Hành vi ngôn ngữ hỏi trong hội thoại ở một số truyện ngắn của nam cao - Pdf 31

GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

Mục lục
Phần mở đầu

1
3

1. Lý do chọn đề tài

3

2. Lịch sử vấn đề

3

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

6

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

6

5. Phương pháp nghiên cứu

7

6. Cấu trúc luận văn

9
9
9
10
11
12
12
12
13
14

Mục lục

Nam Cao
Chương 2: Hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp trong

16

hội thoại ở một số truyện ngắn của nam cao

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

1


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

1. Hiểu như thế nào về HVNNHTT


2. Biểu hiện của HVNNHGT trong hội thoại ở một số truyện ngắn
của Nam Cao
2.1. HVNNHGT có hiệu lực chào
2.2. HVNNHGT có hiệu lực yêu cầu
2.3. HVNNHGT có hiệu lực bác bỏ
2.4. HVNNHGT có hiệu lực phê phán
2.5. HVNNHGT có hiệu lực đe doạ
2.6. HVNNHGT có hiệu lực phản ánh sự ngạc nhiên
2.7.HVNNHGT có hiệu lực khuyên nhủ
2.8. HVNNHGT có hiệu lực chê
2.9. HVNNHGT có hiệu lực khẳng định
2.10. HVNNHGT có hiệu lực phủ định

35
35
36
37
39
40
41
43
44
45
47

Phần kết luận

49


Việc nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ nói chung và hành vi ngôn ngữ
hỏi nói riêng là một trong những nội dung cơ bản của Ngữ dụng học. Đã có
nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện, đó là :
Đại cương ngôn ngữ học Tập 2, Ngữ dụng học NXB Giáo Dục
của tác giả Đỗ Hữu Châu
Dụng học việt ngữ Tập 1 Nguyễn Thiện Giáp.
Ngữ dụng học Tập 1 Nguyễn Đức Dân.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

3


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

Những năm gần đây xuất hiện khá nhiều luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ,
những bài viết đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ bàn về vấn đề hành vi ngôn ngữ
hỏi. Cụ thể :
*Tác giả Lê Đông trong luận án Phó tiến sĩ khoa học với đề tài: Ngữ
nghĩa, ngữ dụng, câu hỏi chính danh đã phân tích những bình diện cơ bản
của câu hỏi và mối quan hệ thống nhất giữa hỏi và trả lời; đồng thời coi tiền
giả định và cái chưa biết, chưa rõ như là cái trục ngữ nghĩa, nội dung cơ bản
của câu hỏi. Mặt khác tác giả cũng đi sâu phân tích các thông tin Ngữ dụng bổ
trợ thường gặp của câu hỏi tiếng Việt trong giao tiếp.
*Tác giả Nguyễn Thị Lương trong luận án Phó tiến sĩ khoa học Tiểu từ
tình thái dứt câu dùng để hỏi và việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ trong tiếng
Việt đã chỉ ra:
- Hành vi hỏi biểu thị bằng tiểu từ tình thái dứt câu là hành vi ở lời

