Ngôn từ trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh của bảo ninh - Pdf 31

Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, bởi lẽ ngôn từ là chất liệu, là phương
tiện biểu hiện chủ yếu mang tính đặc trưng của văn học. Nói như Gorki “Yếu
tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và - cùng với
các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống – là chất của văn học”. Như vậy,
không có ngôn từ thì không có tác phẩm văn học, bởi ngôn từ đã vật chất hóa,
cụ thể hóa sự biểu hiện của chủ đề, tư tưởng, cốt truyện...
Với tiểu thuyết, một thể loại tiêu biểu của văn xuôi nghệ thuật thì ngôn
từ lại càng đóng vai trò quan trọng, phân biệt tiểu thuyết với các thể loại văn
học khác và làm nên diện mạo của thể loại. Chính vì vậy, khi khám phá một
tác phẩm văn học nói chung, một tiểu thuyết nói riêng thì tìm hiểu ngôn từ
nghệ thuật có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Văn học là bức tranh chân thực phản ánh đời sống. Theo dòng chảy của
thời gian và lịch sử, văn học cũng có những thay đổi cho phù hợp với cuộc
sống mới, với nhu cầu thị hiếu, thẩm mĩ mới. Đổi mới văn học được coi là
vấn đề tất yếu, là thường xuyên, liên tục, là nhu cầu cần thiết cho sự tồn tại và
phát triển. Quá trình đổi mới văn học diễn ra đặc biệt sôi nổi từ Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) với tinh thần dân chủ, nhìn thẳng vào sự thật
đã thật sự thổi một luồng gió mới vào đời sống văn học, đem đến cho văn học
một bộ mặt đa dạng, phong phú và sâu sắc, nhất là trong lĩnh vực văn xuôi với
các tác giả Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,
Bảo Ninh... Bên cạnh sự đổi mới về nội dung thì tiểu thuyết đương đại được
ghi nhận bởi sự cách tân độc đáo, mới mẻ, sáng tạo về nghệ thuật, đặc biệt ở
khía cạnh khai thác ngôn từ như lời văn nghệ thuật, đặc điểm các từ ngữ, câu
văn, các thủ pháp sáng tạo về ngôn từ...

Khóa luận tốt nghiệp


đầu với người dạy văn. Bởi, chỉ khi có một năng lực tư duy nhạy bén và thành
thục với các thao tác giảng dạy tác phẩm, người giáo viên mới có thể giúp học
sinh đến được với cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương.

Khóa luận tốt nghiệp

8

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngay sau khi xuất hiện trên thi đàn năm 1990 với nhan đề Thân phận
của tình yêu, tác phẩm của Bảo Ninh đã gây ra một làn sóng trong dư luận.
Một năm sau đó, tác phẩm của Bảo Ninh đã được tái bản với tiêu đề do chính
tác giả đặt lại Nỗi buồn chiến tranh và được tặng giải thưởng của Hội nhà
văn Việt Nam. Khác với những tiểu thuyết được trao giải trong năm này
(Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không
chồng của Dương Hướng ), sự lựa chọn của hội đồng xét giải dành cho tác
phẩm của Bảo Ninh đã khiến cho Nỗi buồn chiến tranh trở thành một trong
những lựa chọn bị tranh cãi nhiều nhất. Tính phức tạp của những đánh giá về
tác phẩm được thể hiện ngay trong cuộc tọa đàm về cuốn tiểu thuyết do Hội
nhà văn và tuần báo Văn nghệ tổ chức trong năm 1991 và một loạt các bài
viết sau tọa đàm.
Trong cuộc thảo luận về cuốn tiểu thuyết, ban tổ chức đã nhận định:
“Đây là một trong số ít tác phẩm được dư luận chú ý và đã gây nhiều luồng ý
kiến nhận xét khác nhau, thậm chí trái ngược nhau”. Nguyễn Phan Hách
khen:“Một tác phẩm văn chương đích thực, văn đẹp lắm, cực đẹp lắm, chi tiết

