Tổ chức dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ trong chương trình ngữ văn trong chương trình ngữ văn 10 trung học phổ thông - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện đề tài này, em đã nhận được sự hướng dẫn

nhiệt tình và chu đáo của cô giáo Phạm Kiều Anh giáo viên tổ Phương
pháp dạy học Ngữ văn và các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn
cùng tập thể các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà
Nội 2. Khoá luận được hoàn thành ngày 10 tháng 05 năm 2007.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phạm Kiều Anh cùng tập thể các
thầy cô giáo trong khoa đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.
Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những
hạn chế, em rất mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô và bạn bè để có thể
hoàn thiện trong quá trình học tập và giảng dạy sau này.

Hà Nội, Ngày 10 tháng 05 năm 2007
Tác giả khoá luận
Nguyễn Thị Thu Hiền

Nguyễn Thị Thu Hiền

29G - Ngữ văn


Khoá luận tốt nghiệp

Lời cam đoan

Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn Th.S Phạm Kiều Anh cùng


THPT

Trung học phổ thông

PCCNNN

Phong cách chức năng ngôn ngữ

Tr

Trang

VD

Ví Dụ

SGK

Sách giáo khoa

Lưu ý: Trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi sử dụng [] và ở trang ghi
hai số thì số đầu là thứ tự sách theo tài liệu tham khảo, còn số sau là trang
trích dẫn. Ví dụ: [6,19] tức là: Cuốn sách số 6, trích ở trang 19. Trong phần
nội dung, có những chỗ chúng tôi chỉ ghi một số thì số đó là thứ tự sách theo
tài liệu tham khảo. Ví dụ: [13]: tức là cuốn sách số 13.

Nguyễn Thị Thu Hiền

29G - Ngữ văn

ngôn ngữ ít được coi trọng. Bản thân nội dung phong cách chức năng ngôn

Nguyễn Thị Thu Hiền

29G - Ngữ văn


Khoá luận tốt nghiệp

ngữ cũng chỉ được thực hiện trong một chùm bài ở SGK lớp 11, với số tiết hạn
chế, chỉ đủ để giáo viên truyền đạt đến học sinh khối lượng kiến thức sơ đẳng
nhất về phong cách ngôn ngữ. Gắn với chương trình Cải cách giáo dục, các
nhà giáo dục cho rằng: để rèn luyện cho học sinh bốn kỹ năng nghe, nói, đọc,
viết thì cần phải chú trọng hơn tới việc dạy học các phong cách chức năng
ngôn ngữ. Bởi nó chính là cơ sở để các em sử dụng ngôn ngữ một cách chuẩn
mực, nhằm đạt hiệu quả giao tiếp nhất định.
Là một giáo viên giảng dạy Ngữ văn trong tương lai, để có thể hướng
dẫn học sinh thấy được sự trong sáng giàu đẹp của tiếng Việt và giúp các em
có kỹ năng kỹ xảo sử dụng tốt tiếng Việt trong giao tiếp hàng ngày, chúng
tôi cho rằng việc nghiên cứu và tìm hiểu phong cách chức năng ngôn ngữ sẽ là
một cơ hội để tìm ra những cách thức rèn luyện các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ
cho học sinh.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài Tổ chức dạy
học các phong cách chức năng ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn 10
THPT.
2. Lịch sử vấn đề

Tìm hiểu các phong cách chức năng ngôn ngữ, chúng tôi tập trung xem
xét quá trình nghiên cứu về các phong cách chức năng ngôn ngữ cụ thể, trong
đó có hai phong cách chức năng ngôn ngữ là phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

nghiên cứu của phong cách học; các phong cách chức năng ngôn ngữ và việc
phân chia chúng. Đồng thời, họ cũng đưa ra khái niệm phong cách chức năng
là: Phong cách chức năng là khuôn mẫu (Strereotype) trong hoạt động lời
nói, hình thành từ những thói quen sử dụng ngôn ngữ có tính chất truyền
thống, tính chất chuẩn mực trong việc xây dựng các lớp văn bản (phát ngôn)
tiêu biểu. [6,19]
Không đồng quan điểm với các tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái
Hoà, tác giả Cù Đình Tú lại cho rằng: Phong cách chức năng là dạng tồn tại
của ngôn ngữ dân tộc biểu thị quy luật lựa chọn sử dụng các phương tiện biểu
hiện tuỳ thuộc vào tổng hợp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như hoàn cảnh giao
tiếp, đối tượng tham dự giao tiếp. [11,45]
Bên cạnh hai công trình tiêu biểu kể trên, nhiều công trình khác cũng đề
cập đến vấn đề này. ở đó, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những hướng phân
chia phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau. Chẳng hạn, tác giả Đinh

