Nghệ thuật xây dựng nhân vật lịch sử trong truyện ngắn nguyễn huy thiệp - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên
lời cảm ơn.

Lý luận là một phân môn khoa học về văn chương. Lấy tác phẩm văn chương
làm đối tượng nghiên cứu, lí luận chỉ ra bản chất, đặc trưng, quy luật hình thành,
phát triển của văn học. Nắm vững lí luận là một cách để đi vào khám phá tác phẩm
văn chương một cách hiệu quả.
Là một sinh viên khoa ngữ văn năm cuối, tôi nhận thấy cần thiết phải nắm
vững hệ thống công cụ này, làm cơ sở cho việc học tập nghiên cứu về sau. Vì vậy tôi
đã chọn đề tài Nghệ thuật xây dựng nhân vật lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp như một hình thức làm việc thực tiễn để nắm vững kiến thức, đồng thời,
tạo cho mình thói quen, phương pháp tự nghiên cứu khoa học.
Trong quá trình thực hiện khoá luận, tôi đã được sự giúp đỡ chỉ bảo của các
thầy cô trong khoa, trong tổ, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của tiến sĩ Nguyễn
Thị Kiều Anh.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, đặc biệt là cô giáo
hướng dẫn trực tiếp đã giúp tôi hoàn thành đề tài này.
Đây là một đề tài còn mới mẻ, hơn nữa trong khoảng thời gian hạn hẹp, cũng
như sự hạn chế về năng lực tìm tòi nghiên cứu, người viết không tránh khỏi những
thiếu sót. Kính mong sự chỉ bảo đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn đọc
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hoà ngày 10 tháng 5 năm 2007.
Sinh viên thực hiện:

Lê Thị Kim Liên

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn

1


Trang
Lời cảm ơn..1
Lời cam đoan...2
Mục lục...3
Mở đầu
1. Tính thời sự của đề tài.5
2. Lịch sử vấn đề.6
3. Giới hạn hẹp của đề tài8
4. Phương pháp nghiên cứu.9
5. Đóng góp và cấu trúc khóa luận10
Nội dung
Chương 1: Quan niệm về nghệ thuật xây dựng nhân vật..11
1.1. Quan niệm về nhân vật.. 11
1.1.1.Khái niệm nhân vật..11
1.1.2. Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học.13
1.2.3. Các loại nhân vật văn học cơ bản14
1.2. Quan nịệm về nghệ thuật xây dựng nhân vật.15
1.2.1. Kết cấu15
1.2.2. Các biện pháp thể hiện nghệ thuật..16
1.2.3 Lời nói nghệ thuật20
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp 22
2.1. Kết cấu...22
2.2. Các Biện pháp thể hiện nghệ thuật.31
2.3. Lời nói nghệ thuật..46
Chương 3: Sự sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp trong nghệ thuật xây dựng nhân vật
lịch sử....51

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn


Vừa xuất hiện, ông đã được coi là một hiện tượng văn học, là thành quả của đổi
mới.
1.2. Thập niên 80-90 của thế kỉ XX Nguyễn Huy Thiệp nổi bật lên như một
hiện tượng văn học độc đáo, gây xôn xao nền văn học nước nhà vốn đang trầm lặng
sau chiến tranh. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện lập tức gây không khí
tranh luận trên văn đàn. Người khen, kẻ chê. Dù khen hay chê, cuối cùng công
chúng cũng gặp nhau ở một điểm: công nhận văn tài của nhà văn. Nhất là khi chùm
truyện ngắn viết về đề tài lịch sử được đăng trên tuần báo Văn nghệ, lập tức gây ra
một cuộc tranh luận sôi nổi. Ngay sau đó, sách Nguyễn Huy Thiệp tác phẩm và
dư luận được in năm 1989, đến năm 2001 Phạm Xuân Nguyên lại tập trung khoảng
một phần ba bài viết đăng rải rác trên các báo thành cuốn Đi tìm Nguyễn Huy
Thiệp để xác định chân dung, vị trí của nhà văn này.
Xuất hiện nhiều cuộc hội thảo, nhiều bài nghiên cứu, phê bình, tiểu luận về
tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp. Các ý kiến tranh luận có nhiều khác biệt nhưng đều
cho thấy Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng độc đáo, là một mạch ngầm xuất hiện
cùng với đổi mới.
Tuy nhiên, nghiên cứu tỷ mỉ về phương diện sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp
thì chỉ có rải rác một số công trình. Nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ. Vì vậy, để góp phần
khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp chúng tôi xin đề cập
đến một khía cạnh nhỏ liên quan đến tài năng của nhà văn : Nghệ thuật xây dựng
nhân vật lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn

5


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

nhận Nguyễn Huy Thiệp một cách kiên quyết, ông đưa ra Có một cách đọc Vàng

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn

6


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

lửa rất nhiều tính sách vở. Từ nguyên lý hệ thống ông chê Vàng lửa, chỉ là phép
nói ngược(21-tr188). Ông vin vào phát ngôn của nhân vật Phăng để qui kết chính
trị cho nhà văn.
Lập tức có sự phản hồi từ các tác giả khác. Lại Nguyên Ân khẳng định lập
trường của mình ngay ở nhan đề bài viết Đọc văn phải khác đọc sử(Văn
Nghệ,16/07/1988), Văn Tâm cũng cùng ý kiến Không thể đọc truyện ngắn bằng
đôi mắt sử kí giáo khoa thư ( Đọc Nguyễn Huy Thiệp, Văn Nghệ, 26/11/1988).
Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh cũng mượn khái niệm phê bình kiểu băt vít
của Trần Duy Thanh để phản đối Tạ Ngọc Liễn và đề nghị một cách thận trọng
Nên coi những tác phẩm của nhà văn này như một thứ đề dẫn. Cuộc tranh luận này
chỉ xoay quanh vấn đề đọc văn hay đọc sử.
Nhưng khi Phẩm tiết xuất hiện còn gây được sự khen chê quyết liệt hơn.
Nguyễn Thuý ái và Vũ Phan Nguyên công phẫn Viết như thế là một cách bắn súng
lục và quá khứ (Văn Nghệ 20/08/1988). Mai Ngữ lại đặt ra một xuất phát điểm
mới đó là cái tài và cái tâm của người viết (QĐND, 27/08/1988) (21-tr418). Theo
ông: Viết như thế là ác tâm. Rất nhiều tác giả cũng phẫn nộ công kích cách viết
của Nguyễn Huy Thiệp. Thậm chí hội Nhà Văn Việt Nam đã họp tháng 09/1988 để
chấn chỉnh báo Văn nghệ.
Dù vậy, vẫn có nhiều người bênh vực tác giả.

cập tới hình thức nghệ thuật của tác phẩm một cách toàn diện. Đôi khi chỉ là một
khía cạnh như lời tác giả của Nguyễn Văn Đông (Báo Văn học tuổi trẻ 05/2005),
hay kĩ thuật nhại của Nguyễn Huy Thiệp trong bài viết của Lê Huy Bắc (11-tr
316).
Nghiên cứu về nghệ thuật trong chùm truyện ngắn lịch sử là một mảnh đất
trống cần khám phá. Bởi vậy, chúng tôi chọn đề tài: Nghệ thuật xây dựng nhân vật
lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Trong đề tài, chúng tôi có sử dụng một số thuật ngữ như: Truyện lịch sử giả
của Đặng Anh Đào, Truyện giải lịch sử của Nguyên Ngọc, Truyện lịch sử-thế sự
hư cấu của Văn Giá, để nói về chùm truyện ngắn viết về đề tài lịch sử này.
Lấy tác phẩm nghệ thuật làm đối tượng nghiên cứu, chúng tôi không bàn đến
lập trường chính trị của người viết mà chỉ đơn thuần xét đến nghệ thuật xây dựng
nhân vật của tác giả.
3. Giới hạn hẹp của Đề tài.
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Lấy chùm truyện ngắn viết về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp Kiếm
sắc, Phẩm tiết, Vàng lửa, Mưa Nhã Nam, Nguyễn Thị Lộ làm khách thể nghiên
cứu, chúng tôi chọn một phương diện của khách thể là Nghệ thuật xây dựng nhân
vật lịch sử trong chùm truyện này làm đối tượng nghiên cứu.

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn

8


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

Nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận là chỉ ra nét riêng trong nghệ thuật xây

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn

9


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

5. Đóng góp và cấu trúc khóa luận.
5.1. Khoá luận giúp nắm rõ hơn những vấn đề về nhân vật, xây dựng nhân vật
nói chung và nhân vật trong truyện ngắn nói riêng. Góp phần khẳng định tài năng
và vị trí của Nguyễn Huy Thiệp trong nền văn học mới.
5.2. Cấu trúc khoá luận.
Khoá luận của chúng tôi gồm 71 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục
lục, tài liệu tham khảo, phần nội dung được triển khai thành 3 chương như sau:
Chương 1: Quan niệm về nghệ thuật xây dựng nhân vật .
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp.
Chương 3: Sự sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp trong nghệ thuật xây dựng
nhân vật lịch sử.

