Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
* Chương trình SGK hiện nay có kiểu cấu trúc riêng: Các VB văn học
được sắp xếp theo kiểu VB và cụm thể loại có kết hợp tiến trình lịch sử văn
học. Việc sắp xếp theo cấu trúc thể loại có tác dụng giúp cho HS hiểu kĩ, hiểu
sâu từ VB đến TP. Điều này qui định về PPDH. Nhưng những vấn đề xung
quanh việc dạy và học văn vẫn chưa được tường minh, chưa được làm rõ, đặc
biệt là vấn đề dạy văn theo loại thể. DH theo loại thể là phải xác định được
đặc trưng của loại thể sau đó hướng dẫn HS đọc hiểu thông qua đặc trưng loại
thể đó. Tìm hiểu theo loại thể là công việc rất khó khăn vì vậy mà các công
việc đó phải được tường minh, làm rõ, phải sắp xếp thành HĐ cụ thể theo
lôgíc HS mới có thể làm được. Vậy làm thế nào để xây dựng được qui trình
dạy đọc hiểu VB theo thể loại là một vấn đề cấp thiết. Đây chính là cách làm
của DH theo hướng CN.
Mặt khác, trong thời đại ngày nay CNTT phát triển như vũ bão. Những
thành tựu kì diệu của nó đã tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống. CNTT_
công cụ đa năng thể hiện trình độ của thời đại, lĩnh vực nào khước từ nó thì
lĩnh vực đó sẽ lạc hậu và tụt lùi. Đặc biệt, đối với giáo dục đào tạo “CNTT là
chìa khóa vạn năng để mở cánh cửa tri thức” vì thế mà những thành tựu tiên
tiến của nó đều phải dành cho giáo dục, phải ưu tiên cho giáo dục. DH theo
hướng CN trở thành nhu cầu bức thiết và đặc biệt DH theo hướng loại thể
không thể không quan tâm đến CN.
* DH phải tích cực hóa HĐ hoc tập của HS, tức là phải tăng cường HĐ
cho người học, tìm HĐ cho người học và HĐ đó phải cụ thể, lôgíc, có qui
trình. Nhưng hiện nay việc DH ở phổ thông còn nhiều bất cập: khâu dạy của
thầy còn có những hạn chế như thầy giáo chưa xác định được rõ ràng công
việc của mình. Còn về phía HS, yêu cầu HS tự học nhưng lại chưa xây dựng
Chặng hai: Được thể hiện qua các sách thiết kế. Nhưng các sách thiết
kế này vẫn chưa có sự thống nhất. Chẳng hạn thiết kế còn có những tên gọi
khác
2
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
nhau: Giáo án, bài giảng... Những tên gọi đó gắn với công việc của người dạy,
vì quyền lợi được truyền đạt và được đánh giá năng lực của GV. Trong
phương pháp DH mới, lấy HS làm trung tâm, toàn bộ quá trình dạy học
hướng vào nhu cầu, khả năng, lợi ích của HS... Vì vậy mà giáo án phải dành
cho người học, phải là bản thiết kế các hoạt động học tập xuất phát từ nhiệm
vụ học của HS. Từ đó việc đổi mới giáo án, bài giảng... sang thiết kế bài học
sẽ là cần thiết trong DH tích cực.
Vấn đề mới của đề tài cũng chính là việc đi tìm các HĐ học tập cho HS
dựa vào đặc trưng thể loại và dựa trên lí thuyết về CN DH.
3. Mục đích nghiên cứu
Nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy và học văn trong trường phổ
thông.
Góp phần thực hiện hóa những định hướng đổi mới trong SGK Ngữ
văn thành hiện thực
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề về HĐ học tập của HS trong giờ
văn với định hướng đọc hiểu VB theo thể loại.
Phạm vi nghiên cứu: Tìm HĐ học tập của HS để HS đọc hiểu VB theo
thể loại truyện thơ Nôm.
- Chương 3: Thử nghiệm
4
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC
NGỮ VĂN THEO HƯỚNG CÔNG NGHỆ
1.1.