4 năm 2000 lại bàn về các kiểu câu hỏi: Câu hỏi lựa chọn hiển ngôn, hàm ẩn
và câu hỏi không lựa chọn.
* Tác giả Nguyễn Chí Hoà thì đi tìm hiểu sự tương tác lẫn nhau giữa
phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trên bình diện giao tiếp đăng trên tạp chí
ngôn ngữ số 1 năm 1993 đã chỉ ra: Phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trên
bình diện giao tiếp : Phát ngôn hỏi sự kiện đầy đủ và sự kiện bộ phận , phát
ngôn hỏi tình thái đầy đủ và tình thái bộ phận.
* Tác giả Bùi Minh Toán có bài viết tìm hiểu Từ loại tiếng Việt và khả
năng thực hiện hành vi hỏi đăng trên Tạp chí ngôn ngữ số 2 năm 1996. ở
đây tác giả đã chỉ ra trong tiếng Việt có từ loại có chức năng chuyên biệt dùng
để hỏi và có từ loại không có chức năng chuyên biệt dùng để hỏi mà có chức
năng khác.
* Tác giả Phạm Thị Thu Vân trong khoá luận tốt nghiệp năm 2005 đã
tìm hiểu:Tìm hiểu chức năng của câu hỏi trong một số văn bản văn xuôi
nghệ thuật. Tác giả đã đi vào lí giải các khía cạnh: Câu hỏi được nhà văn lựa
chọn, sử dụng nhằm thực hiện hành động ngôn ngữ nào? chúng có quan hệ
như thế nào đối với nội dung nghệ thuật của tác phẩm? và câu hỏi có quan hệ
thế nào đối với người sử dụng ? nhằm chỉ ra :
- Câu hỏi với chức năng tổ chức văn bản, đoạn văn bản trong văn xuôi
nghệ thuật.
- Chức năng của câu hỏi trong việc thực hiện các hành động ngôn ngữ
theo dụng ý của nhà văn.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

5


Khoá luận tốt nghiệp


7. Lang rận

2. Trẻ con không được ăn thịt chó

8. Một bữa no

3. Chí phèo

9. Truyện tình

4. Lão Hạc

10. Tư cách mõ

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

6


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

5. Một truyện xúvơnia

11. Đón khách

6. Nhỏ nhen

12. Rình trộm

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

7


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

Phần nội dung
Chương 1 : cơ sở lí thuyết
1. Hành vi ngôn ngữ và phân loại hành vi ngôn ngữ .
1.1. Hành vi ngôn ngữ .
Austin là người đặt nền tảng cho lí thuyết hành vi ngôn ngữ . Theo ông :
khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hành
động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ để nói cho người nghe , tác động
vào người nghe nhằm thực hiện mục đích nào đó và tương ứng với nó là sự
hưởng ứng, cộng tác của người nghe[3-88]
1.2. Phân loại hành vi ngôn ngữ.
Austin chia hành vi ngôn ngữ thành 3 loại:
Hành vi tạo lời
Hành vi mượn lời
Hành vi ở lời
Trong đó hành vi ở lời là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Ngữ dụng
học.
2. Hành vi ở lời và phân loại hành vi ở lời.
2.1. Khái niệm
Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng ,
hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây
ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ỏ người nhận [3-89]

đây là những hành vi ngôn ngữ dùng không đúng với đíều kiện sử dụng của
chúng.
Dựa vào đích ở lời người ta chia hành vi ngôn ngữ thành những loại sau:
Hành vi ngôn ngữ rào đón, hành vi ngôn ngữ hỏi, ra lệnh, yêu cầu, khuyên bảo
hứa hẹn, mời, khen, chê, thề,.Khóa luận này, chúng tôi tìm hiểu về hành vi
ngôn ngữ hỏi.
3. Hành vi ngôn ngữ hỏi.
3.1. Hiểu như thế nào về hành vi ngôn ngữ hỏi .
Hiện nay chưa có một khái niệm chung thống nhất về hành vi ngôn ngữ
hỏi. Có rất nhiều ý kiến, quan niệm được đưa ra xung quanh loại hành vi ngôn
ngữ này. Qua tham khảo, tìm hiểu quan niệm của nhiều tác giả, chúng tôi cho
rằng: Hành vi ngôn ngữ hỏi là hành vi ngôn ngữ có hiệu lực ở lời là hỏi với

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

9


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

mục đích thúc giục người nghe thông báo một điều gì đó mà người nói chưa
rõ hoặc được người nói nêu ra như một yêu cầu cần phải làm sáng tỏ.
3.2. Đặc điểm của hành vi ngôn ngữ hỏi.
Hành vi ngôn ngữ hỏi là hành vi ngôn ngữ thuộc nhóm hành vi biểu cảm
(tức nhóm hành vi bộc lộ tình cảm) nên nó cũng mang những đặc điểm của
hành vi ở lời nói chung. Nó có: Biểu thức ngữ vi, kết cấu lõi,nội dung mở
rộng, và thỏa mãn đầy đủ 4 điều kiện. Ngoài ra hành vi ngôn ngữ hỏi còn có
đặc điểm:

ở phát ngôn này có hình thức là hỏi nhưng hiệu lực lại không phải là để hỏi
mà có hiệu lực đe doạ, từ chối. Bá Kiến từ chối việc cho Chí phèo tiền.
- Theo Searle: Mỗi hành vi ở lời đòi hỏi phải có một hệ những điều
kiện , ông còn gọi là quy tắc để cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả đúng với
đích của nó[3-116]. Với 4 điều kiện mà Searle đưa ra thì mỗi điều kiện lại
được biểu hiện khác nhau tùy theo từng phạm trù, từng loại, từng hành vi ở lời
cụ thể. Hành vi ngôn ngữ hỏi với tư cách là một hành vi ở lời cũng cần phải
thỏa mãn những điều kiện sau:
+Điều kiện nội dung mệnh đề: Bao gồm những câu hỏi (mệnh đề) và
những câu hỏi khép kín (hàm mệnh đề).
+Điều kiện căn bản: Người hỏi không biết lời giải đáp
Cả đối với người hỏi, cả đối với người trả lời không
chắc chắn rằng bất kể thế nào người trả lời cũng cung cấp thông tin ngay lúc
trò chuyện nếu người hỏi không hỏi.
+ Điều kiện chân thành: Người hỏi thực sự mong muốn có được thông
tin về những vấn đề đã đưa ra để hỏi.
+ Điều kiện chuẩn bị: Nhằm cố gắng nhận được thông tin từ người trả
lời.
+ Ngoài 4 điều kiện trên, hành vi ngôn ngữ hỏi còn phải thỏa mãn điều
kiện : mối quan hệ liên cá nhân giữa người hỏi và người được hỏi. Đó là
mối quan hệ liên cá nhân giữa những người tham gia hội thoại . Điều kiện này
chi phối tới việc sử dụng ngôn ngữ của các nhân vật khi giao tiếp.
3.3. Phân loại hành vi ngôn ngữ hỏi.
Hành vi ngôn ngữ hỏi được chia thành hai loại: Hành vi ngôn ngữ hỏi
trực tiếp và hành vi hỏi gián tiếp.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

11


Hội thoại gồm có: song thoại, tam thoại và đa thoại(Trong đó song
thoại là điển hình).
Hội thoại diễn ra theo sự vận động: Trao lời-đáp lời và sự tương tác.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

12


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

Hội thoại là một hoạt động có đích diễn tiến theo những quy tắc nhất
định. Có 3 quy tắc quan trọng chi phối đến sự thành công hay thất bại của một
cuộc thoại,đó là:
- Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời.
- Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại.
- Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân phép lịch sự.
Vì vậy bất cứ ai muốn tham gia hội thoại bằng lời một cách thành thực cũng
phải tôn trọng 3 quy tắc trên.
4.3. Cấu trúc hội thoại.
Theo trường phái lí thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và Pháp thì hội thoại là
một tổ chức tôn ti như một đơn vị cú pháp bao gồm các đơn vị sau:
Đơn vị đơn thoại: Tham thoại, hành vi ngôn ngữ.
Đơn vị lưỡng thoại: Cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại.
*Sự giống và khác nhau giữa hội thoại đời thường và hội thoại trong văn
học.
- Giống nhau: Đều có các nhân vật tham gia hội thoại.
Đều diễn ra dưới hình thức đối thoại.