Nguyễn Thị Thu Hiền

29G - Ngữ văn


Khoá luận tốt nghiệp

Trọng Lạc chia tiếng Việt ra thành hai phong cách lớn là phong cách khẩu ngữ
và phong cách văn học. Phong cách văn học lại bao gồm: phong cách thư từ;
phong cách ngôn ngữ hành chính; phong cách ngôn ngữ chính luận; phong
cách ngôn ngữ khoa học; phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.[ 5, 285 -298] .
Trong cách phân loại này, chúng tôi thấy rõ xu hướng muốn đồng nhất phong
cách chức năng với dạng lời nói.
Trong khi đó các tác giả: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đìng Tú, Nguyễn
Thái Hoà, lại dựa vào chức năng xã hội của tiếng Việt để chia thành hai loại

hai phong cách chức năng là Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và Phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Từ những thành tựu nghiên cứu về phong cách chức năng ngôn ngữ
chúng tôi tìm hiểu hai phong cách ngôn ngữ là phong cách ngôn ngữ sinh
hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật được triển khai dạy học trong chương
trình SGK Ngữ văn 10 THPT.
4. Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu hai phong cách chức năng ngôn ngữ, chúng
tôi vận dụng vào tổ chức dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ trong
chương trình Ngữ văn 10 THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng, mục đích nghiên cứu, đề tài này cần hướng tới
các nhiệm vụ sau:
Trình bày hệ thống kiến thức cơ bản về hai phong cách chức năng ngôn
ngữ: phong cách chức năng ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách chức năng ngôn
ngữ nghệ thuật.
Trên cơ sở nắm vững những kiến thức đó vận dụng vào tổ chức dạy học
hai phong cách chức năng ngôn ngữ này theo chương trình SGK Ngữ văn 10
THPT.
6. PHương pháp nghiên cứu

Đối với bất kỳ công trình nghiên cứu nào, ở lĩnh vực nào, đối tượng
khám phá càng phức tạp, phong phú bao nhiêu thì càng có nhiều cách thức
tiếp cận bấy nhiêu. Phương pháp tiếp cận đúng đắn, phù hợp sẽ giúp người
nghiên cứu nhanh chóng chiếm lĩnh được đối tượng đạt hiệu quả tốt nhất.

Nguyễn Thị Thu Hiền

Phong cách chức năng ngôn ngữ vốn là một khái niệm vừa phong phú
vừa phức tạp. Ngay cùng một thời điểm nghiên cứu song mỗi nhà nghiên cứu
nhìn nhận nó theo những cách khác nhau. Tuy nhiên, để phục vụ cho việc tìm
hiểu cách tổ chức dạy học các phong cách chức năng ngôn ngữ trong chương
trình Ngữ văn 10 THPT, chúng tôi lựa chọn khái niệm của tác giả Cù Đình Tú.
Ông cho rằng: Phong cách chức năng là dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộc
biểu thị quy luật lựa chọn sử dụng các phương tiện biểu hiện tuỳ thuộc vào
tổng hợp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như: hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mục
đích giao tiếp, đối tượng tham gia giao tiếp [13,45].
Có thể nói, khái niệm này không những chỉ rõ được đặc điểm nội dung
phong cách chức năng ngôn ngữ mà còn xác định rõ các nhân tố cấu thành của
phong cách chức năng ngôn ngữ và mối quan hệ giữa chúng.
1.2. Các phong cách chức năng ngôn ngữ
Trong lịch sử nghiên cứu các phong cách chức năng ngôn ngữ, cho đến
nay, các nhà Ngôn ngữ học hiện đại đã đưa ra rất nhiều loại phong cách chức
năng ngôn ngữ. Tiêu biểu phải kể đến các hướng phân chia sau:
Cùng một tác giả Đinh Trọng Lạc, nhưng ở thời kỳ khác nhau lại có
hướng phân loại phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau. Cụ thể, trong

