Hiệu quả tu từ của các biến thể ngữ âm trong thơ lục bát tố hữu - Pdf 31

Khãa luËn tèt nghiÖp
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

2

2. Lịch sử vấn đề

3

3. Mục đích nghiên cứu của đề tài

8

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

8

5. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

8

6. Phương pháp nghiên cứu

9

7. Đóng góp của khoá luận

9


24

2.1. Bảng tóm tắt kết quả thống kê, phân loại

24

2.2. Phân tích kết quả thống kê, phân loại

26

2.2.1. Biến thể ngữ âm do thay đổi vị trí gieo vần

26

2.2.2. Biến thể ngữ âm do thay đổi cách phối thanh

35

2.2.3. Biến thể ngữ âm do thay đổi cách ngắt nhịp

40

2.2.4. Biến thể ngữ âm do thay đổi số tiếng

44

2.2.4. Kết hợp nhiều yếu tố biến thể

47

phẩm. Các yếu tố biến thể được sử dụng rất phổ biến trong thơ lục bát và đã
phát huy tối đa hiệu quả nghệ thuật của lời thơ. Các yếu tố đó đã chuyển tải
được những tình cảm, cảm xúc của tác giả, làm cho lời thơ giàu hình ảnh và
tính biểu cảm. Đồng thời, sử dụng các yếu tố biến thể trong thơ lục bát còn
khẳng định cá tính sáng tạo của nhà thơ.
Vì vậy, khi nhắc đến sáng tạo nghệ thuật trong thơ lục bát chúng ta
không thể không nhắc đến vai trò của các yếu tố biến thể ngữ âm.
1.2. Tố Hữu là một trong những tác gia lớn của nền văn học Việt Nam.
Thơ Tố Hữu không chỉ là “bài hát” về những lẽ sống lớn, là “tiếng ca vui” của
một thời đại vẻ vang anh hùng mà còn là niềm đau, là nỗi buồn thấm thía
trước những đau thương mất mát.
Trong suốt vài thập kỉ qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một hiện tượng,
một đối tượng nghiên cứu lớn của giới nghiên cứu, phê bình. Các nhà nghiên
cứu, phê bình như: Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ,

NguyÔn ThÞ H­¬ng

2

K31C – Ng÷ V¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp
Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, … đã có
những đóng góp rất quan trọng về nhiều mặt khi tìm hiểu thơ Tố Hữu. Các
nhà nghiên cứu, phê bình đều thống nhất đi đến một kết luận chung đó là:
“Thơ Tố Hữu là tiếng thơ của thời đại”.
Trong công trình nghiên cứu “Thơ Tố Hữu”, tác giả Lê Đình Kỵ đã
khẳng định: “Tố Hữu đã giữ được hiện đại ngay trong hình thức biểu hiện
tưởng là cổ điển nhất”. Các tác giả trong cuốn “Tố Hữu, về tác gia, tác phẩm”

- “Thơ Tố Hữu”, Lê Đình Kỵ (1979)
- “Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí”,
Nguyễn Văn Hạnh (1985)
- “Thi pháp Thơ Tố Hữu”, Trần Đình Sử (1987)
Khi nghiên cứu thơ Tố Hữu, khía cạnh được các học giả quan tâm nhiều nhất
là ngôn ngữ thơ. Việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ Tố Hữu được chia ra thành
nhiều cấp độ khác nhau:
2.1. Cấp độ từ
- Trong công trình nghiên cứu “Tìm hiểu về giá trị của từ láy trong thơ
Tố Hữu” (Luận văn tốt nghiệp năm 1985), tác giả Trịnh Gia Khán khẳng
định: Từ láy trong thơ Tố Hữu góp phần quan trọng trong việc diễn tả những
rung động tinh tế của tình cảm và phần lớn các từ láy được Tố Hữu sử dụng
làm định ngữ.
“Suối dài xanh mướt nương ngô

VD:

Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn”
- Khi tìm hiểu về “Giá trị biểu đạt của tình thái từ trong thơ Tố Hữu”
(Luận văn tốt nghiệp năm 2008), tác giả Đặng Thị Hồng Mai rút ra nhận định:
các tình thái từ có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nên các đặc điểm
phong cách nghệ thuật của Tố Hữu và nó có vai trò biểu đạt giá trị nội dung,
nghệ thuật sâu sắc, trở thành yếu tố không thể thiếu trong sáng tác của Tố
Hữu.
- Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác tìm hiểu về từ
trong thơ Tố Hữu, tiêu biểu như “Từ ngữ địa phương về người mẹ trong thơ
Tố Hữu” của tác giả Phạm Thị Thuỳ Dương, tạp chí “Ngôn ngữ và đời sống”
(10/2008), tr.39.
2.2. Cấp độ câu



“Những hồn Trần Phú vô danh
Sóng xanh biển cả cây xanh núi ngàn” [10; 206]

- Ngoa dụ:

“Bác ngồi đó lớn mênh mông
Trời cao biển rộng ruộng đồng nước non”

Hay:

“Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung
Gió lay như sóng biển tung, trắng bờ” [1; 215]

NguyÔn ThÞ H­¬ng

5

K31C – Ng÷ V¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp
- Phép lặng:
Chợt nghe tin nhà…
Ra thế…
Lượm ơi!
Tác giả Đinh Trọng Lạc phân tích : “Chỉ vậy thôi mà người đọc thấy
cuộn lên tình thương nỗi nhớ. Như vậy sử dụng phép lặng đúng chỗ cũng là
một cách nói hay hơn những gì đáng phải nói” [1; 219]
2.4. Cấp độ các biện pháp tu từ ngữ âm

K31C – Ng÷ V¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp
- Cũng lối luyến láy ấy, cùng âm “ô” được láy lại như xoáy sâu vào vực xoáy tâm tư:
“Em đi với chiếc thuyền không
Khi mô vô bến rời dòng dâm ô
Trời ơi, em biết khi mô”
(Thơ Tố Hữu)
+ Điệp thanh: tác giả Đinh Trọng Lạc khẳng định việc Tố Hữu láy lại
sáu thanh Bằng trong câu thơ “Hi vọng tràn lên đồng mênh mông” đã “mở ra
một không gian bát ngát trước mắt người tù vừa vượt ngục và một niềm hi
vọng bao la tràn lên theo chân trời đó”. Việc láy lại một thanh điệu nào đó sẽ
tạo ra một hình vẻ, âm điệu đặc biệt cho câu thơ.
- Tác giả Nguyễn Thu Quỳnh khi tìm hiểu về “Vai trò của vần bất
thường trong thơ lục bát Tố Hữu” đã khẳng định: các vần bất thường trong
thơ lục bát Tố Hữu có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng hình thức, khắc
hoạ hiện thực khách quan và bộc lộ thế giới chủ quan của tác giả:
“Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
Nhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà”
Âm tiết “Lạng” được đặt vào giữa dòng thơ làm thay đổi nhịp điệu của câu
thơ, góp phần xoá đi cảm giác đơn điệu, đều đều, gây ấn tượng mạnh trong
nhận thức của người đọc. “Lối gieo vần này đã khiến thơ ông không chỉ đa
sắc, đa thanh, đa cảm, đa chiều mà còn mở rộng trường độ cho thơ len lỏi vào
trong những ngõ khuất sâu kín của tâm hồn con người”.
Trong cuốn “Tố Hữu về tác gia tác phẩm, tác giả Phong Lan cũng
khẳng định: “Tố Hữu thường gieo vần vào những vị trí then chốt nhất của câu
thơ” và “vần trong thơ Tố Hữu đã đóng góp quan trọng vào thành công về
mặt nhạc điệu và nghệ thuật thơ Tố Hữu nói chung” [11; 97]
Từ việc thống kê các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ Tố Hữu

+ Tp hp cỏc vn lớ lun cú liờn quan n ti.
+ Kho sỏt, thng kờ, phõn loi cỏc bin th ng õm trong th lc bỏt T Hu.
+ X lớ s liu thng kờ v phõn tớch t gúc tu t hc nhm rỳt ra
nhn xột v hiu qu ca vic s dng cỏc bin th ng õm trong th lc bỏt
T Hu.
5. Phm vi nghiờn cu v i tng nghiờn cu
- Phm vi nghiờn cu: Tỡm hiu cỏc bin th ng õm thuc 46 bi th

Nguyễn Thị Hương

8

K31C Ngữ Văn


Khãa luËn tèt nghiÖp
lục bát của Tố Hữu trong các tập thơ: “Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra
trận”, “Máu và hoa”, “Một tiếng đờn”, “Ta với ta”.
- Đối tượng nghiên cứu: tìm hiểu “Hiệu quả tu từ của các biến thể ngữ
âm trong thơ lục bát Tố Hữu”
6. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu chủ yếu sau:
1.

Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại các biến thể ngữ âm trong

thơ lục bát Tố Hữu.
2.


Ng õm ting Vit l mt h thng tng i n nh, nú cung cp
nhng kin thc c bn gii thớch cú c s, khoa hc cỏc vn c th ca
ngụn ng. Nhng vn lớ thuyt v c im tu t ca h thng ng õm
ting Vit ó c cp n trong cỏc giỏo trỡnh ngụn ng hc. phự hp
vi ni dung v mc ớch nghiờn cu ca ti, chỳng tụi ch yu i theo
hng thuyt gii ca cỏc tỏc gi Vừ Bỡnh, Lờ Anh Hin, Cự ỡnh Tỳ,
Nguyn Thỏi Ho trong giỏo trỡnh Phong cỏch hc Ting Vit, NXB Giỏo
dc, H Ni, 1982.
1.1.1. c im õm tit ting Vit
Cỏc tỏc gi Vng Hu L - Hong Dng trong cun Ng õm ting
Vit (1994), NXB Giỏo dc, ó ch ra cỏc c im ca õm tit ting Vit
gm cú:
+ m tit ting Vit cú hỡnh thc ng õm n nh, cú ranh gii rừ rng
trong ng lu.
Trong mt phỏt ngụn gm nhiu õm tit, cỏc õm tit tỏch bit nhau rt
rừ. Ta khụng thy cú trng hp mt b phn ca õm tit c tỏch ra kt
hp vi õm tit tip theo nh trng hp c ni trong ting Anh, ting Phỏp.
V mt ng õm hc, iu ú l do cỏc ph õm cui trong ting Vit u
l õm n trong, ming khộp li, do ú chm dt õm tit mt cỏch dt khoỏt.
+ Cỏc õm tit ting Vit u cú thanh iu.
VD: xa, x, xỏ, x, x, xó
Nh cú thanh iu vi nhng õm vc cao thp, trm bng khỏc nhau m vic
xỏc nh ranh gii ca õm tit ting Vit s rừ rng hn.
+ i a s cỏc õm tit ca ting Vit u cú ngha. õy l mt c

Nguyễn Thị Hương

10

K31C Ngữ Văn


Nguyễn Thị Hương

11

K31C Ngữ Văn


Khãa luËn tèt nghiÖp
+ Nguyên âm hơi hẹp
+ Nguyên âm hẹp
- Dựa vào cảm giác, người ta phân chia thành sự đối lập giữa nguyên
âm sáng và nguyên âm tối. Theo đó:
+ Các nguyên âm hẹp là nguyên âm tối
+ Các nguyên âm hơi hẹp là những nguyên âm trung hoà về lượng
+ Các nguyên âm hơi rộng và rộng là những nguyên âm sáng
Việc các nhà thơ vận các đặc điểm về độ trầm - bổng, sáng - tối của
nguyên âm tiếng Việt vào trong sáng tác thơ ca của mình đã tạo ra sức biểu
hiện và gợi cảm rõ rệt. Trong câu thơ “Khi con tu hú ngoài trời cứ kêu” Tố
Hữu đã sử dụng hàng loạt các nguyên âm tối. Sự lặp lại của năm nguyên âm
tối tạo ra cảm giác về một không gian tù túng, bức bối.
1.1.3. Hệ thống phụ âm đầu, phụ âm cuối
1.1.3.1. Hệ thống phụ âm đầu
Các phụ âm đầu của tiếng Việt không làm thành một hệ thống có những
thế đối lập rõ rệt như ở hệ thống nguyên âm. Những giá trị của nó so với phần
vần cũng không phải luôn luôn được củng cố. Ví dụ, âm th là âm bật hơi, đầu
lưỡi răng, thường ở trong những từ chỉ sự nhẹ nhàng như “thướt tha, thơ thẩn,
thanh thản…” nhưng khi đi với vần “ốc” thì lại mang nghĩa mạnh của vần
này: “thốc, tốc”. Như vậy, áp lực của phần vần lớn hơn. Tuy vậy, các phụ âm
đầu vẫn góp phần riêng của mình cùng với phần vần tạo nên một sức gợi tả

