1
Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
Trêng ®¹i häc vinh
_______________________
TẠ VĂN MINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
NGÀNH ĐIỆN CÔNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ VẠN XUÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2013
Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
Trêng ®¹i häc vinh
_______________________
TẠ VĂN MINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
2
NGÀNH ĐIỆN CÔNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ VẠN XUÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
TT
Nội dung
MỞ ĐẦU
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu
Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Cấu trúc của đề tài
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1.Quản lý
1.2.2.Quản lý đào tạo nghề
Quan hệ giữa quản lý và chất lượng đào tạo
49
ĐIỆN CÔNG NGHIỆP Ở TRƯƠNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT
CÔNG NGHỆ VẠN XUÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1.
Một vài nét về Trường Cao đẳng Kỹ thuật công nghệ Vạn xuân
49
4
2.2.
2.3.
2.4.
2.5.
Thực trạng đào tạo nghề ở Trường CĐKTCN- VX Tp.HCM
2.2.1. Nhiệm vụ chính của Nhà trường
2.2.2. Cơ cấu tổ chức
2.2.3. Quy mô đào tạo
2.2.4. Chương trình đào tạo
2.2.5. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Kết quả điều tra
2.3.1. Những vấn đề chung
2.3.2. Vấn đề đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường
88
91
93
93
96
99
NGHỀ Ở TRƯỜNG CĐCĐ HÀ NỘI
3.1.
Các nguyên tắc cơ bản của việc đề xuất các giải pháp
3.1.1. Nguyên tắc tính mục tiêu
3.1.2. Nguyên tắc tính toàn diện
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
3.1.4. Nguyên tắc tính khả thi
99
99
99
99
99
3.2.
Một số giải pháp đổi mới quản lý đào tạo nghề ở trường Cao đẳng Cộng đồng
Hà Nội
3.2.1. Quản lý mục tiêu, nội dung đào tạo nghề
3.2.2. Giải pháp quản lý đội ngũ giáo viên
3.2.3. Giải pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh
3.2.4. Tăng cường đầu tư và quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị
3.4.
1.
2.
trong các đơn vị đào tạo
3.3.4. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Tài chính
Kết quả thăm dò tính cần thiết và khả thi các giải pháp đã đề xuất về đổi mới
quản lý đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội.
Kết luận
Kết luận
Kiến nghị
2.1. Đối với Nhà nước
2.2. Đối với Bộ GD-ĐT và Bộ LĐTB & XH
2.3. Đối với UBND Thành phố Hà Nội
2.4. Đối với Trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH-HĐH
CLĐT
CNXH
CNKT
CĐCĐHN
ĐH-CĐ
ĐVHT
GD&ĐT
GDCN
Trước công nguyên
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
126
129
129
130
130
131
132
132
133
135
6
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã quyết định đẩy mạnh sự nghiệp
CNH,HĐH đất nước nhằm mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ và văn minh, tiến bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp vĩ đại “CNH, HĐH” chỉ có thể thắng lợi khi đất nước có được nguồn nhân lực có
chất lượng cao đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của các công nghệ
sản xuất ngày càng hiện đại. Trong đó, đội ngũ công nhân lành nghề phải có
đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng. Đây cũng là một chỗ yếu của lực
lượng lao động của chúng ta hiện nay và trong tương lai. Bởi vì đội ngũ thợ
lành nghề của chúng ta vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng. Tình
trạng này nếu không được cải thiện nhiều và không đáp ứng nhu cầu của quá
trình phát triển nếu các cơ sở giáo dục nghề nghiệp không nâng cao chất
lượng, đổi mới quá trình đào tạo tay nghề cho học sinh - sinh viên của mình.
tạo nghề nói chung và đào tạo nghề bậc cao nói riêng. Vì vậy, hệ thống các
trường dạy nghề và chất lượng đào tạo của chúng luôn luôn đuợc quan tâm.
Tuy nhiên, vì nhiều khách quan và chủ quan, quá trình đào tạo nghề của hệ
thống này cho đến nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế - xã
hội về số lượng và chất lượng, đặc biệt là nhu cầu về lao động có tay nghề
cao. Vì vậy, việc tìm kiếm những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bên
cạnh việc tăng lên về số lượng đào tạo ở các trường nghề là một việc làm có
tính cấp thiết.