Cơ sở lí luận
1.1.1. Quan niệm về DH nói chung
Quan niệm về DH: DH không phải là nhằm cung cấp thông tin mà là
nhằm hướng dẫn cho người học cách tìm kiến thức, cách hệ thống hóa kiến
thức, xử lí kiến thức, vận dụng kiến thức, phát triển kiến thức.
Quan niệm về học: Không phải chỉ là học trên lớp, ở nhà mà học
thường xuyên, học cả đời, học mọi lúc, mọi nơi. Học không phải là tiếp nhận,
ghi nhớ thông tin kiến thức mà học theo Liên Hợp Quốc có 4 yêu cầu: “Học
để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”.
Quan niệm về quá trình DH: Là một quá trình HĐ phối hợp tương tác
giữa thầy và trò. Nó được tiến hành một cách có tổ chức, có mục đích, có kế
hoạch. Dưới sự chỉ đạo của thầy, trò tự giác, tích cực và tự lực nắm vững
kiến thức khoa học, hình thành những kĩ năng kĩ xảo cần thiết, phát triển
năng lực nhận thức, năng lực HĐ. Trên cơ sở đó, hình thành thế giới quan
chuyển tri thức và năng lực của nhân loại thành tri thức và năng lực cho mỗi
HS.
1.1.4. Khái niệm về CN DH
Theo nghĩa hẹp: “CN DH có nghĩa là việc áp dụng các hệ thống kĩ
thuật và các phương tiện hỗ trợ để cải tiến quá trình học tập của con người.”
(theo Collier và nhiều cộng tác viên).
Theo nghĩa rộng: Tổ chức giáo dục của UNESCO, ở hội thảo tại
Giơnevơ từ ngày 10 đến ngày 16 tháng 5/1970 đã định nghĩa “CN DH là khoa
học về giáo dục, nó xác lập các nguyên tắc hợp lí của công tác DH và những
điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình DH, cũng như xác lập các
phương pháp và các phương tiện có kết quả nhất để đạt mục đích DH đề ra,
đồng thời tiết kiệm được sức lực của thầy và trò”.
6
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
1.1.5. Quan niệm về DH theo hướng CN
DH theo hướng CN là kiểu DH khách quan hóa từng việc của thầy,
từng việc của trò, đảm bảo hiệu quả tất yếu như mục đích đề ra. Đây là kiểu
DH kiểm soát được quá trình tạo ra sản phẩm, là kiểu DH tích hợp giữa dạy
và học, tích hợp cả lí thuyết và thực hành luyện tập, vừa cung cấp cho HS tri
thức vừa phát triển năng lực trí tuệ cho HS.
DH theo hướng CN là DH có kĩ thuật, DH theo qui trình khác xa với
kiểu DH theo kinh nghiệm vốn chỉ phù hợp với từng người. Vì thế nó có thể
chuyển giao kĩ thuật, chuyển giao qui trình đến với mọi GV. Nếu thực hiện
đầy đủ nghiêm ngặt mọi công đoạn, mọi thao tác như trong qui trình thì giờ
học sẽ đạt kết quả cao.
những đề xuất của Skinơ đã giúp cho DH được chương trình hóa và nó bước
đầu hiện thực hóa ý tưởng về CN DH.
Tuy nhiên những việc làm của Skinơ còn có hạn chế là chưa đề cao vai
trò của người học, người học chưa có sự chủ động, sáng tạo. Chỉ khi
Vưgôtxki đưa ra lí thuyết HĐ thì những hạn chế của Skinơ mới được sửa đổi,
bổ sung và góp phần hoàn thiện CN DH.
b) Lí thuyết HĐ
Lí thuyết HĐ do Vưgôtxki (1896_1934), nhà khoa học người Nga khởi
xướng. Người chứng minh cho lí thuyết này là Gaperin. Lí thuyết HĐ đã phát
triển từ chủ nghĩa Mác ở 2 nội dung:
Chủ nghĩa Mác nói rằng: loài người được sinh ra từ tiến hóa và từ lao
động, lao động làm ra loài người. Lý thuyết HĐ phát triển cho rằng: Lao động
còn tiếp tục làm ra từng cá thể người. Gaperin phát biểu: Con người không
những mang tính loài mà mỗi cá thể con người vẫn tự sinh ra mình bằng
chính lao động của mình. Khi đã thành con người rồi, con người vẫn tự hoàn
thiện mình bằng chính lao động của mình.
