập từ những áng văn bất
hủ của ngƣời xƣa. Văn chƣơng càng uyên bác thì càng có sức hấp dẫn cao.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Hay:
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Văn chƣơng của bậc tao nhân mặc khách thƣờng có tính lí tƣởng hoá nên thế
giới nghệ thuật của các trang văn thời kì này luôn đƣợc các nhà văn cách điệu hoá cao
độ. Hình tƣợng nghệ thuật càng đƣợc cách điệu hoá cao thì càng đẹp. Con ngƣời
trong văn chƣơng phải đẹp một cách lí tƣởng nhƣ tóc mây, mày liễu, mặt hoa, tay
tiên, vóc hạc….đó là sắc đẹp phi thƣờng:
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang,
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Cái tài cũng phải phi thƣờng:
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,
Số hóa bởi trung tâm học liệu
14
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.
(Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)
1.2.1.3. Tính phi ngã
Trong xã hội phong kiến nói chung, văn học trung đại nói riêng, ý thức cá nhân
chƣa có điều kiện phát triển. Con ngƣời đƣợc đánh giá trên cơ sở của tầng lớp, giai
cấp, dòng họ, địa vị xã hội. Con ngƣời trong xã hội chỉ đƣợc phân ra làm hai bậc là
quân tử và tiểu nhân. Nguồn gốc của tính phi ngã này là vì văn học trung đại đƣợc
sản sinh trên cái nền của những quy tắc hết sức nghiêm ngặt trong xã hội chuyên chế
phong kiến. Chính xã hội ấy đã triệt tiêu cái sáng tạo cá nhân của con ngƣời và định
hƣớng họ theo những chuẩn mực nhất định. Tính phi ngã ấy đƣợc thể hiện ở một vài
khía cạnh sau:
Thứ nhất: trong việc sử dụng hình ảnh: Tranh vẽ hay thơ vịnh đều đƣợc sáng tạo
theo một công thức nhất định: tứ quý, tứ linh…tạo vật thì phải là xuân, lan, thu cúc:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao…
(Nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Con ngƣời thì phải là: ngƣ, tiều, canh, mục:
Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn
(Chiều hôm nhớ nhà, Bà huyện Thanh Quan )
Thứ hai: tính phi ngã trong xây dựng nhân vật văn chƣơng. Nhân vật trong các
tác phẩm thƣờng phải là các bậc tài tử, giai nhân nếu không cũng phải là các đấng
Số hóa bởi trung tâm học liệu
15
Thời gian và không gian là hình thức tồn tại của thế giới, của cuộc sống con
ngƣời. Không gì có thể tồn tại ngoài không gian và thời gian. Do vậy, mọi cảm nhận
về tồn tại của con ngƣời đều gắn liền với cảm nhận không gian và thời gian. Con
ngƣời cảm nhận thời gian từ sự thay đổi của chính mình và của thế giới xung quanh.
1.2.2.1. Thời gian nghệ thuật trong thơ trung đại Việt Nam
Điểm nổi bật trong cảm thức thời gian ở thơ ca trung đại đó là vị trí chủ đạo của
thời gian thiên nhiên vũ trụ bất biến tĩnh tại. Bởi vì, khi lấy thiên nhiên làm bản vị,
đạo gia chỉ thấy thiên nhiên vũ trụ là vĩnh hằng, vô hạn, vô thuỷ, vô chung, còn con
ngƣời, muôn vật đều ngắn ngủi, hữu hạn vô nghĩa. Tiêu biểu cho kiểu thời gian này là
thơ Thiền:
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua xuân trước một nhành mai.
(Cáo tật thị chúng, Mãn Giác Thiền Sƣ)
Ở đây có thời gian luân hồi của hoa rụng rồi nở, có thời gian của đời ngƣời
một đi không trở lại.
Mặt khác, thời gian lịch sử trong thơ tƣơng quan với thời gian vũ trụ. Khi nói
tới lịch sử là nói tới sự thay thế triều đại, theo quan niệm thời trung đại, mọi hƣng
vong thành bại đều thuộc mệnh trời, cho nên thời gian lịch sử gắn liền với thời gian
vũ trụ một cách huyền bí. Vũ trụ tuần hoàn cũng kéo theo sự tuần hoàn của lịch sử.
Phạm trù thời gian chỉ đƣợc xác nhận trong các khoảng cách lớn: kim - cổ, xƣa - nay.
Các khoảng cách nghìn năm, vạn năm, gợi ra sự bất biến các khoảng thời gian ngắn
chƣa đƣợc chú ý. Một biểu hiện dễ nhận thấy nhất trong thời gian lịch sử là các tác
giả thƣờng thêm vào những điển tích, điển cố:
Bá Di người rặng thanh là thú
Nhan Tử ta xem ngặt ấy lề
(Thuật hứng, bài 5, Nguyễn Trãi)
Số hóa bởi trung tâm học liệu
17
Một yếu tố nữa là trong văn học trung đại, thời gian con ngƣời đã đƣợc ý thức
Hồng Đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm…
Chọn được đất lành ở thảnh thơi
Lòng quê vui sướng chọn ngày thôi
Có khi lên thẳng đầu non thẳm
Cười lớn âm vang lạnh cả trời
(Ngôn hoài, Không Lộ Thiền Sƣ)
Ở trong bài thơ Thiền của Không Lộ Thiền Sƣ ta bắt gặp những ƣớc mơ lên cao
mang ý vị siêu thoát, đây cũng là đặc trƣng riêng của thơ Thiền.
Ở giai đoạn thƣợng kỳ trung đại, không gian nghệ thuật trong các bài thơ bộc lộ
chí hƣớng là một không gian vũ trụ khoáng đạt, rộng lớn và hoành tráng, mà trong
đó, con ngƣời dù nhỏ bé song vẫn cố gắng vƣơn lên ngang tầm và có khát vọng làm
chủ trời đất, vũ trụ, chinh phục thiên nhiên. Phạm Ngũ Lão trong bài thơ Thuật hoài
đã phóng lớn ngọn giáo của mình cho tƣơng xứng với chiều kích của đất nƣớc:
Hoành sóc giang san cáp kỷ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu
Không gian thiên nhiên là một nơi ẩn mình lý tƣởng của nhiều bậc trí thức thời
trung đại. Chốn quan trƣờng lao xao, nhiều tranh chấp, không thích hợp cho những
bậc quân tử nên họ thƣờng tìm về thiên nhiên, sống cuộc sống dân dã, vui thú điền
viên để giữ tinh thần luôn đƣợc thanh tịnh. Không gian thiên nhiên lúc này không còn
mang cái vẻ bao la, huyền bí nữa mà nó đã trở thành ngƣời bạn thân thiết, tri âm tri
kỷ của thi sĩ:
Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn,
Khách tục không ai bén mảng dần.