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn

10


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên


11


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma
qủi, những con vật mang nội dung và ý nghĩa con người(). Khái niệm nhân vật có
khi chỉ được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ
một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm(). Nhưng chủ yếu là hình tượng con người
trong tác phẩm(). Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những
dấu hiệu để ta nhận ra(6-tr277,278).
Một cách định nghĩa khác về nhân vật trong cuốn Lí luận văn học.NXB
GD,H,1993 do giáo sư Hà Minh Đức chủ biên: Nhân vật trong văn học là một hiện
tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết
biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển
hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách v.vVà cần chú ý thêm một điều: thực ra
khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, đó
không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu
đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là sự vật, loài vật
khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người,(). Cũng có khi đó không phải
là những con người, sự vật cụ thể, mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc có
liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm(2_tr102).
Khái niệm Nhân vật văn học còn được định nghĩa trong cuốn Từ điển thuật
ngữ văn họcNXBQG, H, 2000 của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi với nội dung cơ bản giống với định nghĩa trong cuốn Lí luận văn học đã
nêu: Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học.
Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thể

mang cả những nét chung, tiêu biểu cho nhiều người khác ở một mức độ nhất định,
đồng thời có một quá trình phát triển hợp với logíc khách quan của đời sống.
Như vậy, nhân vật có hạt nhân là tính cách. Trong tác phẩm văn chương có
nhân vật được khắc hoạ tính cách nhiều hay ít nhưng cũng có nhân vật không được
khắc hoạ tính cách.
1.1.2.Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn chương.
Ta biết rằng nhân vật là hình ảnh về con người, khi tính cách của nhân vật
được nhà văn xây dựng ở một mức độ nào đó, nhân vật sẽ trở thành hình tượng về
con người, và cao hơn, nếu tính cách được khắc hoạ ở những nét điển hình thì nhân
vật sẽ trở thành điển hình với con người. Mà theo Biêlinxki: nhà triết học tư duy
bằng phép tam đoạn luận, còn nhà thơ tư duy bằng hình tượng cụ thể của một bức
tranh. Nói rộng ra tức là văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng bằng những
nhân vật cụ thể. Do đó, vai trò chức năng đầu tiên trọng yếu nhất của nhân vật là
làm phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực. Văn học không thể thiếu được nhân
vật bởi chỉ có qua nhân vật nhà văn mới thể hiện được nhận thức của mình về xã hội,
về con người với những đặc điểm về số phận tính cách của nó. Nhân vật chính là
người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì lịch
sử nhất định (2-tr126).

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn

13


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

Tính cách của nhân vật mang vai trò hết sức quan trọng đối với cả nội dung
và hình thức của tác phẩm văn học. Về nội dung: nhân vật với tính cách của nó, là


14


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

Hai kiểu nhân vật này cũng mang tính lịch sử, trong đó nhân vật chính diện mang lý
tưởng, quan điểm tư tưởng, đạo đức tốt đẹp của tác giả và của thời đại, được nhà văn
khẳng định, đề cao, còn nhân vật phản diện thì ngược lại mang những phẩm chất
xấu xa trái với lý tưởng và đạo đức, đáng lên án và phủ định.
Ngoài hai cách chia thường thấy như thế về nhân vật và dựa trên cấu trúc về
nhân vật người ta có thể nói tới các kiểu nhân vật như: nhân vật chức năng, nhân vật
loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật tư tưởng. Trong phạm vi có hạn của khoá
luận chúng tôi không bàn sâu về những loại nhân vật này.
1.2. Quan niệm về nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Như đã trình bày ở trên, nhân vật ngoài chức năng quan trọng là phương tiện
để nhà văn gửi gắm ý tưởng nghệ thuật của mình còn có vai trò quyết định tới phần
lớn những yếu tố hình thức của tác phẩm văn chương. Vì thế, có thể nói: Qua mỗi
yếu tố của hình thức tác phẩm, ta sẽ thấy đươc cụ thể nghệ thuật xây dựng nhân vật
của nhà văn. Cả ba yếu tố: kết cấu, sự tổng hợp các biện pháp thể hiện nghệ thuật và
lời nói nghệ thuật đều tham gia vào xây dựng nhân vật ở mặt này hay mặt kia. Do
vậy, việc tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật thực chất là xem xét, tìm hiểu ba
khía cạnh đó của hình thức.
1.2.1.Kết cấu.
Kết cấu, theo quan niệm của nhóm tác giả của cuốn Lý luận văn học, Nxb
GD, H,2004 là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trưng nghệ thuật và nhiệm
vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu tác phẩm không bao
giờ tách rời nội dung cuộc sống và tư tưởng tác phẩm.(6-tr295)