Sáu thanh điệu trong tiếng Việt làm thành một hệ thống cân đối, gồm:
- 3 thanh cao: ngang, ngã, sắc
- 3 thanh thấp: huyền, hỏi, nặng
Các thanh còn có sự đối lập về âm điệu:
- Các thanh có đường nét bằng phẳng: ngang, huyền là thanh Bằng
- Các thanh hỏi, nặng, sắc, ngã là thanh Trắc
Sự đối lập về âm điệu và âm vực có vai trò rất quan trọng trong thơ
văn. Những đối lập nêu trên của thanh điệu đã chi phối âm hưởng vào hầu
như tất cả các yếu tố vận luật. Khả năng biểu hiện của thanh điệu rất lớn,
được thể hiện rõ trong hai câu thơ sau của Tản Đà:

NguyÔn ThÞ H­¬ng

13

K31C – Ng÷ V¨n


Khóa luận tốt nghiệp
Ti cao, phn thp, chớ khớ ut
T

T

T T T

Giang h mờ chi quờn quờ hng
B

B B B

+ To õm hng
1.2.1. Nhúm lp cỏc yu t
ip ph õm u: ip ph õm u l bin phỏp tu t ng õm to ra s

Nguyễn Thị Hương

14

K31C Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp
trựng ip v õm hng bng cỏch lp li ph õm u, nhm mc ớch tng
tớnh to hỡnh v din cm cho nhng cõu th.
VD:

u tng la lu lp loố õm bụng
(Sỏch ó dn, 222)

S lp li ca bn ph õm u l trong cõu th trờn cho ta hỡnh dung
v s m rng ca nhng bụng hoa lu v mt khụng gian. ú cng chớnh l
hỡnh nh bỏo hiu mt mựa hố ó n.


ip vn: ip vn l bin phỏp tu t ng õm to ra s trựng ip v õm

hng bng cỏch lp li nhng õm tit cú phn vn ging nhau nhm mc ớch
tng cng sc biu hin, tng tớnh nhc cho cõu th.
VD:


thanh trong thực tế khách quan mà ngôn ngữ bằng cách dùng phối hợp những
yếu tố ngữ âm có dạng vẻ tương tự tạo nên.
VD: “Om thòm tiếng trận, rập rình nhạc quân”
(Sách đã dẫn, 229)
Hai từ tượng thanh “om thòm” “rập rình” tạo nên một không khí tưng
bừng, đầy khí thế của đội quân Từ Hải.
 Hài âm: Hài âm là biện pháp tu từ ngữ âm sử dụng một cách tổng hợp các
biện pháp tu từ ngữ âm đã nêu ở trên nhằm tạo ra sự phù hợp giữa hiệu quả
biểu cảm - cảm xúc của hiện tượng âm thanh với nội dung biểu hiện của câu
thơ.
“Đã yêu thì yêu cho chắc

VD:

Bằng như trúc trắc thì trục trặc cho luôn”

(Ca dao)

Câu ca dao trên sử dụng biện pháp điệp phụ âm đầu “tr”, điệp thanh “trúc
trắc - trục trặc”, điệp vần “uc – ăc” diễn tả một tình yêu vấp váp, không thuận lợi


Tạo âm hưởng và tạo nhịp điệu là hai biện pháp tu từ ngữ âm thường

dùng trong văn xuôi.
+ Tạo âm hưởng là cách phối hợp âm thanh, nhịp điệu của câu văn
không phải chỉ cốt tạo ra một sự cân đối, nhẹ nhàng, uyển chuyển, êm ái, du
dương mà cao hơn thế phải tạo ra được một âm hưởng hài hoà với nội dung,
hình tượng của câu văn.
+ Tạo nhịp điệu là biện pháp tu từ ngữ âm trong đó người viết tạo nên