ngữ trong sáng tác của Nam Cao, mà chỉ đi vào tìm hiểu hành vi ngôn ngữ hỏi
trong hội thoại ở một số truyện ngắn của ông. Qua khảo sát 12 tác phẩm của
Nam Cao,chúng tôi thấy hành vi ngôn ngữ hỏi xuất hiện với tần số rất lớn,
trong cả đối thoại và độc thoại.
Đối thoại : Là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau [8336]
Độc thoại : Là nói một mình trái với đối thoại [8-338] độc thoại là hiện
tượng đối thoại có một nhân vật nhưng có sự phân đôi nhân cách: nhân cách
nói và nhân cách nghe.[3-201]
VD8 : Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con
chó vàng của Lão.Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây
(Lão Hạc)
Đó là dòng độc thoại nội tâm của ông Giáo, ông Giáo nói với Lão Hạc nhưng
là nói cho mình nghe về lí do Lão bán con chó vàng. Trong dòng độc thoại
của ông giáo đã có sự phân đôi nhân cách, nhân cách nói và nhân cách nghe.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

14


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

*Tóm lại :
Hành vi ngôn ngữ hỏi trong hội thoại qua một số truyện ngắn của Nam
Cao xuất hiện cả trong đối thoại và độc thoại, xuất hiện cả trong ngôn ngữ
nhân vật và ngôn ngữ tác giả, với hình thức hỏi trực tiếp và gián tiếp. Phải nói
rằng, thông qua hành vi ngôn ngữ hỏi nội dung vấn đề được làm sáng tỏ, đặc
điểm, tính cách của nhân vật trở nên sống động. Qua đó người đọc thấy được

mình muốn biết nên hỏi nhằm mục đích khai thác thông tin và hướng đến nội
dung toàn thể của hành vi trả lời.
VD9: SP1 : - Cháu ăn cơm chưa?
SP2 :- Cháu ăn rồi ạ.
ở cặp thoại này Sp1 thực hiện hành vi hỏi trực tiếp với đích hướng tới là khai
thác thông tin mà mình hoàn toàn chưa biết. Hành vi hỏi của Sp1 đã nhận
được hành vi trả lời từ Sp2. Như vậy mục đích của Sp1 đã thực hiện được.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

16


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD : Khuất Thị Lan

VD10: SP1: -Em còn bị sốt nữa không ?
SP2: - Em đỡ rồi ạ.
Trong cặp thoại này SP1 đã biết SP2 bị sốt nhưng không biết đã đỡ hay chưa
nên thực hiện HVNNHTT khai thác thông tin một cách chính xác về tình
trạng sức khoẻ của SP2. Qua hành vi trả lời của SP2 thì SP1 đã thoả mãn được
mục đích giao tiếp của mình.
- HVNNHTT là hành vi ngôn ngữ được sử dụng phổ biến không chỉ
trong giao tiếp hàng ngày mà còn được các nhà văn sáng tạo một cách linh
hoạt trong các sáng tác của mình. Vậy HVNNHTT được biểu hiện như thế nào
trong hội thoại ở một số truyện ngắn của nhà văn Nam Cao? Chương này
chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu vấn đề này.
2. Biểu hiện của HVNNHTT trong hội thoại ở một số truyện ngắn của
Nam Cao.

kêu cụ một việc ạ. Như vậy giữa hành vi hỏi và hành vi trả lời có sự tương
đồng về hình thức thể hiện và ở đây rõ ràng người hỏi đã đạt được mục đích
giao tiếp của mình .
VD13: Tôi:- Anh định kết như thế nào ?
Lưu:- Như sự đã xảy ra, bởi vì truyện này là truyện thật
(Truyện tình)
Nhân vật Tôi thực hiện hành vi hỏi một cách trực tiếp với câu hỏi đầy đủ
:Anh//định kết như thế nào? Thông tin mà Tôi cần biết là bạn mình kết thúc
truyện ngắn như thế nào? Đáp lại hành vi hỏi của bạn, Lưu đã trả lời đúng vào
câu hỏi. Như thế mục đích của người hỏi đã đạt được .
Tương tự còn nhiều dẫn chứng tiêu biểu cho cách thức sử dụng này
nhưng chúng tôi không thể trích dẫn tất cả trong luận văn mà chỉ đưa ra một
số dẫn chứng tiêu biểu để thấy được một dạng biểu hiện hình thức của hành vi
ngôn ngữ hỏi.
2.2. HVNNHTT khai thác thông tin qua câu hỏi rút gọn.
Câu hỏi rút gọn là câu hỏi không có đầy đủ các phần theo cấu trúc ngữ
pháp.
Theo thống kê chúng tôi thu được 27/118 HVNNHTT khai thác thông
tin qua câu hỏi rút gọn .
Câu hỏi rút gọn không chỉ dùng để khai thác thông tin mà còn thể hiện
mối quan hệ giữa các nhân vật trong giao tiếp. Ngoài ra còn thể hiện thái độ
của các nhân vật khi tham gia giao tiếp.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