con đường đời của nó.
Kết cấu đồng thời còn là việc người nghệ sỹ gắn kết thành dòng thống nhất
những điều xảy ra trước với những điều xảy ra sau trong cuộc đời mỗi nhân vật.
Điều này có tác dụng làm nổi bật vấn đề trung tâm, nội dung tư tưởng chủ yếu của
tác phẩm, cùng chiều hướng con đường đời của các loại nhân vật .
1.2.2. Các biện pháp thể hiện nghệ thuật.
Để xây dựng được các nhân vật trong tác phẩm văn chương một cách sinh
động, hấp dẫn, nhà văn phải mượn đến các thủ pháp nghệ thuật phong phú, sao cho
nhân vật hiện lên trước mắt người đọc càng cụ thể, càng rõ nét, thông qua càng
nhiều giác quan càng tốt. Hệ thống này được coi là thường xuyên và đầy đủ nhất.
Các biện pháp thể hiện nhân vật bao gồm bảy yếu tố: biện pháp tả, biện pháp kể,
biện pháp để nhân vật đối thoại, độc thoại, tâm tình, bàn luận - triết lý, biện pháp để
nhân vật vào những hoàn cảnh xung đột - kịch tính. Việc sử dụng những biện pháp
thể hiện nghệ thuật này gắn liền với việc xây dựng hình tượng nhân vật toàn vẹn và
sinh động(20-tr26)
1.2.2.1 Biện pháp tả.
Đây là một hoạt động sáng tạo của nhà văn, đòi hỏi nhà văn phải khéo kết
hợp các danh từ với các tính từ, động từ, khéo kết nối các kiểu câu sao cho hiệu quả

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn

16


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

cuối cùng là đối tượng được miêu tả hiện lên trước sự hình dung của bạn đọc càng
bằng nhiều giác quan càng tốt. Biện pháp này rất hữu dụng trong việc cụ thể hoá đối


17


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

hệ giữa các nhân vật càng đa dạng các nhân vật đối thoại càng nhiều thì càng bộc lộ
các đặc điểm thuộc về tính cách, cá tính, nghề nghiệp, giai cấp, lứa tuổi, của
mìnhSự bộc lộ đó qua nội dung lời nói, qua cả cách nhân vật đối thoại. biện pháp
này giúp bạn đọc như nghe thấy nhân vật nói năng với lối tư duy và ứng xử riêng
trong những tình huống cụ thể. Đôi khi lời đối thoại còn được tác giả giới thiệu kèm
theo giọng nói, cách nói(20- tr 26).
Với mỗi loại văn, biện pháp này được sử dụng đậm đặc hay thưa thớt. Thơ trữ
tình hầu như không sử dụng đối thoại, kịch thì sử dụng đậm đặc đối thoại,văn xuôi
tự sự sử dụng đối thoại rất đa dạng, linh hoạt.
Đối thoại tạo sự khu biệt hoá, cá tính hoá các nhân vật. Có nghĩa là, những
đặc điểm riêng trong lời nói mỗi nhân vật (cách nói, lời nhân vật hay dùng, cử chỉ,
điệu bộ kèm theo). Có tác dụng phân biệt người này với người kia. Biện pháp này
giúp bạn đọc như nghe thấy nhân vật nói năng, tư duy ứng xử trong từng tình huống
cụ thể. Đôi khi lời đối thoại bộc lộ cả quan điểm, thể giới quan, nhân sinh quan của
nhân vật.
1.2.2.4. Biện pháp độc thoại.
Biện pháp độc thoại nội tâm cho biết tiếng nói thầm thì, ý nghĩ sâu kín chỉ
riêng nhân vật với mình bên trong. Đó là lúc nhân vật thật nhất(18- tr26). Trong tác
phẩm, biện pháp này thường được sử dụng khi nhân vật rơi vào hoàn cảnh éo le,
nhiều kịch tính,xung đột, rơi vào trạng thái cô lập, đòi hỏi nhân vật phải băn khoăn,
trăn trở để đưa ra quyết định cuối cùng. Cùng với những biện pháp khác cho thấy
hình thức bên ngoài của nhân vật, biện pháp độc thoại nội tâm hoàn thiện nhân vật ở