Nguyễn Thị Thu Hiền

29G - Ngữ văn


Khoá luận tốt nghiệp

cuốn Giáo trình Việt ngữ. (Tập III). Tu từ học [6,285 298]. Theo tác giả:
phong cách chức năng tiếng Việt được chia thành hai bậc. Bậc một chia ra hai
phong cách lớn, là phong cách khẩu ngữ và phong cách văn học. Còn bậc hai
chia thành năm phong cách nhỏ: Phong cách văn học được chia ra: Phong

Khoá luận tốt nghiệp

các quan niệm trên phân chia phong cách chức năng ngôn ngữ thành sáu kiểu:
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (Phong cách ngôn ngữ hội thoại); Phong cách
ngôn ngữ khoa học; Phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ; Phong cách
ngôn ngữ báo; Phong cách ngôn ngữ chính luận và Phong cách ngôn ngữ nghệ
thuật là phù hợp và nó thể hiện rõ tính khoa học.
Tuy nhiên, do phạm vi của đề tài nên trong khóa luận này, chúng tôi tập
trung tìm hiểu trình bày hai phong cách chức năng ngôn ngữ: Phong cách
ngôn ngữ sinh hoạt và Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật .
1.3. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1.3.1. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
1.3.1.1. Khái niệm Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Ngôn ngữ được coi là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người.
Cũng vì vậy khi phân chia các phong cách chức năng ngôn ngữ, các nhà khoa
học đã không quên chức năng này. Bởi thế mà phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
là phong cách luôn được các nhà nghiên cứu đề cập tới. Có thể nói, phong
cách ngôn ngữ sinh hoạt là phong cách ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi và
phổ biến nhất. Để xem xét phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, chúng ta xét ngữ
liệu dưới đây:
Câu chuyện tâm sự giữa đôi bạn thân tại công viên X.
- Cái Nhím xinh lắm mày ạ! Bố nó không cho nó đi đội thuỷ lợi đâu.
- Tại sao thế nhỉ?
- Biết đầu đấy. Con chim đẹp người ta muốn nhốt trong lồng thì sao?
Đoạn đối thoại trên đây thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Nó thuộc
phong cách ngôn ngữ sinh hoạt vì nó thể hiện một nội dung giao tiếp hàng
ngày, một nhu cầu sinh hoạt xã hội của con người. Ngôn ngữ của ngữ liệu
giàu sắc thái biểu cảm, cảm xúc. Đoạn hội thoại có một bối cảnh cụ thể là
công viên X. Ngôn ngữ thể hiện rõ phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ở các
phương diện sau: dùng tiểu từ ạ biểu thị thái độ của người nói mày ạ ( bày

(ví dụ: Lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch nước).
Ngôn ngữ được sử dụng trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt tồn tại cả
hai dạng nói và viết trong đó dạng nói là chủ yếu. Tồn tại dưới dạng nói là
những lời trò chuyện, tâm sự, thăm hỏi, đánh giá tồn tại dưới dạng viết là
những dòng thư, tin nhắn, những dòng lưu niệm, nhật kí

Nguyễn Thị Thu Hiền

29G - Ngữ văn


Khoá luận tốt nghiệp

Cũng như những phong cách chức năng ngôn ngữ khác, phong cách
ngôn ngữ sinh hoạt cũng mang những chức năng riêng như: chức năng giao
tiếp lí trí (cụ thể là trao đổi thông tin, tình cảm), chức năng cảm xúc và chức
năng tạo tiếp (biểu hiện sự chú ý của người nói đến sự hiện diện của người thứ
hai). Khi xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng có nhiều nhu cầu
trao đổi với nhau về những vấn đề phức tạp, trừu tượng của xã hội, của cuộc
sống thì ngôn ngữ sinh hoạt ngày càng phát huy được sức mạnh của mình.
1.3.1.2. Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Muốn thực hiện được chức năng trao đổi cảm xúc giao tiếp trong
cuộc sống hàng ngày, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày phải có được
những đặc trưng riêng của nó. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày với
đặc điểm thiên về những chi tiết riêng, cụ thể, sinh động luôn hướng về việc
bộc lộ rõ rệt những tư tưởng tình cảm, thái độ của con người trong xã hội,
trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, những lời nói chung chung, trừu tượng,
khô khan không thể coi là lời nói hay trong phong cách sinh hoạt. Vậy phong
cách ngôn ngữ sinh hoạt có những đặc trưng nào?
a) Tính cụ thể