Từ đây trong DH quán triệt quan điểm: Người học tự làm lấy cái gì thì
biết cái đấy. Muốn có tri thức, kĩ năng thì phải tự làm lấy không có ai làm
thay. Đây là quan niệm DH đúng đắn_ Quan niệm DH tích cực.
8
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Quan niệm của Mác: Tất cả những gì có trong ý thức con người đều
được chuyển từ hiện thực vào và được cải tạo ở đó; toàn bộ tinh thần, ý thức,
năng lực trong mỗi con người là được chuyển từ bên ngoài vào bên trong.
Trái với duy tâm: “ý thức có trước, hiện thực có sau”…và Gaperin đã tìm
hiểu được tác giả, hoàn cảnh sáng tác, hoàn cảnh cảm hứng… ngoài ra cần
cung cấp cho HS hiểu các thành ngữ, điển tích, điển cố, từ Hán Việt, các hình
ảnh ước lệ tượng trưng…
Lí thuyết tiếp nhận còn đặt ra vấn đề tầm đón của độc giả. Tầm đón
chính là năng lực, vốn sống, vốn kinh nghiệm của người đọc. Tầm đón có bao
nhiêu thì người đọc tiếp nhận TP ở mức bấy nhiêu. Do đó trong DH văn phải
hiểu được tầm đón của HS và nâng dần tầm đón đó lên.
1.1.7. Đổi mới DH Ngữ văn
Đổi mới DH hiện nay xác định Ngữ văn là môn học công cụ (khác với
vị trí đã được xác định trước đó là môn học nghệ thuật và môn khoa học xã
hội nhân văn), và hướng tới hình thành cho HS Phương pháp đọc hiểu các
kiểu, loại VB (nhất là cácVB ở dạng thức sáng tạo nghệ thuật trong và cả
ngoài SGK). Do nhấn mạnh tính chất công cụ cho nên môn Ngữ văn trực tiếp
liên quan đến phát triển tư duy. Năng lực tư duy trong Ngữ văn chính là năng
lực tiếp nhận và tạo lập VB. Tập trung vào phát triển hai năng lực đó, chương
trình Ngữ văn được sắp xếp theo kiểu VB và thể loại chứ không chỉ theo tiến
trình lịch sử. Các VB bao giờ cũng được tổ chức theo một thể loại nhất định.
Vì vậy mà để hiểu được TP chúng ta phải đi tìm hiểu từ đặc trưng thể loại,
xem thể loại đó có những đặc trưng nào sau đó đi xây dựng qui trình đọc hiểu
theo thể loại.
“Tích cực hóa” trong dạy học. Đây là một quan điểm hiện đại có giá trị
phương pháp toàn diện và tuyệt đối hơn so với quan điểm DH “Lấy HS làm
trung tâm” hoặc “DH hướng vào HS”. DH tích cực đề cao cả hai chủ thể, ở đó
các năng lực tự học của HS kết hợp với khả năng tổ chức hướng dẫn của GV
sẽ tạo nhiều cơ hội nhất cho HĐ chiếm lĩnh tri thức và kĩ năng của bài học.
Năng lực tự học của mỗi HS không phải là một khái niệm trừu tượng mơ hồ,
mà luôn được bộc lộ trong các HĐ HT bằng các hình thức HT tương ứng nào
10
thức và năng lực của dân tộc và nhân loại thành tri thức cho mỗi người học.
Và dạy văn là chuyển những tri thức và năng lực văn của dân tộc và nhân loại
kết tinh trong TP văn chương thành tri thức, năng lực văn cho mỗi người học.