Trường Cao đẳng kỹ thuật công nghệ Vạn Xuân Tp. HCM được thành
lập ngày 01 tháng 9 năm 2006 theo quyết định số 4822/QĐ- BGDĐT. Từ khi
thành lập cho đến nay, hàng năm trường đã cung cấp cho thị trường Tp.HCM
và các tỉnh lân cận hàng ngàn lao động đã qua đào tạo. Là trường Cao đẳng
có đào tạo hệ Trung cấp chuyên nghiệp (từ trình độ trung cấp kỹ thuật, đến
cao đẳng đa dạng về ngành nghề). Trong quá trình xây dựng và phát triển,
Trường Cao đẳng kỹ thuật công nghệ Vạn Xuân TP.HCM luôn coi chất
lượng là vấn đề hàng đầu, có tính sống còn. Vì vậy, trong thời gian qua, nhà
8
trường đã cố gắng tìm kiếm những giải pháp có tính hiệu quả và khả thi để
không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của mình.
Tuy nhiên, với sự phát triển vượt bậc về qui mô đào tạo của trường
trong một thời gian ngắn, trường đã và đang gặp rất nhiều khó khăn trong
việc đảm bảo và nâng cao chất lượng của mình như: cơ sở vật chất còn thiếu
thốn, lạc hậu, trình độ đào tạo và số lượng đội ngũ giảng viên, nội dung
chương trình, công tác quản lý ... chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đào
tạo và còn nhiều bất cập. Trong đó công tác quản lý - hoạt động đóng một vai
trò đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo còn chậm
đổi mới, chưa theo kịp sự phát triển của qui mô, hình thức và đòi hỏi về chất
5.1.Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
5.2.Xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài
Thực trạng về đổi mới quản lý đào tạo ngành điện công nghiệp ở
trường cao đắng kỹ thuật công nghệ Vạn Xuân.
5.3. Đề xuất các giải pháp đổi mới quản lý đào tạo ngành điện công
nghiệp ở trưòng cao đẳng kỹ thuật công nghệ Vạn Xuân,Tp.HCM
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu phân tích, tổng hợp, khái quát những tài liệu liên quan để
xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
6.2.Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến của chuyên gia về công tác quản lý đào tạo nói chung và
các giải pháp quản lý đào tạo ngành điện công nghiệp nói riêng
6.2.2. Phương pháp điều tra - khảo sát
Nhằm thu thập số liệu về thực trạng sử dụng các giải pháp quản lý đào
tạo ở trường Cao đẳng kỹ thuật công nghệ Vạn xuân,Tp.HCM
6.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
6.2.4.Phương pháp phỏng vấn
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Để xử lý về mặt định lượng các dữ liệu thu được
7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
10
Luận văn đề xuất 06 giải pháp đổi mới quản lý đào tạo ngành điện
công nghiệp
hiện trong sự vận động của các bộ phận riêng rẽ của nó” [6; trg 58]. Như vậy,
hoạt động quản lý đã xuất hiện rất sớm và khoa học quản lý cũng như hoạt
động nghiên cứu khoa học quản lý sớm hình thành và phát triển, đáp ứng nhu
cầu phát triển kinh tế và xã hội.
Từ thời cổ đại, ở các nước phương Đông, nhất là ở Ấn Độ và Trung
Hoa đã sớm xuất hiện những tư tưởng về quản lý. Đó là những tư tưởng về
pháp trị của Khổng Tử (551 - 479 TCN); Mạnh Tử (372 - 289 TCN); Hàn Phi
Tử (280 -233 TCN)... mà theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu hiện đại
những tư tưởng này vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc và đậm nét trong phong cách
quản lý ngày nay và văn hoá của nhiều nước Châu Á, nhất là Trung Quốc,
Nhật Bản, Triều Tiên , Việt Nam... Trong các học thuyết về quản lý phương
Đông cổ đại Khổng Tử, Mạnh Tử và một số người khác chủ trương dùng
“Đức trị” để cai trị dân. Các học thuyết của Khổng Tử là học thuyết trị quốc,
quản lý đất nước lấy chữ “Nhân” làm cốt lõi. Còn Hàn Phi Tử, Thương Ưởng
(390 - 338 TCN) và một số người khác lại chủ trương quản lý xã hội bằng
“Pháp trị” (tức là trị quốc bằng pháp luật). Những tư tưởng đó là bài học quý
cho việc nghiên cứu hoạt động quản lý ngày nay. Ở các nước phương Tây cổ
12
đại điển hình là Xôcrat và Platôn (thế kỷ IV - III TCN), quan niệm về người
đứng đầu trong việc cai trị dân là: Những người nào biết cách sử dụng con
người sẽ điều khiển công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt.
Trong khi những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm khi tiến hành
cả hai công việc này... muốn trị nước phải biết đoàn kết dân lại, phải vì dân.