18


GVHD : Khuất Thị Lan


Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

19


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

2.3. Hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp khai thác thông tin qua câu hỏi đảo
trật tự chủ vị.
Như chúng ta đã biết, trong tiếng Việt câu thường được sắp xếp theo trật
tự: CN/ VN Tuy nhiên, tuỳ vào hoàn cảnh giao tiếp mà người nói có thể
thay đổi trật tự thông thường này để đạt được mục đích giao tiếp nhất định.
Qua thống kê, chúng tôi đã thu được 10/118 HVNNHTT khai thác thông tin
qua hình thức câu hỏi đảo trật tự chủ vị.
VD16 : Trong truyện Nghèo thằng Cu con trai chị Chuột đói quá
không có gì ăn, thấy bu nó đang nấu nồi chè trên bếp lâu quá nó hỏi :
Thằng cu : - Sắp chín chưa, bu?
Chị Chuột :- (chép miệng): Thôi đây, chín chả chín thì đừng, bắc mẹ nó
ra cho chúng mày ăn không có chúng mày làm tội cũng chết.
(Nghèo)
ở đây câu hỏi mà thằng cu hỏi mẹ theo đúng trật tự sẽ phải là :
- Thưa bu sắp chín chưa ạ?
Việc đảo vị trí vị ngữ lên trước chủ ngữ nhằm nhấn mạnh vào đối tượng
được nói tới. ở đây đối tượng mà thằng cu hướng tới không phải là mẹ nó mà
là nồi chè trên bếp. Vì vậy, để nhấn mạnh thông tin về đối tượng tác giả đã
đưa vị ngữ lên trước chủ ngữ .
Có thể nói chính sự thấu hiểu, sự cảm thông xót xa trước cái đói khổ
của người lao động đã giúp ngòi bút Nam Cao lựa chọn được cách diễn đạt

2.4. HVNNHTT khai thác thông tin qua câu hỏi lựa chọn hiển ngôn.
Câu hỏi lựa chọn hiển ngôn là câu hỏi mà trong nội dung mệnh đề
của nó có khả năng lựa chọn được biểu hiện trên bề mặt của câu.[5 - 34]
Câu hỏi lựa chọn hiển ngôn được thể hiện qua hai hình thức:
+ Câu hỏi được cấu tạo: Cókhông?; đãchưa?; (có) phải không?
+ Câu hỏi có từ: Hay, hay là
2.4.1. Câu hỏi cấu tạo theo cấu trúc cókhông?; (có) phải không?
- Câu hỏi cókhông?: Là câu hỏi đưa ra một nội dung mệnh đề và
buộc người được hỏi trả lời bằng cách lựa chọn có hoặc không.
Qua thống kê, chúng tôi thu được 5/118 HVHTT qua cấu tạo:
cókhông?
VD18: Lang Rận : - Bếp có rỗi không?
Mụ Lợi : - Rỗi.
(Lang Rận)
Lang Rận muốn nhờ bếp nấu cơm nên đã thực hiện hành vi hỏi trực tiếp
qua câu hỏi lựa chọn: Có rỗi không? Phản hồi câu hỏi của Lang Rận, mụ Lợi