11
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Để chuyển những tri thức cho người học thì phải có qui trình. Qui trình
dạy văn chính là con đường để tổ chức cho HS làm ra văn. Qui trình đó phải
do thầy giáo thiết kế, HS thi công cho nên phải phù hợp với trình độ, năng
lực, nhu cầu tâm lý của HS.
Trung tâm Giảng Võ còn quan niệm: Trong DH cần phân biệt VB và
TP. VB là phần ta đọc được, là cái có thể nhìn thấy. TP là cái chỉ hình dung
trong trí tưởng tượng của mỗi người đọc, trong tưởng tượng của nhà văn. Từ
đó trung tâm đưa ra nhiệm vụ của việc dạy văn là: Từ VB phải làm xuất hiện
TP của tác giả, từ TP của tác giả chuyển vào mỗi HS theo qui trình.
1.2.1. Qui trình CN dạy văn ở trung tâm Giảng Võ
(được thực hiện qua 5 bước và phân ra 5 lớp tiểu học, mỗi lớp hoàn thiện
một bước).
- Bước một: Đọc VB, giải nghĩa ngôn từ.
- Bước hai: Đọc VB sau đó hình dung tưởng tượng để đạt tới nhiệm vụ
dựng lại hình tượng.
- Bước ba: Đọc VB, hình dung tưởng tượng để phân tích hình tượng
(Nếu là TP trữ tình thì phân tích hình tượng tâm tư. Nếu là TP tự sự thì phân
tích hình tượng nhân vật)
- Bước bốn: Tìm chủ đề của VB
- Bước năm: Xác định tư tưởng của bài văn, ý của tác giả, ý của bạn
chức DH nào.
Thứ ba, dạy văn ở trung tâm CN còn có phần đơn giản một chiều: Đọc
VB→ giải nghĩa ngôn từ→dựng hình tượng→khái quát chủ đề→đánh giá
bình luận. Và thời kì trung tâm thực nghiệm DH kiểu qui trình CN, ở tiểu học
còn có dạy văn nhưng sau năm 1994 thay sách tiểu học, Văn sát nhập với
13
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
tiếng Việt do đó nghiên cứu của trung tâm về qui trình dạy văn không còn
được ứng dụng nữa.
Thứ tư: DH theo hướng CN của lí thuyết HĐ, người học bị kiểm soát
chặt chẽ, không có cơ hội để sáng tạo và phát triển cá tính.
Như vậy qua thực tiễn DH ở trung tâm CN Giảng Võ và thực tiễn DH
văn theo hướng CN hiện nay còn một số hạn chế cần phải khắc phục.Với đề
tài nghiên cứu này dựa trên những lí luận về dạy học, dạy văn, xuất phát từ
HĐ học tập của HS và xuất phát từ đặc trưng thể loại nhằm khắc phục những
hạn chế và tìm ra PPDH tối ưu để hướng dẫn HS tiếp nhận văn tốt hơn.
Kết luận: Từ những lí luận về DH, lí luận về DH theo hướng CN, từ
những đổi mới về DH văn và từ thực tiễn DH theo hướng CN hiện nay,
tác giả lấy đó làm cơ sở, nền tảng để thực hiện đề tài “Dạy học thể loại
truyện thơ Nôm ở trường phổ thông theo hướng công nghệ”.