NXB Giáo dục, 1982 đã khẳng định: “Vần không phải là yếu tố bắt buộc của
thơ nhưng là yếu tố quan trọng vì nó gắn liền với các dòng thơ và tạo âm
hưởng cho câu thơ” [1; 251]
-

Dựa vào sự đồng nhất giữa các vần được gieo mà vần được chia thành

nhiều loại:
+ Vần chính
Vần chính đòi hỏi các yếu tố hiệp vần có những điều kiện sau:
- Giống nhau về âm gốc và âm cuối
- Đồng thời phải khác ít ra ở trong những yếu tố: phụ âm đầu, thanh
điệu, âm đệm.
Như vậy, vần chính đòi hỏi sự đồng nhất ở phần cơ bản nhất của âm tiết.
VD:

“Lạnh rồi sắp sửa mùa đông
Người ta sắp sửa lấy chồng hay chưa”

(Nguyễn Bính)

+ Vần thông

NguyÔn ThÞ H­¬ng

17

K31C – Ng÷ V¨n



bB / tT / bB1 / bB2

[1; 252]

- Các yếu tố in hoa phải đúng luật Bằng - Trắc: thanh ở vị trí thứ tư phải là
thanh trắc là đối với thanh ở vị trí 2 – 6. Thanh ở vị trí thứ 2 bao giờ cũng là
thanh bằng.
- Các yếu tố in thường không bắt buộc về thanh
- Các yếu tố in nghiêng, đậm là yếu tố tham gia hiệp vần
- B1 và B2 phải khác nhau về âm vực. Nếu B1 là thanh ngang thì B2 phải là
thanh huyền và ngược lại.

NguyÔn ThÞ H­¬ng

18

K31C – Ng÷ V¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp
“Cỏ non xanh rợn chân trời

VD:

B

T

B


ngắt nhịp 2/2/2/2 với câu bát của hai câu thơ sau:
“Trời ơi công khó quanh năm
Bỗng tiêu / tan dưới / lụt ngâm / mấy ngày”

(Tố Hữu)

“tiêu tan” là một từ và nếu ngắt nhịp 2/2/2/2 thì sẽ tách từ này ra làm hai và
do đó sẽ dẫn đến từ không có nghĩa.
+ Không tách từ chỉ loại với danh từ mà nó đi kèm. Ví dụ đối với câu
bát trong câu thơ:

NguyÔn ThÞ H­¬ng

19

K31C – Ng÷ V¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp
“Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”
(Nguyễn Công Trứ)
không được ngắt nhịp 2/2/2/2 vì nó sẽ tách từ “cây” ra khỏi danh từ chỉ vật “thông”
+ Không tách giới từ với danh từ đi sau nó. Trong ví dụ đã nêu trên của
Tố Hữu, nếu tách giới từ “dưới” ra khỏi từ “lụt ngâm” thì cũng là cách đọc sai.
+ Không tách quan hệ từ “là” với danh từ đi sau nó:
Ví dụ, không được đọc “Mẹ là / ngọn gió của con suôt đời”

[13; 25]


20

K31C – Ng÷ V¨n


Khóa luận tốt nghiệp
VD:

Trờn tri cú vy tờ tờ
ụi bờn c th, duyờn hóy trũn duyờn

(Ca dao)

hoc :
Con cũ m i n ờm
u phi cnh mm, ln c xung ao

(Ca dao)

+ Trng hp 2: Vn khụng ch c gieo hai v trớ 6 8 theo thi lut
lc bỏt m cú th gieo nhiu v trớ khỏc nhau trong cõu th. Cỏc vn c
gieo ngoi hai v trớ trờn gi l cỏc vn bt thng
VD:

Lỏ bng ang ngn cõy
Su giang mang lnh ang bay ngang tri

(T Hu)

b. Bin th ng õm do thay i s ting trong th lc bỏt

(Ca dao)
S ting cõu lc c gim xung cũn bn ting khin cõu ca dao tr
nờn sc gn, dt khoỏt.
- Lc bỏt bin th cng cú th tng s cõu so vi quy nh. Mt cp lc