Hình thức của biện pháp này thường là để các nhân vật tự bàn luận, nhưng
thực chất nó chính là điểm nhấn trực tiếp của nhà văn để lưu ý bạn đọc một nội dung
quan trọng nào đó. Nhà văn dừng lại để cho các nhân vật đưa ra ý kiến nhận xét
đánh giá cùng chiều hoặc trái chiều, thể hiện những điểm nhìn phong phú về một
đối tượng hoặc nội dung xã hội thẩm mỹ cụ thể. Tham gia vào quá trình bàn luận
này, người đọc sẽ tự tìm ra nội dung tư tưởng chủ đề chiều sâu tư tưởng của nhà văn.
Nếu bàn luận là đoạn trữ tình ngoại đề thì triết lí được xem như một hình
thức diễn đạt ngắn gọn, độc đáo một chân lí sống, một kinh nghiệm sống, nào đó
dưới dạng những luận đề mang nội dung tự nhiên, tất yếu có tính quy luật. Nhà văn
xoáy sâu vào những vấn đề mà mình quan tâm bình luận về nó, từ đó khái quát
những quy luật của bản chất đời sống. Triết lý có khi do chính nhân vật nói ra (theo
quan niệm của nó). Cũng có khi do chính tác giả trực tiếp diễn đạt, song đôi lúc là
lời nửa trực tiếp khó phân biệt lời tác giả hay lời nhân vật. Nhưng dù ở hình thức
nào, nó cũng có tác dụng, xoáy sâu vào nội dung thông báo và bộc lộ những đặc
điểm những tính cách cá nhân.
1.2.2.7. Biện pháp đặt nhân vật vào xung đột kịch tính.
Đây là biện pháp mà ở đó, người nghệ sỹ đặt nhân vật của mình vào những
tình huống xung đột mang kịch tính. Xung đột này thể hiện ở sự mâu thuẫn giữa hai

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn

19


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

hay nhiều nhân vật với nhau. Mâu thuẫn mang tính triết học. Nó luôn được đẩy lên
đòi hỏi phải có biện pháp giải quyết. Biện pháp nghệ thuật này sử dụng triệt để mâu

20


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

đối với vấn đề được nói tới. Ngôn ngữ người kể chuyện đóng vai trò chủ yếu trong
việc dẫn dắt câu chuyện, từ những manh nha của mâu thuẫn, xung đột đến từng bước
giải quyết chúng trong tác phẩm. Lời nói trực tiếp của nhân vật (lời nhân vật đối
thoại hay độc thoại) phản ánh diễn biến của sự việc, lời nói thể hiện xung đột và sự
cởi mở, lời nói thể hiện vị trí xã hôị, nghề nghiệp tính tình, tư cách, dục vọng của
nhân vật và diễn biến của nó.
ở tác phẩm văn chương, mỗi yếu tố của lời nói nghệ thuật có ý nghĩa khác
nhau nhưng cùng bổ sung, hỗ trợ cho nhau để đạt tới dụng ý nghệ thuật của tác giả.
Lời nói trực tiếp của nhân vật có vai trò khắc họa những đặc điểm thuộc tính của
nhân vật. Nó lại được thể hiện thông qua ngôn ngữ của tác giả. Và chính ngôn ngữ
người kể chuyện có kết hợp với lời nhân vật đưa lại tính hoàn chỉnh thống nhất của
một chỉnh thể nghệ thuật.
Như thế với sự phân tích ba yếu tố của hình thức tác phẩm: kết cấu, các biện
pháp thể hiện nghệ thuật, lời nói nghệ thuật như trên, chúng tôi thấy mỗi yếu tố đều
góp phần vào xây dựng nhân vật trong tác phẩm. Vì vậy tìm hiểu nghệ thuật xây
dựng nhân vật chính là tìm hiểu ba mặt của hình thức tác phẩm.