Người đứng đầu phải ham chuộng hiểu biết, thành thật, tự chủ, biết điều độ,
ít tham vọng về vật chất và đặc biệt là phải được đào tạo kỹ lưỡng.
Ở phương Tây, vào thế kỷ thứ XVII có những nhà nghiên cứu về quản
lý tiêu biểu như: Robet Owen (1771 - 1858) Chales Babbage (1792 - 1871)
+ Trường THPT và công nghệ
+ Trường THCN.
Trường THCN ở Pháp không chỉ đào tạo kỹ thuật viên, cán bộ trung
cấp mà còn đào tạo cả công nhân kỹ thuật.
Ở Đức:
Ở Cộng hoà Liên bang Đức có phần nào giống Pháp, GDCN là một bộ
phận trung học cấp II của hệ thống giáo dục quốc dân với các loại hình
trường đa dạng. Ngoài trường phổ thông mang tính không chuyên nghiệp chỉ
nhằm mục tiêu đào tạo chuấn bị lên đại học còn có các trường phổ thông
chuyên nghiệp, trường hỗn hợp... học sinh các loại hình trường này có thể
vào học ở các trường đại học chuyên ngành, ở trường THCN và dạy nghề sau
khi học xong học sinh được phép vào học trường cao đẳng còn với các loại
hình trường dạy nghề khác tại nhà trường, xí nghiệp... sau khi tốt nghiệp chủ
yếu học sinh ra làm việc sơ cấp. Do các loại hình trường rất đa dạng nên
không có mô hình tổ chức quản lý đồng nhất giữa các trường, nhất là các
bang khác nhau, có trường quốc lập, tư thục, có trường thuộc công ty tư nhân
chuẩn bị phần nhân lực cho công ty mình... Do đó khó có thể tìm thấy hệ
thống mô hình chung, những nét chung nhất về tổ chức về quản lý đã được
quy định trong Bộ Luật Giáo dục của toàn liên bang và được cụ thể hoá trong
14
Bộ luật và quy chế của từng bang.
Ở Nhật và Hoa Kỳ:
Trường THCN được đào tạo dài hạn 5 năm. Thông thường ở các nước
này, các loại trường tư thuộc vào các công ty tư nhân mà công ty của họ khá
lớn. Các nhà trường trong công ty đào tạo công nhân ngay trong công ty mình
và có thể đào tạo cho công ty khác theo hợp đồng. Mô hình này có ưu điểm là
chất lượng đào tạo cao, có năng lực thực hành tốt và có công việc làm sau khi
nhiều người quan tâm, suy ngẫm, tổng kết và vận dụng; đó là vấn đề luôn
mang tính thời sự đi liền với các bước phát triển của các doanh nghiệp, tổ
chức, Nhà nước và nhân loại. Gần đây, đang có nhiều công trình nghiên cứu
về khoa học quản lý của các nhà nghiên cứu và các giảng viên Đại học, các
cán bộ Viện nghiên cứu dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, phổ biến kinh
nghiệm... đã được công bố. Đó là tác giả: Nguyễn Tiến Dũng, Ngô Quốc Chí,
Nguyễn Gia Quý, Nguyễn Đình Am, Nguyễn Bình, Nguyễn Bá Dương, Phạm
Thành Nghi, Hoàng Hữu Đạo, Nguyễn Tấn, Trần Hữu Lam, Vũ Thế Phú...
Các công trình trên đã giải quyết được vấn đề lý luận rất cơ bản về khoa học
quản lý như bản chất của hoạt động quản lý, các thành phần cấu trúc, các giai
đoạn hoạt động quản lý; đồng thời chỉ ra các phương pháp nghệ thuật quản
lý. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng lại ở phương diện lý luận là
chủ yếu, hoặc triển khai ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh sản xuất.
Trong xu thế đó, thời gian gần đây, quản lý giáo dục nói chung và quản
lý đào tạo nghề nói riêng được ngành giáo dục đặc biệt quan tâm. Bên cạnh
việc áp dụng những thành tựu nghiên cứu của nước ngoài, đã có các công
trình nghiên cứu về quản lý giáo dục- đào tạo trong điều kiện cụ thể của Việt
Nam, trong đó có đào tạo nghề.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
Vấn đề nghiên cứu các giải pháp đổi mới quản lý hoạt động đào tạo
ngành điện công nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành điện công
nghiệp ở trường Cao đẳng kỹ thuật công nghệ Vạn Xuân Thành phố HCM
16
nhằm đáp ứng thiết thực nguồn nhân lực cho Thành phố. Chính vì vậy, khi
nghiên cứu về “Một số giải pháp đổi mới quản lý đào tạo ngành điện công
nghiệp ở trường Cao đẳng kỹ thuật công nghệ Vạn Xuân Thành phố Hồ Chí
Minh ”, tác giả hy vọng góp phần thúc đẩy, nâng cao chất lượng đào tạo ở
17
được các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề
1.2.2.2
Ngành điện công nghiệp
Là ngành điện cụ thể tác động lên đối tượng học, làm cho đối tượng đạt
được các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong nghề điện
1.2.3. Quản lý và quản lỷ đào tạo ngành điện công nghiệp
1.2.3.1.