b) Tính cảm xúc
Bên cạnh tính cụ thể trong ngôn ngữ, ngôn ngữ trong sinh hoạt giao
tiếp hàng ngày còn có tính cảm xúc. Có thể nói, tính cảm xúc gắn chặt với
tính cụ thể. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt trong đời sống được sử dụng vô
cùng cụ thể, sinh động, truyền đạt những tư tưởng, tình cảm hết sức phong phú
đa dạng của con người gắn với những tình huống giao tiếp cụ thể, muôn hình
muôn vẻ. Đó là, tình cảm, thái độ của người nói, người viết đối với đối tượng
được đề cập, với người nghe, người đọc. Chính thái độ và cảm xúc làm thành
nội dung biểu hiện, bổ sung của người nói giúp người nghe có thể hiểu nhanh
chóng, hiểu sâu sắc nội dung cơ bản và nhất là mục đích, ý nghĩa của lời nói.
Chính nó đem lại cho phong cách ngôn ngữ sinh hoạt sự ý nhị, duyên dáng,
sâu xa, hấp dẫn, thể hiện cách cảm, cách nghĩ của những con người cụ thể.
Chẳng hạn, một bà mẹ mắng con: Mày còn về đây làm gì? Sao không đi nữa
đi. Con với chả cái.
Tính cảm xúc của ngôn ngữ sinh hoạt còn được thể hiện qua việc sử
dụng nhiều ngữ khí từ với nhiều màu sắc tình cảm khác nhau để thực hiện

Nguyễn Thị Thu Hiền

29G - Ngữ văn


Khoá luận tốt nghiệp

chức năng tạo tiếp (đấy, nhỉ, nhé, nào, thôi,), ví dụ: Anh đi đâu đấy? (hỏi
người đang ở trước mặt), hoặc : Tôi chết mất thôi! (với ý than vãn). Mặt khác,
phong cách ngôn ngữ sinh hoạt sử dụng nhiều từ cảm thán biểu thị những sắc
thái, tình cảm, cảm xúc, thái độ khác nhau vốn làm thành nội dung biểu hiện
bổ sung ý nghĩa của lời nói. Nó mang lại cho phong cách này cái ý nhị, duyên
dáng, sâu xa, hấp dẫn. Ví dụ: A! Mẹ đã về kia rồi! (dùng khi reo mừng) để tạo

Trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, lời nói đẹp là lời nói tự nhiên,
sinh động. Trong thực tế giao tiếp hàng ngày, không ai nói giống ai, mỗi
người có một đặc điểm riêng trong lời nói, trong cách diễn đạt. Những nét
riêng tinh tuý ấy dần trở thành cái tinh tuý của phong cách ngôn ngữ sinh
hoạt. Bởi vậy, các nhà văn thường dùng lời nói như một phương tiện để khắc
họa tính cách nhân vật. Chẳng hạn: lời Chí Phèo và lời Bá Kiến trong truyện
ngắn Chí Phèo (Nam Cao) thể hiện rõ tính cách, bản chất của mỗi nhân vật.
- Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế?
Chí Phèo lim dim mắt rên lên:
- Tao chỉ liều chết với bố con mày thôi. Nhưng tao mà chết có khối
thằng sạt nghiệp mà còn rũ tù chưa biết chừng.
Cụ Bá cười nhạt nhưng tiếng cười giòn lắm. Người ta bảo cụ chỉ hơn
người ta ở tiếng cười.
- Cái anh này mới hay!
Ba đặc trưng trên đây của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt biểu hiện rõ
rệt trong đặc điểm ngôn ngữ của phong cách này. Sự biểu hiện này có những
mức độ khác nhau trong từng hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.
1.3.2. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1.3.2.1.Khái niệm Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Không giống như phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ
nghệ thuật thường được sử dụng trong lĩnh vực nghệ thuật. Đó là, thứ ngôn
ngữ được nghệ sĩ gọt giũa, trau chuốt nhằm tạo nên những hình tượng nghệ
thuật. Để làm rõ phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, ta xét ngữ liệu sau:
Trong bài thơ Tràng giang (Huy Cận) có đoạn:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Nguyễn Thị Thu Hiền

hiện, và nó nhất thiết phải tham gia vào việc bộc lộ nội dung tư tưởng nghệ
thuật của tác phẩm.