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn

21


Khóa luận tốt nghiệp

hệ phức tạp với nhân vật trung tâm Đặng Phú Lân. Một mặt đây là hai nhân vật có

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn

22


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

quan hệ hậu thuẫn. Đó là quan hệ của những người cùng chiến tuyến, cùng trận địa,
là quan hệ vua tôi, quần thần. Nguyễn ánh hiểu được năng lực của mưu thần và đặt
niềm tin và năng lực đó. ánh đi đâu cũng cho Lân đi theo, nhiều khi xem ý lân để
xử thế với người, lần nào cũng trúng. Chính ông cũng khẳng định tài của Đặng Phú
Lân. lân là người có văn, có võ lại cương trực trung thành với chủ, cứ để hắn khu
xử. Sự đoàn kết tin tưởng này tạo ra sức mạnh cho lực lượng chính trị Nguyễn ánh.
Mặt khác, nhân vật này có quan hệ đối chọi ngấm ngầm với Đặng Phú Lân.
Bắt đầu là lòng ghen ghét đố kỵ tài năng. Ngay trong buổi chia lộc thánh sáng Mồng
một, Đặng Phú Lân khiến Nguyễn ánh khó chịu. ánh cau mày đáp: ta chỉ vỏn vẹn
có ba thước đất chôn thây thôi(23-tr 142). Khi Nguyễn Huệ chết Nguyễn ánh định
sai mở tiệc mừng, bị ra can ngăn. Ông tức: Nó chết, ta cũng không được cười ư?.
Đặng Phú Lân thì lại có cái nhìn công bằng với Nguyễn Huệ- kẻ tử thù của Nguyễn
ánh: Huệ không có tội gì, là một người tài, bị trời hành, cũng như chúa công vậy.
Huệ là một lực lượng(23-tr142). ánh nghe Lân nói vậy nghiến răng, rắp tâm trả
thù. Việc thứ ba Đặng Phú Lân khuyên Nguyễn ánh ham vui ít thôi, ông công
nhận đúng nhưng rất buồn rầu: Ngươi cứ ép ta, đến nay đã chín năm rồi Chúa
công mà có cảm giác bị thuộc hạ ép buộc, mối quan hệ ấy khó lâu bền. Đỉnh điểm
của sự lo sợ trước thuộc hạ là khi Nguyễn ánh gọi Đặng Phú lân vào múa kiếm.
Thanh bảo kiếm gia truyền và những đường kiếm khiến ông toát cả mồ hôi. Nguyễn

thần. Trong quan hệ với gia đình là người chồng đáng kính của các bà vợ tầm
thường, là người cha nghiêm khắc của lũ con ích kỷ đần độn. Với bọn cung tần
mỹ nữ trẻ ông bất lực. Với thực trạng hiện tại: Ông biết rõ cái triều đình thiển cận
do ông dựng lên, biết rõ quốc gia mình nghèo đói(23- tr150)
Trong con mắt của Phăng: Ông trải đời ghê gớm. Triết lý của ông là
Thời khắc đang sống là đáng kể. Vua Gia Long không thèm đại diện cho ai ông
chỉ chịu trách nhiệm với mình, là một khối nguyên liệu lớn. Vua Gia Long khủng
khiếp ở khả năng bỡn cợt tạo hoá. Không quan tâm tới Nguyễn Du, coi như một con
vật tốt trong bầy đàn ông chăn dắt. Bản chất của Gia Long bị vạch trần luôn trong
từng mối quan hệ, từ gia đình đến dân tộc quốc gia, được người nước ngoài kia định
tính, gọi tên từ bản chất.
Trong hồi ký của người Bồ Đào Nha, vua Gia Long xuất hiện gián tiếp bằng
hình ảnh Phăng giơ cao tấm thẻ tín bài nhưng vô hiệu. Nghĩa là trước mâu thuẫn
nguồn tài nguyên quý hiếm của đất nước bị khai thác, bị mất, nhân dân sẵn sàng đối
chọi lại, không kể cả luật lệ của nhà vua.
Đoạn kết là cách nhìn riêng của người kể chuyện. Người kể chuyện không
đưa ra ý kiến của mình mà xin hiến cho bạn đọc ba đoạn kết. Đoạn kết 1: Gia

Lớp K29H - Khoa Ngữ văn

24


Khóa luận tốt nghiệp

Lê Thị Kim Liên

Long đầu độc Phăng chết. Đoạn kết 2: Gia Long để cho Phăng cùng người vợ Việt
về Pháp và bắt đầu từ đây mới là sự bắt đầu lịch sử quốc gia người Việt, khi này
biên giới phân định, chữ viết có từ gốc chữ la-tinh phổ biến (21-tr155). Đoạn kết




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status