Nguyễn Thị Hương

21

K31C Ngữ Văn


Khãa luËn tèt nghiÖp
bát thông thường được quy định là có một câu lục và một câu bát nhưng đôi
khi các câu lục, bát lại được tách ra thành nhiều câu nhỏ khiến số câu trong
một cặp lục bát có thể tăng lên.
VD: Câu lục có thể tách làm hai câu:
“Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh” (Nguyễn Duy)
Hoặc câu bát được tách thành ba câu:
“Bây giờ còn lại trong vườn
Tôi.
Đêm.
Và lũ chuồn chuồn ngẩn ngơ” (Đào Phong Lan)
Tóm lại, biến thể ngữ âm chính là hiện tượng chệch chuẩn, là cách phối
hợp sử sụng các yếu tố ngữ âm để tạo ra sự hài âm, hài thanh, tạo âm hưởng,
nhịp điệu cho câu thơ nhằm đạt được những mục đích tu từ nhất định. Và có
thể coi việc tạo ra các biến thể ngữ âm là các thủ pháp nghệ thuật nhằm mục
đích tu từ.

Ng cnh cú tỏc dng:
+ Ch c v cng ch vic s dng ngụn ng
+ H tr cho vic lớ gii ngụn ng
+ Lm cho lng thụng tin ng ngha tr nờn rừ rng
+ Yờu cu v hn ch i vi ngi núi
Khi phõn tớch hiu qu tu t ca cỏc yu t ng õm cn chỳ ý ti cỏc
iu kin trờn thy ht c kh nng biu th v vai trũ ca cỏc yu t ú
i vi ngụn ng trong tỏc phm.

Nguyễn Thị Hương

23

K31C Ngữ Văn


Khãa luËn tèt nghiÖp
CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THỐNG KÊ

2.1. Kết quả khảo sát - thống kê – phân loại
2.1.1. Bảng khảo sát - thống kê – phân loại
Các yếu tố biến thể

Số phiếu (%)

1. Biến thể ngữ âm do thay đổi vị trí gieo vần trong thơ lục bát 76

42.45


6

31.58

2.3. Phối hợp nhiều thanh bằng trong câu thơ

2

10.52

58

32.4

4. Biến thể ngữ âm do thay đổi số tiếng trong thơ lục bát

11

6.14

4.1. Tăng số tiếng

5

45.5

4.2. Giảm số tiếng

6


phiếu, chiếm 42.45%.
2. Biến thể ngữ âm do thay đổi cách phối thanh trong thơ lục bát có 19
phiếu, chiếm 10.61%.
3. Biến thể ngữ âm do thay đổi cách ngắt nhịp trong thơ lục bát có 58
phiếu, chiếm 32.4%.
4. Biến thể ngữ âm do thay đổi số tiếng trong thơ lục bát có 11 phiếu,
chiếm 6.14%.
5. Kết hợp nhiều yếu tố biến thể trong thơ lục bát có 15 phiếu, chiếm 8.4%.
Nhận xét
- Biến thể ngữ âm do thay đổi vị trí gieo vần được sử dụng nhiều nhất
trong thơ lục bát Tố Hữu (với 76 phiếu, chiếm 42.45%).
Vần là yếu tố thể hiện ưu thế tuyệt đối của thơ đối với văn xuôi. Tố
Hữu sử dụng nhiều “vần bất thường” nhằm khai thác tối đa hiệu quả mà
những thuộc tính âm thanh của vần mang lại, làm cho âm hưởng câu thơ thêm
dồi dào, diễn tả những trạng thái cảm xúc nhất định.
Trong số 76 trường hợp biến thể ngữ âm do thay đổi vị trí gieo vần, ta
có thể chia thành các tiểu loại như sau:
+ Vần được gieo có vị trí 6 – 4 trong câu lục – bát: có 5/76 phiếu,
chiếm 6.58%
+ Vần được gieo có vị trí liền nhau: có 17/76 phiếu, chiếm 22.37%
+ Vần được gieo ở nhiều vị trí khác nhau trong câu thơ: có 54/76 phiếu,
chiếm 71.05%
Như vậy, vần được gieo ở nhiều vị trí khác nhau trong câu thơ được Tố
Hữu sử dụng với tần số lớn nhất, chiếm tới 71.05%. Tố Hữu có biệt tài trong
việc tạo ra tính nhạc của lời thơ và việc sử dụng các vần được gieo ở nhiều vị

NguyÔn ThÞ H­¬ng

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status