Các phong cách chức năng ngôn ngữ Tiếng Việt - Pdf 27

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Các phong cách chức năng ngôn ngữ Tiếng Việt
I. VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI
1. Ý nghĩa
Ðứng về mặt ngôn ngữ học thì việc phân loại và miêu tả các phong cách
chức năng ngôn ngữ tiếng Việt là yêu cầu lí thuyết đặt ra cho bất kì ngôn ngữ
nào đã và đang ở thời kì phát triển. Trong giao tiếp, phong cách chức năng ngôn
ngữ luôn giữ vai trò môi giới. Tất cả những nét phong phú và sâu sắc, thâm thuý
và tinh tế, tất cả những khả năng biến hoá của tiếng Việt đều thể hiện trong
phong cách và qua phong cách. Tất cả những vấn đề quan trọng như Giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt, Chuẩn hoá ngôn ngữ, phát triển và nâng cao tiếng
Việt văn hoá... đều phải được giải quyết trong sự gắn bó mật thiết với phong
cách. Mọi sự non kém, thiếu sót về ngôn ngữ đều sẽ bộc lộ khi sử dụng các
phong cách chức năng ngôn ngữ.
Ðối với nhà trường, sự phân loại và miêu tả các PC sẽ tạo ra những cơ sở
khoa học về tiếng Việt để biên soạn những tài liệu học tập, giảng dạy hoàn chỉnh
về tiếng Việt. Sự phân loại và miêu tả các phong cách có ý nghĩa về nhiều mặt: ý
nghĩa xã hội, ý nghĩa lí luận và ý nghĩa sư phạm.
2. Các cách phân loại PCNN
Việc phân loại các phong cách chức năng là một vấn đề đã được đặt ra từ
thời Mĩ từ pháp cổ đại với lược đồ bánh xe phong cách của Virgile. Riêng ở Việt
Nam vấn đề này chỉ mới thực sự quan tâm từ khi có các giáo trình về phong
cách học. Cụ thể là trong quyển Giáo trình Việt ngữ tập III của Ðinh Trọng Lạc
xuất bản năm 1964. Từ đó đến nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cách
phân loại các PCCNTV. Và, thực tế vấn đề này vẫn chưa có tiếng nói chung cả
về số lượng các phong cách và cả về thuật ngữ.. Có thể khảo sát hai quan điểm
về cách phân loại qua hai bộ giáo trình Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng
Việt của giáo sư Cù Ðình Tú và Phong cách học tiếng Việt của giáo sư Ðinh
Trọng Lạc (chủ biên ) và Nguyễn Thái Hoà.
1- GS Cù Ðình Tú phân loại dựa trên sự đối lập giữa PC khẩu ngữ tự


còn thiếu một phong cách CNNN đang tồn tại thực tế hiện nay trong tiếng Việt ,
đó là PC thông tấn ( Ở đây chúng tôi dùng thuật ngữ thông tấn thay cho thuật
ngữ báo chí ). Cách thứ hai lại không có PC ngôn ngữ văn chương trong hệ
thống PCCNNN tiếng Việt . Ðiều này không đảm bảo tính hệ thống của
PCCNNN tiếng Việt và mâu thuẫn về khái niệm phong cách đã được đề cập ở
phần phân loại của tác giả. Giáo trình này phân loại các PCCNNN tiếng Việt ra
làm 6 loại. Ðó là : PC khẩu ngữ, PC khoa học, PC thông tấn, PC chính luận, PC
hành chính và PC văn chương.
II- MIÊU TẢ CÁC PCCN NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT
1. Phong cách khẩu ngữ
a- Khái niệm:
Phong cách KN là phong cách được dùng trong giao tiếp sinh hoạt hàng
ngày, thuộc hoàn cảnh giao tiếp không mang tính nghi thức. Giao tiếp ở đây

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thường với tư cách cá nhân nhằm để trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình với
người thân, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, đồng hành,...
PCKN có các dạng thể hiện như : chuyện trò, nhật kí, thư từ. Trong đó
chuyện trò thuộc hình thức hội thoại, nhật kí thuộc hình thức văn bản tự thoại và
thư từ thuộc hình thức văn bản cách thoại. Tuy nhiên, có thể thấy ở phong cách
này, dạng nói là dạng giao tiếp chủ yếu. Ở dạng này tất cả những nét riêng trong
sự thể hiện như: đặc trưng, đặc điểm ngôn ngữ được bộc lộ rõ và hết sức tiêu
biểu. Có điều cần phải chú ý là không phải dạng nói nào cũng thuộc PCKN. Chỉ
có những lời nói ( chuyện trò) trong giao tiếp mang tính không nghi thức mới
thuộc PCKN. Ở PC này người ta còn chia làm hai dạng: PCKN văn hoá và
PCKN thông tục. Ở mỗi dạng này lại có sự thể hiện riêng cả về đặc trưng cũng
như về đặc điểm ngôn ngữ. Do đó, mỗi PCCNNN không phải là một khuôn
mẫu khô cứng.
b- Chức năng và đặc trưng:
1- Chức năng : PCKN có các chức năng : trao đổi tư tưởng tình cảm và