14
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
15
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Vậy ta thấy, truyện Nôm Đường luật có thể ra đời trước truyện Nôm lục bát
nhưng nó không phải là hình thái đầu tiên của thể loại truyện Nôm. Nguyễn
Lộc và Kiều Thu Hoạch đều có ý kiến cho rằng: Tiền thân của truyện Nôm là
từ văn học dân gian. Một số truyện Nôm bình dân được viết dựa vào các
“truyện cũ”, “tích cũ”, các truyện đời xưa, vì vậy mà nó gần với các truyện
cổ tích. Ví dụ: có truyện cổ tích “Tấm Cám” và truyện Nôm “Tấm Cám”,
truyện cổ tích “Thạch Sanh” và truyện Nôm “Thạch Sanh”…Một số truyện
Nôm bác học thì mượn các “truyện Cũ”, “tích cũ” của tiểu thuyết chương hồi
Trung Hoa. Tất cả những truyện này được các tác giả nhận thức lại trên bối
cảnh thực tế của tình hình lịch sử xã hội nước ta nửa cuối TK XVIII, nửa đầu
TK XIX, và được diễn ca lại bằng thơ lục bát. Nhưng đặc điểm của truyện thơ
Nôm được coi như một thể loại văn học, bởi nó diễn ca truyện cổ tích nhưng
không đồng nhất với truyện cổ tích, nó diễn ca truyện cổ tích chương hồi
Trung Hoa nhưng không phải tiểu thuyết chương hồi. Đối với truyện cổ tích
vốn chỉ kể sự việc thì nó mở rộng nội dung kể sang tả cảnh, tả tình, tả ngôn
ngữ nhân vật.
Khi xét về nguồn gốc và lịch sử phát triển của truyện Nôm, tác giả Kiều
Thu Hoạch đã khẳng định : Thời kì định hình của thể loại truyện Nôm không
sớm hơn TK XVII, và sau đó từ đầu TK XVIII là thời kì nở rộ và phát triển
liên tục cho đến đầu TK XIX. Tuy nhiên nếu nói đến thời kì manh nha thì
cũng không loại trừ khả năng truyện Nôm đã có thể hình thành từ TK XVI.
Như vậy xét về mặt xã hội_ lịch sử, quá trình nở rộ và phát triển của
thể loại truyện Nôm cũng đồng thời là quá trình suy vong của chế độ phong
kiến Việt Nam. Và như vậy, nói rằng truyện Nôm là sản phẩm của thời kì
2.2 Xác định đặc điểm thể loại
Điều đầu tiên chúng ta phải khẳng định khi tiếp xúc với truyện Nôm là:
Truyện thơ Nôm thuộc thể loại tự sự. chính vì vậy mà nó mang đầy đủ các
đặc trưng của thể loại tự sự (của truyện) như cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ.
Nhưng bên cạnh đó ta biết Nguyễn Du viết “Truyện Kiều” xuất phát từ quan
điểm “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” nên TP không chỉ mang giá
17
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
trị hiện thực mà qua đây tác giả còn bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình vì vậy
mà nó mang tính trữ tình rất cao.
2.2.1.Đặc trưng của thể loại tự sự
Tự sự là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác
là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại TP văn học. TP tự sự
phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian,
thời gian, qua các sự kiên, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người. Thông
qua TP tự sự nhà văn thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình.
Phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi
con người làm cho TP tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một cái
gì đó. Cho nên TP tự sự bao giờ cũng có cốt truyện, nhân vật, lời kể.