Quản lý
Trong quá trình hình thành và phát triển loài người, con người phải
luôn luôn lao động đế duy trì và phát triển nòi giống .Trong khi lao động cần
sự hợp tác của nhóm người hoặc nhiều người, do sự hợp tác này mà xã hội
xuất hiện một loại hình lao động mới mang tính đặc thù là tổ chức điều khiển
các hoạt động lao động theo yêu cầu nhất định loại hình lao động, đó là hoạt
động quản lý
- Theo “Từ điển Tiếng Việt”: “Quản lý là tổ chức và điều hành các
hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [30; tr789].
- Theo Harol Koontz: “Quản lý là hoạt động thiết yếu bảo đảm sự nỗ
lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” [12; tr31].
- Còn F.W.Taylor khẳng định: “Quản lý là biết được chính xác điều
bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công
việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [8; 89].
- Theo Aunapu F.F: “Quản lý là một hệ thống XH, là một khoa học và
trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình
tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục
tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong
muốn” [13; tr 17].
- Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể
quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [19; tr 24].
Các định nghĩa trên tuy nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng điểm
chung thống nhất đều coi quản lý là một hệ thống hoạt động có tổ chức, có
mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định. Trong quản lý bao giờ cũng có:
- Chủ thể quản lý ( cá nhân hay tổ chức): tác nhân tạo ra hành động
quản lý.
- Khách thể quản lý: các yếu tố của hệ thống tiếp nhận và thực thi tác
động quản lý của chủ thể. Khi khách thể quản lý là con người thì sẽ là chủ
19
thể tiến hành các hành động lao động tạo ra các giá trị vật chất hoặc tinh thần
thực hiện mục tiêu của hệ thống.
Chủ thể và khách thể quản lý luôn luôn có liên hệ ràng buộc và quan
hệ với nhau bằng những tác động quản lý và phản hồi.
Một cách tổng quát, có thể xem quản lý là: Một quá trình tác động có
tổ chức, có định hướng (bằng một hệ thống các qui định, chính sách, các
nguyên tắc và giải pháp...) của chủ thể lên khách thể quản lý về các mặt văn
hóa, xã hội, kinh tế... nhằm làm cho hệ thống vận động, phát triển nhằm đạt
Trước hết, cần phải hiểu đổi mới là quá trình mang tính chủ động, nằm
trong quy luật vận động và phát triển tự thân của sự vật. Điều này có ý nghĩa
đổi mới là một công việc diễn ra hằng ngày, bất kỳ sự vật hiện tượng, cá
nhân, cộng đồng và dân tộc nào cũng luôn luôn trải qua quá trình đổi mới
như là bản năng để tự thích nghi với những thay đổi của môi trường sống. Vì
thế đổi mới ít nhiều hàm nghĩa vận động, tức là sự vật hiện tượng, cá nhân,
cộng đồng, dân tộc và thậm chí cả thế giới muốn phát triển bình thường cần
phải đổi mới thường xuyên và tự đổi mới. Một hệ thống đạt được tiêu chí này
là đạt đến tiêu chuẩn đầu tiên và quan trọng nhất để được công nhận là hoàn
thiện tối ưu.