Nguyễn Thị Thu Hiền

29G - Ngữ văn


Khoá luận tốt nghiệp

Thứ hai là về chức năng: các ngôn ngữ phi nghệ thuật chủ yếu có chức
năng giao tiếp, những phẩm chất thẩm mĩ nếu có cũng chỉ đóng vai trò phụ
thuộc thứ yếu. Còn trong ngôn ngữ nghệ thuật thì chức năng thẩm mĩ xuất
hiện ở bình diện thứ nhất, ngoài ra nó còn có chức năng thông báo, chức năng
trao đổi và chức năng tác động.
Thứ ba là về tính hệ thống : Cả ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi
nghệ thuật đều có tính hệ thống. Song tính hệ thống ở mỗi kiểu phong cách
ngôn ngữ lại khác nhau. Trong ngôn ngữ nghệ thuật, tính hệ thống thể hiện ở
chỗ chức năng thẩm mỹ với những thông số và thước đo gắn với phong cách
của mỗi cá nhân, của từng đặc trưng thể loại tác phẩm, của khuynh hướng
sáng tác. Còn phong cách chức năng của ngôn ngữ phi nghệ thuật dựa trên
tính hệ thống của cấu trúc bên trong ngôn ngữ. Tính hệ thống bị quy định bởi
cấu trúc của trạng thái hiện đại của ngôn ngữ, tính hệ thống gắn bó với sự khu
biệt của xã hội đối với ngôn ngữ.
Thứ tư là về bình diện nghĩa: Ngôn ngữ phi nghệ thuật chỉ có một bình
diện nghĩa. Ngôn ngữ nghệ thuật có hai bình diện nghĩa. Nó có khả năng một
mặt hướng vào hệ thống ngôn ngữ văn hoá với ý nghĩa của các từ, của các
hình thức ngữ pháp và mặt khác hướng vào hệ thống các hình tượng của các
tác phẩm nghệ thuật. Bởi sự phản ánh thế giới trong tác phẩm văn học đi đôi
với kết cấu nghệ thuật, cho nên từ đó nảy sinh thông tin đôi vừa về khách thể

tính cá thể hoá, tính cụ thể hoá.
a) Tính cấu trúc
Tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật được thể hiện ở chỗ: Mỗi văn
bản nghệ thuật tự bản thân nó là thành tố hình thức ngôn ngữ diễn đạt chúng
không những phụ thuộc lẫn nhau mà còn phụ thuộc vào hệ thống chung. Biểu
hiện của tính cấu trúc trong ngôn ngữ nghệ thuật là tính chất theo đó Các yếu
tố ngôn ngữ trong tác phẩm phải gắn bó qua lại với nhau cùng thực hiện
nhiệm vụ chung, phải phù hợp với nhau để giải thích cho nhau nhằm đạt đến
tính nghệ thuật.
Tính cấu trúc trong tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi phải liên kết tất cả các
phương tiện ngôn ngữ hết sức đa dạng tác phẩm thành một chỉnh thể lời nói
nghệ thuật. Cái phạm trù đó theo viện sĩ V.V.Vinôgôrađôp là phạm trù hình
tượng tác giả. Thuật ngữ hình tượng tác giả diễn đạt hai khái niệm gắn bó

Nguyễn Thị Thu Hiền

29G - Ngữ văn


Khoá luận tốt nghiệp

với nhau: thứ nhất đó là người sáng tạo ra thế giới nghệ thuật nhất định được
thể hiện trong tác phẩm. Thứ hai, đó là cấu trúc lời nói yếu tố vốn là trung
tâm tổ chức của tác phẩm nghệ thuật.
Như vậy, tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật là thể hiện ở sự gắn bó
trong một hệ thống của các yếu tố trong ngôn ngữ.
b) Tính hình tượng.
Bên cạnh tính cấu trúc trong ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật còn có tính
hình tượng. Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ
nghệ thuật. Trong ngôn ngữ học, đặc biệt là trong phong cách học, tính hình