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

21


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

đã thực hiện hành vi trả lời bằng cách lựa chọn rỗi tức là câu hỏi và câu trả
lời đều tường minh, dễ hiểu.
Câu hỏi (có) phải không? Là câu hỏi người hỏi đưa ra nội dung
mệnh đề nhằm nhấn mạnh vào vấn đề mình đưa ra với mục đích tìm


Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

22


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

thật hoặc mua dối. Người hỏi đã nhận được câu trả lời trực tiếp và như vậy
đã được mục đích của mình.
VD21: Bà Đồ :- Nước được rồi đấy. Có pha gì hay không?
Ông Đồ :- Đợi xem sao đã chứ.
(Đón khách)
Bà Đồ hỏi trực tiếp ông Đồ có pha gì hay không? Ông Đồ đã phản hồi lại bằng
câu trả lời: Đợi xem thế nào đã. Câu trả lời của ông Đồ đã không trực tiếp
lựa chọn có hay không mà đưa ra câu trả lời ngầm ý là không.
-Hay là về cơ bản giống như hay. Ngoài ra nó còn biểu thị điều
sắp nêu ra là một khả năng mà người nói chưa thể khẳng định, đang còn hồ
nghi. Hoặc nó biểu thị điều sắp nêu ra là một giải pháp người nói nghĩ là nên
nhưng không khẳng định mà muốn biết ý kiến của người đối thoại.
VD22: Cụ Tiên Chỉ: - Hay là ta cho tìm anh ấy đến dỗ anh ấy xem sao?
(Tư cách mõ)
Hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp của cụ Tiên Chỉ biểu thị nội dung mà cụ đưa ra
là một giải pháp theo ý kiến của cụ. Nó không mang tính khẳng định mà ngầm
ý thăm dò. Như vậy, mục đích của người thực hiện hành vi hỏi là tham khảo ý
kiến mọi người về việc: Dỗ anh cu Lộ làm mõ và hành vi hỏi này đã được đáp
trả bằng thực tế: Anh cu Lộ trở thành mõ làng.
2.5. HVNNHTT khai thác thông tin qua ngữ điệu hỏi.

(Chí phèo)
Trong cặp thoại giữa Chí Phèo và Bá Kiến, Bá Kiến đã thực hiện hành
vi hỏi đối với Chí Phèo: Thế thì anh cần gì?. Bá Kiến hỏi nhằm khai thác
thông tin mà ông ta chưa biết về mong muốn và ý định của Chí Phèo. Theo lẽ
thường Bá Kiến có thể hỏi Chí Phèo: Mày cần gì? Câu hỏi đầy đủ thành phần
và bao quát được mục đích của người hỏi. Nhưng ở đây Nam Cao đã sử dụng
ngữ điệu cao và có điểm nhấn ở đầu câu. Nó là sự nối tiếp với ý của câu trước
đồng thời nhấn mạnh vào câu hỏi. Nó thể hiện tính cách, thái độ, mục đích
của người nói. Đó là thái độ bực mình, khó chịu của Bá Kiến. Ngoài ra nó còn
thể hiện sự nóng lòng muốn biết thông tin từ Chí Phèo. Với cách hỏi của mình
Bá Kiến đã nhanh chóng đạt được mục đích.
Qua những ví dụ trên, chúng ta thấy rằng ngữ điệu có vai trò quan trọng
trong việc hỗ trợ thể hiện mục đích và mong muốn thu nhận thông tin của
người hỏi. Ngữ điệu còn góp phần tạo nên sự gần gũi họăc gián cách giữa
những người tham gia giao tiếp.

Vũ Thị Mến Lớp K29C Ngữ Văn

24


GVHD : Khuất Thị Lan

Khoá luận tốt nghiệp

2.6. HVNNHTT khai thác thông tin qua từ nghi vấn.
Trong tiếng Việt có một hệ thống từ ngữ có chức năng cơ bản là để hỏi.
Chúng họp thành một khối riêng gọi là các từ nghi vấn. Có thể chia làm hai
loại từ nghi vấn
- Từ nghi vấn độc lập: Là các từ có thể tự mình tạo nên câu hỏi tối thiểu




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status