Khác với đổi mới, cải cách là một biện pháp được thực hiện để giải
quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể
và yêu cầu phải hoàn tất trong thời gian nhất định, cải cách còn có thể hiểu là
sự điều chỉnh lớn đối với các cấu trúc chính trị, văn hóa , xã hội, cần phải có
sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng xã hội. Do đó, cải cách sẽ tạo ra
những thay đổi mang tính hệ thống hơn, trên quy mô rộng lớn, sâu sắc cũng
như triệt để hơn về mức độ.Trong một số trường hợp, nó còn dẫn tới cả
những thay đổi về tư duy hành động cũng như định hướng phát triển. Điểm
giống nhau cơ bản giữa đổi mới và cải cách có tính kiểm soát, hay tính có thể
kiểm soát được.Tuy nhiên, rất khác với đổi mới, cải cách không thể là một
công việc xảy ra hằng ngày, nó có thể tạo ít nhiều xáo trộn cũng như những
hậu quả không mong đợi. Vì thế, nó chỉ được thực hiện dựa trên những
nghiên cứu và cân nhắc thấu đáo về mục đích, hậu quả, và người cần phải đủ
dũng cảm để chấp nhận cái giá phải trả cũng như đủ bản lĩnh, đủ lòng tin để
21
khắc phục những hậu quả ấy
Khác với đổi mới và cải cách, cách mạng hiểu theo nghĩa căn bản nhất,
nghiệp
Là cách thức mới tác động hướng vào những biến đổi về chất lượng
trong quá trình đào tạo ngành điện đáp ứng yêu cầu đào tạo ngành điện công
nghiệp phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
1.3. Một số vấn đề về lý luận của đổi mới đào tạo ngành điện công
nghiệp ở trường cao đẳng kỹ thuật công nghệ Vạn Xuân
1.3.1.Ý nghĩa của đổi mới quản lý đào tạo ngành điện công
nghiệp
a. Với triết lí “Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của
quá trình đào tạo”, với mục đích đổi mới quản lý đào tạo ngành điện công
nghiệp. Trong việc đổi mới quản lý đào tạo, việc đổi mới chương trình là một
trong sự đổi mới, với phương pháp tiếp tiếp cận chương trình theo nội dung,
chú trọng đưa thật nhiều nội dung vào chương trình đào tạo. Cách tiếp cận đó
hoàn toàn không phù hợp vói xu hướng phát triển hiện nay, khi lượng bùng
nổ thông tin và tri thức tăng lên rất nhanh, theo hàm số mũ.
Khi thiết kế chương trình đào tạo này, cần tiếp cận theo mục tiêu, xác
định rõ các mục tiêu cần đạt được của chương trình đào tạo, từ đó xác định
nội dung cần thiết tối thiểu cho chương trình.
b .Tính hệ thống trong đổi mới quản lý.
Hệ thống tín chỉ là một hệ thống gồm các môđun kiến thức (học phần/
môn học) tương đối độc lập (nhưng không phải là cắt vụn) gắn kết, quan hệ
chặt chẽ, lôgic trong một tổng thể. Hệ thống tín chỉ gắn liền với việc cấu trúc
kiến thức thành các khối (khối kiến thức đại cương, khối kiến thức ngành:
kiến thức cơ sở của ngành, kiến thức chính của ngành, kiến thức chuyên sâu,
chuyên ngành, ...), cấu trúc các học phần/ môn học theo một logic nhất định.
Đây là nền tảng, là cơ sở để tạo ra một quy trình đào tạo linh hoạt, mềm dẻo,
23
e. Tính hội nhập
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nếu được tổ chức chặt chẽ, hiệu quả sẽ
góp phần đưa hệ thống giáo dục Việt Nam tiệm cận với giáo dục khu vực và
thế giới. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, không thể không nghĩ tới
quốc tế hóa về giáo dục, mà điều có thể làm được trước nhất là tổ chức và
xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến, phù hợp với học chế tín chỉ - học
chế mà từ lâu đã trở thành phổ biến ở các trường đại học trên thế giới.
k. Quan tâm đến việc dạy cách học, phát huy tính chủ động của người
học. Chương trình đào tạo theo học chế niên chế, học phần thường nặng tính
hàn lâm kinh viện, nặng về nội dung, đưa nhiều nội dung vào chương trình
đào tạo, chú trọng đến việc cung cấp kiến thức, truyền đạt các nội dung; ít
quan tâm đến việc dạy cách học, phát huy tính chủ động của người học.
Trong khi với thời gian lên lớp ít hơn nhiều, chương trình đào tạo theo hệ
thống tín chỉ bắt buộc phải quan tâm đến việc dạy phương pháp học tập cho
người học, phát huy tính chủ động của người học.
h. Đề cao vai trò người học
Như chúng ta đều biết, bản chất của học chế tín chỉ là cá thể hóa việc
học tập của người học trong một nền giáo dục đại học cho số đông và giáo
dục hướng về người học. Vì vậy, học chế tín chỉ chú ý đến điều kiện và năng
lực của từng cá thể người học, tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn
chương trình và cách học ở một mức độ xác định.
1.3.2. Nội dung đối mới quản lý đào tạo ngành điện công nghiệp
1.3.2.1 Mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo
Khi thực hiện đổi mới đào tạo thì mục tiêu, nội dung, chương trình
được xây dụng sát hơn với yêu cầu thực tiễn của những người sử dụng lao
động, của giới sản xuất công nghiệp - nơi mà HS - SV tốt nghiệp sẽ làm việc.
Đây là bước đổi mới trong đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng. Đào
25