a) Cốt truyện
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ
thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành
một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của TP văn học
thuộc thể loại tự sự. [8; tr 99]
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Cốt truyện là hệ thống sự kiện, là nòng
cấu trúc của thể loại truyện cổ tích, tức là cấu trúc theo mô hình “kết thúc có
hậu” như giới khoa học lâu nay đã thừa nhận. Đó là mô hình Gặp gỡ_ Tai
biến_ Đoàn tụ mà ta thường thấy hầu hết trong các truyện Nôm. Mở đầu
truyện bao giờ cũng là cảnh trai gái gặp gỡ và hẹn ước; sau đó họ gặp những
trắc trở làm cho hai người phải chia li; rồi cuối cùng lại được cùng nhau đoàn
tụ trong hạnh phúc gia đình êm ấm. Chính cái mô hình này đã chi phối toàn
bộ sự phát triển của các tình tiết cũng như tính cách của nhân vật trong truyện,
bởi vậy các tình tiết dù có phát triển và diễn biến éo le, ly kỳ, phức tạp đến
đâu cũng vẫn không vượt ra khỏi khuôn khổ cái mô hình cốt lõi này. Ví dụ:
Nhân vật Phạm Công trong “Phạm Công Cúc Hoa” sau khi thi đỗ trạng
nguyên, bị Ngụy vương ép gả công chúa cho chàng. Phạm Công từ chối và bị
đày sang Hung Nô. Tại Hung Nô cũng bị ép lấy công chúa, chàng từ chối và
phải chịu hình phạt nặng nề: chặt tay, khoét mắt, rứt mày, xé tai, đục răng,…
Ngọc Hoàng thương tình đã sai Chư tướng hóa phép cho Phạm Công được
19
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
lành lặn. Sau đó Phạm Công đến Đăng Châu, thi đỗ và cũng bị Thiệu Vương
ép gả công chúa, chàng từ chối và bị bỏ vào vạc dầu, nhờ có công chúa xin hộ
nên chàng mới được tha về gặp lại Cúc Hoa_người vợ yêu quý. Nhưng rồi
Cúc Hoa chết khi mới 30 tuổi, đúng lúc ấy Phạm Công nhận lệnh phải đi đánh
giặc. Vì chưa kịp làm ma vợ, chàng phải mang cả thi thể vợ theo và cõng con
ra nơi chiến địa. Tướng giặc cảm đức độ của Phạm Công liền rút binh về
nước. Hồn Cúc Hoa hiện lên khuyên Phạm Công phải lấy Tào Thị, sau khi lấy
Tào Thị, Phạm Công lại đi nhận chức quan mới, Tào Thị ở nhà hành hạ hai
đứa con. Cuối cùng Tào Thị là kẻ bạc ác nên bị Thiên Lôi đánh chết, Phạm
Phần lớn các truyện Nôm bác học được viết trên cơ sở có sẵn của văn
học Trung Quốc. “Truyện Kiều” là TP được viết dựa trên “Kim Vân Kiều
truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân. Mặc dù được sáng tác dựa trên cốt truyện
của văn học Trung Quốc nhưng “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là thành công
xuất sắc. Nếu như “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân là TP
bình thường trong làng văn học thì “Truyện Kiều” của Nguyễn Du được tái
tạo thành kiệt tác. (Ông đã lược bỏ những yếu tố hoang đường, kỳ ảo, những
chi tiết rườm rà và chỉ giữ lại những sự kiện chính, những chi tiết sâu sắc nhất
để tạo nên một cốt truyện ngắn gọn, tổ chức chặt chẽ).
* Cốt truyện “Truyện Kiều”
Cốt truyện của “Truyện Kiều” cũng giống như những truyện Nôm khác
là gồm ba phần. Phần thứ nhất là “gặp gỡ - đính ước”: Ở phần này tác giả kể
về gia đình viên ngoại họ Vương, ba chị em Thúy Kiều đi tảo mộ gặp Kim
Trọng – bạn đồng môn của Vương Quan, “Người quốc sắc kẻ thiên tà – Tình
trong như đã mặt ngoài còn e” Kim Trọng và Thúy Kiều gặp gỡ đính ước thề
non hẹn biển. Phần thứ hai “gia biến – lưu lạc”: gia đình Thúy Kiều bị nạn,
Kiều bán mình chuộc cha, qua mười lăm năm đoạn trường lưu lạc, nếm đủ vị
cay đắng của cuộc đời “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”; Phần ba là phần
“đoàn tụ”: cuối cùng Kiều được đoàn tụ cùng gia đình, gặp lại người xưa
nhưng đã đổi “Tình cầm sắt cũng là duyên bạn bầy”.
Khi nói về cốt truyyện “Truỵện Kiều”, Trần Đình Sử lại có ý kiến cho
rằng: cốt truyện “Truyện Kiều” khác hẳn mô hình “Gặp gỡ - Tai biến – Đoàn
21
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
tụ”. Và ông đã giải thích nghệ thuật tiểu thuyết Trung Quốc bắt đầu tách khỏi
Chuyện Kim Trọng tìm Kiều và đón nàng về.