Tôi nhắc đến tên mấy nhân vật kháng chiến cũ của Pháp, còn đáng tiêu
biểu bằng mấy Ðờ Gôn. Anh lắc đầu:
- Bằng thế nào được Hồ Chí Minh!
Và anh tiếp:
- Ông Cụ làm những việc nó cừ quá, đến nỗi tôi cứ cho rằng dù dân mình
có tồi đi nữa, Ông Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường. Những cú như
cú Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 thì đến chính thằng Mĩ cũng phải lắc đầu: nó
cho rằng không thể nào bịp Ông Già nổi. Thằng Pháp thì nghĩa lí gì? Bệt lắm rồi.
Không có thằng Mĩ xui thì làm gì Pháp dám trở mặt phản Hiệp định mồng 6
tháng 3? Mình cho nó như vậy là đã phúc đời nhà nó rồi. Ðáng lẽ nó phải làm
chằng chằng lấy chứ? (Nam Cao)
2.3- Tính cảm xúc: Ðặc trưng này gắn chặt với tính cụ thể. Khi giao tiếp ở
phong cách KN người ta luôn luôn bộc lộ thái độ tư tưởng, tình cảm của mình
đối với đối tượng được nói đến. Những cách diễn đạt đầy màu sắc tình cảm đã
nảy sinh trực tiếp từ những tình huống cụ thể trong thực tế đời sống muôn màu
muôn vẻ. Chính thái độ, tình cảm, cảm xúc làm thành nội dung biểu hiện bổ
sung của lời nói, giúp người nghe có thể hiểu nhanh chóng, hiểu sâu sắc nội

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dung cơ bản và nhất là mục đích, ý nghĩa của lời nói.
Ví dụ: Anh Mịch nhăn nhó nói:
- Lạy ông, ông làm phúc tha cho con, mai con phải đi làm trừ nợ cho ông
Nghị, kẻo ông ấy đánh chết.
Ông Lí cau mặt, lắc đầu, giơ roi song to bằng ngón chân cái lên trời, dậm
dọa:
- Kệ mày, theo lệnh quan, tao chiếu sổ đinh, thì lần này đến lượt mày rồi.
- Cắn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy, ông mà bắt con đi, thì ông Nghị
ghét con, cả nhà con khổ.
- Thì mày hẹn làm ngày khác với ông ấy, không được à?
- Ðối với ông Nghị, con là chỗ đầy tớ, con sợ lắm. Con không dám nói sai

đảnh, nhí nha nhí nhảnh, tầm bậy tầm bạ, lí la lí lắt... Có khi sử dụng kiểu láy
chen như:
-Làm ăn như tao thật là đáng chết, khách đến thì ít mà khứa đến thì nhiều.
+ Hay dùng cách nói tắt. Ví dụ : Nhân khẩu ( khẩu; chán nản ( nản; bi
quanàbi.
+ Sử dụng những kết hợp không có quy tắc. Ví dụ: Ðẹp ( đẹp mê hồn,
đẹp mê li rụng rốn, đẹp tàn canh giá lạnh, đẹp ve kêu, đẹp bá chấy...
+ Thường dùng những từ tượng thanh, tượng hình.
+ Thường dùng cách nói ví von, so sánh, chuyển nghĩa ẩn dụ hoặc hoán
dụ.
3- Cú pháp:
- Trong tổng số những cấu trúc cú pháp được sử dụng ở PC này, câu đơn
chiếm tỉ lệ lớn và có tần suất cao. Ðặc biệt, câu gọi tên ( như: câu cảm thán, câu
chào hỏi, ứng xử...) được sử dụng nhiều.
- Ðặc điểm nổi bật ở PC này là tồn tại hai xu hướng trái ngược nhau. Một
mặt, khẩu ngữ dùng kết cấu tỉnh lược, có khi tỉnh lược đến mức tối đa nói bằng
sự để trống hoàn toàn, mặt khác, dùng các kết cấu cú pháp có xen những yếu tố
dư, lặp lại, có khi dư thừa một cách dài dòng lủng củng.
Ðây là một ví dụ về cách nói có xen nhiều yếu tố dư:
Bác Phô gái, dịu dàng, đặt cành cau lên bàn, ngồi xổm ở xó cửa, gãi tai,
nói với ông Lí:

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Lạy thầy, nhà con thì chưa cất cơn, mấy lại sợ thầy mắng chửi, nên không
dám đến kêu. Lạy thầy, quyền phép trong tay thầy, thầy tha cho nhà con, đừng bắt
nhà con đi xem đá bóng vội.
- Ồ, việc quan không phải như chuyện đàn bà của các chị!
- Thì lạy thầy, thế này, làng ta thì đông, thầy cắt ai không được. Tại nhà
con ốm yếu, nên xin thầy hoãn cho đến lượt sau.
- Ốm gần chết cũng phải đi. Lệnh quan như thế. Ai cũng lấy cớ ốm yếu mà

môn sâu. Khác với PCKN, PC này chỉ tồn tại chủ yếu ở môi trường của những
người làm khoa học ( ngoại trừ dạng phổ cập khoa học).
PC khoa học có ba biến thể: PC khoa học chuyên sâu, PC khoa học giáo
khoa và PC khoa học phổ cập.
Khác với PC khẩu ngữ, ở PC này dạng viết là tiêu biểu.
b- Chức năng và đặc trưng:
1- Chức năng: PC khoa học có hai chức năng là: thông báo và chứng
minh. Một vài giáo trình trước đây cho rằng PCKH có chức năng chủ yếu là
thông báo [14],[15]. Quan niệm trên tỏ ra không bao quát hết bản chất của PC
này. Chính chức năng chứng minh tạo nên sự khu biệt giữa PCKH với các PC
khác. Văn bản thuộc PC này không chỉ thuần thông báo các sự kiện, sự vật tồn
tại trong thực tế khách quan mà còn phải chứng minh, làm sáng tỏ ý nghĩa của
các sự kiện ấy.
2- Ðặc trưng: PC khoa học có 3 đặc trưng :
2.1- Tính trừu tượng- khái quát: Mục đích của khoa học là phát hiện ra
các quy luật tồn tại trong các sự vật, hiện tượng nên phải thông qua trừu tượng
hoá, khái quát hoá khi nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan. Trừu tượng
hoá chính là con đường của nhận thức lí tính giúp ta thoát khỏi những nhận biết
lẻ tẻ, rời rạc ở giai đoạn cảm tính. Ví dụ , để có khái niệm PCCNNN, người ta
đã phải trừu tượng hoá tất cả các văn bản, các dạng lời nói trong quá trình hoạt
động ngôn giao.
2.2- Tính logic: Cách diễn đạt của PC khoa học phải biểu hiện năng lực
tổng hợp của trí tuệ, phải tuân theo quy tắc chặt chẽ từ tư duy logic hình thức
đến tư duy logic biện chứng. Các nội dung ý tưởng khoa học của người viết phải
được sắp xếp trong mối quan hệ logic, tránh trùng lặp hoặc mâu thuẫn; những

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
khái quát, suy lí khoa học không được phủ định lại những tài liệu (cứ liệu) làm
cơ sở cho nó...
2.3- Tính chính xác- khách quan: PC khoa học không được phép tạo ra sự

chúng tôi ) với ý nghĩa khái quát được dùng nhiều.
Ví dụ: Và như vậy, ta lại trở về với một cách hiểu xuất phát của từ phong
cách mà không chỉ là ngôn ngữ hay hoạt động ngôn ngữ nghệ thuật hay phi nghệ
thuật v.v... đó là: những đặc trưng hoạt động bằng lời nói được lặp đi lặp lại ở
một người nào đó, ở một môi trường ngôn ngữ hay một cộng đồng có khả năng
khu biệt với những kiểu biểu đạt ngôn ngữ khác; nói cách khác nó là tổng số của
những dấu hiệu khu biệt của các sự kiện lời nói trong giao tiếp, phản ánh một
cấu trúc bên trong và một cơ chế hoạt động ngôn ngữ. [5, 130]
3- Cú pháp:
- PC khoa học sử dụng các hình thức câu hoàn chỉnh, kết cấu câu chặt
chẽ, rõ ràng để đảm bảo yêu cầu chính xác, một nghĩa và tránh cách hiểu nước
đôi nước ba.
- Các phát ngôn hàm chứa nhiều lập luận khoa học, thể hiện chất lượng tư
duy logic cao.
- Câu điều kiện-hệ quả và câu ghép được sử dụng nhiều. Nội dung của các
phát ngôn đều minh xác. Sự liên hệ giữa các vế trong câu và giữa các phát ngôn
với nhau thể hiện những luận cứ khoa học chặt chẽ. Vì vậy, độ dư thừa trong các
phát ngôn nói chung là ít, mà cũng có thể nói là ít nhất, so với các phát ngôn
khác.
- Văn phong KH thường sử dụng những cấu trúc câu khuyết chủ ngữ,
hoặc câu có chủ ngữ không xác định.
3. Phong cách thông tấn
a. Khái niệm:
PC thông tấn là PC được dùng trong lĩnh vực thông tin của xã hội về tất
cả những vấn đề thời sự .( Thông tấn : có nghĩa là thu thập và biên tập tin tức để
cung cấp cho các nơi.)
Báo chí, nhất là báo hàng ngày, là nơi đăng tải các loại tin tức, kiến thức
có tính tổng hợp và cập nhật hoá, trong đó hầu như hiện diện đủ tất cả các loại
phong cách như : khoa học, hành chính, chính luận, văn chương. Do đó, không


hay các đài phát thanh, truyền hình. Ðiều này đòi hỏi ở hai mặt: nội dung và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status