bản nghệ thuật bao giờ cũng có những yếu tố có giá trị nghệ thuật bên cạnh
những yếu tố không có giá trị nghệ thuật đó.
Như vậy, tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật được biểu hiện trước
hết ở từ. Hơn nữa, nó còn có trong những đơn vị lớn hơn của ngôn ngữ. Đó là
một thể thống nhất của tạo hình và biểu đạt. Hình tượng là một tín hiệu phức
tạp trong đó xuất hiện với tư cách là bình diện nội dung, có sự biểu đạt mới,
không bị rút gọn lại ở các biểu đạt trước đó.
Ngôn ngữ của tác phẩm nghệ thuật không phải là cái vỏ ngoài của hình
tượng mà là hình thức duy nhất trong đó hình tượng có thể tồn tại được. Trong
việc biểu đạt hình tượng nghệ thuật có hai loại đơn vị: đơn vị ngôn ngữ có sự
biến đổi nội dung khái niệm và đơn vị ngôn ngữ diễn đạt cái đặc trưng chung
được thực tại hoá trong ngữ cảnh. Sự biến đổi nội dung khái niệm và sự thực
tại hoá đặc trưng ngữ nghĩa chung là giai đoạn của một quá trình cải tiến chức
năng thẩm mỹ của các đơn vị ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật.
Như vậy, tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ được thể
hiện qua từ ngữ, qua những phương tiện tu từ, qua biện pháp tu từ, qua ngữ
cảnh hay nói cách khác là qua hình thức ngôn từ mà, còn qua nội dung biểu
đạt của hình thức ngôn từ đó. Nói rộng hơn, tính hình tượng là tính có lí do
nghệ thuật của các tác phẩm
c) Tính cá thể hoá
Nói đến đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật không thể không nói đến
tính cá thể hoá. Tính cá thể hoá của ngôn ngữ nghệ thuật được hiểu là dấu ấn
phong cách tác giả trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Dấu ấn phong cách

Nguyễn Thị Thu Hiền

29G - Ngữ văn


Khoá luận tốt nghiệp


29G - Ngữ văn


Khoá luận tốt nghiệp

người con gái đẹp, nhưng nếu như vẻ đẹp của Thuý Vân được tác giả tả trực
tiếp, toàn diện khuôn mặt:
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
thì khi tả Thuý Kiều, tác giả chủ yếu tập trung vào đôi mắt :
Làn thu thuỷ nét xuân sơn.
Như vậy, Nguyễn Du đã cá thể hoá Thuý Kiều và Thuý Vân.
Như vậy, tính cá thể trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật chính là cái
độc đáo, đặc sắc không lặp lại, cái riêng của tất cả các yếu tố trong sáng tác,
lối nghĩ, ngữ pháp, kết cấu đoạn mạch, thủ pháp tu từ.
d) Ngôn ngữ nghệ thuật có một nét chung nhất, một thuộc tính rộng
nhất là sự cụ thể hoá nghệ thuật hình tượng mà ngôn ngữ phi nghệ thuật
không có nét này, thuộc tính này. Sự cụ thể hoá tác động đến trí tưởng tượng
của người đọc, kích thích người đọc. Tính cụ thể hoá ngôn ngữ nghệ thuật tạo
ra trước mắt người đọc bức tranh vô cùng phong phú, sinh động, các biến cố
hiện lên trong từng giai đoạn, từng vấn đề, từng trạng thái trong sự biến đổi
liên tục. Để làm rõ tính cụ thể hoá của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật chúng
ta xét ngữ liệu dưới đây:
Xập xè én liệng lầu không
Có lan mặt đất rêu phong dấu giầy
Nguyễn Du
Trong câu thơ của Nguyễn Du, từ Xập xè vừa gợi ra hình ảnh thị giác
vừa gợi ra biểu tượng âm thanh, không chỉ miêu tả dáng bay của con chim và
tiếng lè xè của đôi cánh, còn gợi ra sự vắng lặng của ngôi nhà cũ trong tâm
trạng chơ vơ của chàng Kim. Như vậy, ta nói ngôn ngữ có tính cụ thể hoá.

những đặc trưng phân biệt lời nói nghệ thuật với lời nói phi nghệ thuật.

Nguyễn Thị Thu Hiền

29G - Ngữ văn


Trích đoạn Tiết 2 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Chương 3 Thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status