13)
Chuyện Kim– Kiều tái hợp.
22
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Cách phân chia trên đây cho thấy “Truyện Kiều” là một chuỗi chuyện,
khác hẳn truyện cổ tích chỉ có một chuyện. Hơn nữa trong mỗi chuyện nhỏ ở
trên của “Truyện Kiều” lại có thể bao gồm nhiều chuyện nhỏ hơn nữa. Ví dụ
như chuyện du xuân bao gồm chuyện gặp Đạm Tiên, chuyện nằm mộng Đạm
Tiên, họa thơ hội Đoạn trường.
Đặc sắc của tự sự trong “Truyện Kiều” là tác giả có ý thức kể rành
mạch từng chuyện, mỗi chuyện đều có mở, kết, có cao trào, làm cho người
đọc dễ theo dõi (đây là điều mà không phải truyện Nôm nào cũng làm được.
Các truyện như “Tống Trân- Cúc Hoa”, “Phạm Tải- Ngọc Hoa” …chỉ nhằm
kể chuyện, không chú ý tả cảnh tả tình). Ví dụ: Chuyện du xuân bắt đầu từ
cảnh mùa xuân:
“Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.
Và kết thúc bằng cảnh Kiều băn khoăn về tương lai, số phận của mình:
“Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng,
Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình”.
Đỉnh điểm của đoạn này là giấc mơ về Đạm Tiên, nhưng thực ra đây không
Rồi Kiều suy nghĩ về hai cuộc gặp gỡ coi như là thắt nút, làm thơ ngụ tình,
ngủ thiếp đi. Đạm Tiên xuất hiện, đưa mười bài thơ để họa vần, mẹ thức dậy
kể cho mẹ nghe, mẹ an ủi, nhưng Kiều lại khóc thầm.
Ta thấy mỗi truyện, tức là một sự kiện đều được kể một cách hoàn
chỉnh từ đầu đến cuối, từ cảnh đến tình, khiến người đọc được hình dung rõ
rệt, khúc chiết. Đó là những sự kiện dệt nên “Truyện Kiều”, là tế bào của
“Truyện Kiều”.
Mặc dù Trần Đình Sử khẳng định cốt truyện “Truyện Kiều” khác mô
hình cốt truyện: Gặp gỡ- Tai biến- Đoàn tụ. Nhưng chúng vẫn có mối liên hệ
với nhau, chẳng hạn chúng ta có thể dựa vào ba biến cố: Gặp gỡ- Tai biếnĐoàn tụ để tóm tắt cốt truyện, tìm hiểu cụ thể, chi tiết từng chuyện trong một
biến cố. Ví dụ ở phần gặp gỡ có các chuyện: chuyện du xuân, gặp Đạm Tiên,
24
Bùi Thị Thảo K31B Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Kim Trọng, tối về bâng khuâng và chuyện Kim– Kiều gặp nhau, thề hẹn
chung tình…
Một vấn đề nữa khi bàn về cốt truyện “Truyện Kiều” đó là về mô hình
kết thúc có hậu. Kết thúc có hậu trong “Truyện Kiều” có điểm khác các truyện
Nôm bình dân, đó là các ý kiến đồng nhất cho rằng: cách kết thúc có hậu
trong “Truyện Kiều” là chưa thỏa đáng, chưa hợp lôgic. Ý kiến của Đặng
Thanh Lê: “riêng ở Truỵện Kiều màn “kết thúc có hậu” có phần vượt khỏi
khuôn khổ cổ truyền. Nguyễn Du không có đôi cánh lãng mạn của nàng tiên
huyền diệu đưa cao lương mĩ vị thay thế cơm hẩm cá ôi... “Truyện Kiều”
không có cái kết cấu bình dị nhưng đầy ý nghĩa lạc quan chiến đấu của một
số truyện Nôm chịu ảnh hưởng của văn học dân gian như “Phạm Tải - Ngọc
Hoa”, “Thạch Sanh”, “Tống Trân- Cúc Hoa”…Nhạc khúc cuối cùng của kiệt