Trong cuốn Thi pháp hiện đại, với bài viết Thân phận tình yêu của
Bảo Ninh, nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu đã đánh giá cao về tác phẩm, về
ngôn từ nghệ thuật cũng như vai trò của nhà văn:“Thân phận tình yêu hay
Nỗi buồn chiến tranh là một hiện tượng ngôn từ lạ lùng mang tính đa thanh,
tính đối thoại..., là một cuộc phiêu lưu muốn nhập vào văn học hiện đại thế
giới” [13; 271]. Tuy vậy, việc đánh giá ở đây mới ở mức khái quát, chưa đi
sâu vào phân tích cụ thể, chi tiết các yếu tố ngôn từ của tác phẩm.
Tác giả Nguyễn Đăng Điệp với bài Kĩ thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn
chiến tranh của Bảo Ninh (in trong cuốn Tự sự học – một số vấn đề lí luận
và lịch sử) đã có những nghiên cứu rất sâu về kĩ thuật dòng ý thức – một thủ
pháp trần thuật rất đặc sắc của Bảo Ninh ở tiểu thuyết này: “Ở Việt Nam, cũng
từng có một số nhà miêu tả dòng ý thức nhân vật nhưng phải đến Nỗi buồn
chiến tranh thì kĩ thuật dòng ý thức được vận dụng triệt để trở thành nguyên
tắc nghệ thuật chi phối cách tổ chức của tác phẩm” [7; 121].
Bên cạnh đó, một số bài viết trong công trình hợp tuyển những bài
nghiên cứu văn học với tiêu đề Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn
đề nghiên cứu và giảng dạy cũng quan tâm tới tác phẩm ở nhiều bình diện

Khóa luận tốt nghiệp

10

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

khác nhau. Nguyên Ngọc trong bài Văn xuôi Việt Nam hiện nay – logic
quanh co của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng cho
rằng: “Về mặt nghệ thuật, Nỗi buồn chiến tranh là thành tựu cao nhất của



Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

một cách toàn diện, sâu sắc. Tìm hiểu sâu ngôn từ nghệ thuật của Nỗi buồn
chiến tranh, tác giả luận văn muốn góp phần tạo thêm cơ sở vững chắc vào
việc khẳng định tài năng của Bảo Ninh, đồng thời qua đó thấy được sự cách
tân của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của khóa luận là tìm tòi, phát hiện những nét độc đáo của ngôn
từ trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; chỉ ra những thủ
pháp tiêu biểu trong sáng tạo ngôn từ của nhà văn, tất nhiên không tách rời nó
với việc thể hiện, làm sáng tỏ giá trị nội dung của tiểu thuyết.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Xuất phát từ việc nắm vững những kiến thức về ngôn từ văn học nói
chung và ngôn từ trong tiểu thuyết nói riêng, khóa luận có nhiệm vụ chỉ ra
những đặc điểm cơ bản về ngôn từ trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh.
3.2.2. Khóa luận đi sâu phát hiện những sáng tạo độc đáo về ngôn từ của nhà
văn và hiệu quả nghệ thuật của những sáng tạo đó trong khi thể hiện nội dung
tác phẩm.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Ngôn từ nghệ thuật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo
Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Nxb Văn học, 2007
và những công trình nghiên cứu, phê bình liên quan đến tác phẩm.


Từ những kết quả phân tích, phương pháp này yêu cầu người nghiên cứu
phải tổng hợp lại các kết quả đã tìm thấy để đưa ra những kết luận chung nhất.

Khóa luận tốt nghiệp

13

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

6. Đóng góp của khóa luận
6.1. Trên cơ sở những kiến thức lí luận cơ sở, khóa luận chỉ ra những nét độc
đáo về tổ chức ngôn từ trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.
6.2. Phát hiện và phân tích những thủ pháp sáng tạo ngôn từ trong tiểu thuyết
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Với những phát hiện này, khóa luận
khẳng định đóng góp to lớn của Bảo Ninh trong hành trình cách tân thể loại
tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đặc biệt là về mặt ngôn từ.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, nội dung chính của
khóa luận sẽ được triển khai thành các chương sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn
ngữ tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975
Chương 2: Đặc điểm ngôn từ trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh
Chương 3: Một số thủ pháp sáng tạo ngôn từ trong tiểu thuyết Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh

Khóa luận tốt nghiệp

dùng để diễn đạt ý nghĩ, diễn đạt tình cảm nảy sinh trong hoàn cảnh nhất định
một cách cảm tính thì ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống tín hiệu thứ hai, được
cấu tạo từ hệ thống tín hiệu thứ nhất, có nhiệm vụ thể hiện tư tưởng của tác

Khóa luận tốt nghiệp

15

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

phẩm. Ngôn ngữ tự nhiên có chức năng giao tiếp là chủ yếu, còn chức năng
thứ yếu là chức năng thẩm mĩ. Nhưng đối với ngôn ngữ nghệ thuật, chức năng
thẩm mĩ lại là chức năng cơ bản,quan trọng nhất. Đó là ngôn ngữ giàu tính
hình tượng nhất, giàu sức biểu hiện nhất, được tổ chức một cách đặc biệt để
phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng tình cảm và tác động thẩm mỹ tới người
đọc.
Ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện đầy đủ nhất và nổi bật nhất của ngôn
ngữ văn hóa toàn dân. Nó được hoàn thiện nhờ tài năng và khả năng sáng tạo
của nhà văn. Những nhà văn nổi tiếng là những nhà văn có phong cách nghệ
thuật riêng, ngôn ngữ riêng. Qua ngôn ngữ nghệ thuật mà người đọc khám
phá được tư tưởng, quan niệm của nhà văn gửi gắm trong tác phẩm, đồng thời
thấy được phong cách cá nhân của nhà văn đó. Ngôn ngữ nghệ thuật là tinh
hoa của ngôn ngữ văn hóa, ngôn ngữ toàn dân. Nhưng ở một khía cạnh nào
đó, ngôn ngữ nghệ thuật còn phong phú hơn ngôn ngữ toàn dân.
1.1.2. Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật
Bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi thông tin mà ngôn ngữ ra đời, bắt nguồn
từ nhu cầu thưởng thức cái hay, cái đẹp mà văn học ra đời. Ngôn ngữ văn học

Tính chính xác của ngôn ngữ nghệ thuật xuất phát từ một yêu cầu rất
quan trọng của văn học là nó phải phản ánh hiện thực một cách chân thực, đầy
đủ như nó vốn có. Giống như nhà bác học Lê Quý Đôn đã từng nói “Văn
muốn hay trước hết phải đúng”. Nói rõ hơn, đây chính là khả năng của ngôn
ngữ văn học có thể biểu hiện đúng điều mà nhà văn muốn nói, miêu tả đúng
cái mà nhà văn muốn biểu hiện. Tính chính xác là một đặc trưng cơ bản đầu
tiên của ngôn ngữ nghệ thuật.
Tính hình tượng là khả năng gợi lên những hình tượng nghệ thuật đưa ta
thâm nhập vào thế giới của những cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng. Tính hình
tượng của ngôn ngữ thể hiện ở nhiều mặt như các loại từ, các phương thức
chuyển nghĩa để soi sáng một vật này qua vật khác. Ngôn ngữ nghệ thuật
không chấp nhận những mô hình có sẵn mà tính hình tượng của nó thể hiện ở
sự thống nhất giữa mặt tạo hình và mặt biểu đạt của văn bản ngôn từ. Hai
bình diện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong việc tạo thành một tác
phẩm nghệ thuật hoàn hảo.

Khóa luận tốt nghiệp

17

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

Văn bản nghệ thuật cũng là một cấu trúc có tính hệ thống. Trong một tác
phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh phải có mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu trúc bề
mặt và cấu trúc bề sâu. Là sự kết hợp hữu cơ giữa văn bản ngôn từ (về mặt
hình thức biểu đạt, chất liệu), hệ thống hình tượng (thành tố trung gian gắn bó
thành tố và nội dung) và các lớp nội dung ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật

Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

như Nguyễn Huy Thiệp đã dùng giọng nói châm biếm, mỉa mai hài hước cay
độc để phơi bày những cái xấu xa, đồi bại, tha hóa, lố bịch của con người trên
trang giấy của mình. Phạm Thị Hoài lại dùng lối văn phê phán phủ định, trào
phúng, bắt người đọc phải suy nghĩ, trăn trở, day dứt và luôn cảm thấy không
yên ổn. Vậy, có thể thấy với những đặc tính trên thì ngôn ngữ nghệ thuật
không đơn thuần là phương tiện hình thức, là cái vỏ ngôn ngữ mà nó là hình
thức mang tính nội dung.
1.1.3. Các thành phần cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật
Nếu như trong thơ trữ tình, kiểu nói duy nhất thống lĩnh toàn bộ thế giới
nghệ thuật là lời trực tiếp của nhân vật trữ tình thì trong văn xuôi tự sự các
kiểu lời lại phong phú hơn nhiều: Ngôn ngữ nhân vật có lời đối thoại, lời độc
thoại, độc thoại nội tâm; Ngôn ngữ trần thuật có lời kể, lời tả, lời bình luận trữ
tình, các kiểu lời trung gian như lời nửa trực tiếp, sự đan xen các kiểu lời. Tùy
thuộc vào các chức năng của mỗi kiểu lời và khả năng vận dụng của mình
mỗi nhà văn lại sử dụng và phát huy các kiểu lời ấy trong quá trình sáng tạo
nghệ thuật.
1.2. Vài nét về ngôn ngữ tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam
sau năm 1975
1.2.1. Ngôn ngữ tiểu thuyết
Milan Kundera trong cuốn Thi pháp văn xuôi đã từng phát biểu: “Thời
hiện đại là thời ra đời của tiểu thuyết. Khi thế giới tồn tại nhiều tâm lý, nhiều
niềm tin mà con người chia lấy cho cho nhau, ấy là lúc tiểu thuyết ra
đời...Tiểu thuyết chính là mô hình, là hình ảnh của thế giới hiện đại” [35;
102]. Thật đúng như vậy, mỗi thể loại văn học gắn với một thời đại lịch sử
đặc thù. Thời cổ đại gắn với sử thi, anh hùng ca bất hủ, thời cổ điển gắn với
những bi kịch mẫu mực, còn thời đại ngày nay thì gắn liền với tiểu thuyết.

Khóa luận tốt nghiệp

Sau năm 1975, nền văn học Việt Nam có những đổi mới và biến chuyển
sâu sắc cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện để phù hợp với đời sống mới. Sự
đổi nới trong văn chương diễn ra trên nhiều phương diện: Từ quan niệm về
hiện thực phản ánh, quan niệm nghệ thuật về con người đến các phương thức
biểu hiện phong phú. Trong số các thể loại văn học, văn xuôi được ghi nhận

Khóa luận tốt nghiệp

20

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

là có nhiều đổi mới nhất cả về số lượng và chất lượng, cả bề rộng lẫn bề sâu.
Tiểu thuyết giống như người khổng lồ của nền văn xuôi hiện đại, nơi tập
trung nhiều thành tựu rực rỡ nhất, đã ghi nhận những thử nghiệm đổi mới và
thành công bước đầu. “Sự đổi mới về ngôn ngữ” được coi là một trong những
yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công đó. Khi tìm hiểu về văn xuôi Việt
Nam nói chung, tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nói riêng, sẽ thật là thiếu xót
nếu ta không tìm hiểu về ngôn ngữ và sự đổi mới của nó. Có thể thấy, ngôn
ngữ văn xuôi Việt Nam sau 1975 có một số đặc điểm cơ bản sau:
1.2.2.1. Ngôn ngữ đậm chất hiện thực, đời thường
Nói về ngôn ngữ văn chương sau 1975, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị
Bình nhận xét: “...Chưa bao giờ ngôn ngữ văn chương gần với ngôn ngữ sinh
hoạt – thế sự đến thế. Chưa bao giờ trong văn chương (Kể cả thơ, kịch, phim)
những câu chửi thề, chửi tục, lối nói trần tục, bụi bặm, dân dã xuất hiện nhiều
đến thế...” [3; 173]. Thực vậy, các nhà văn thời kì này có khát vọng diễn đạt
cái thô nhám, đời thường, phức tạp của đời sống, nơi con người là những cá

vũ chiến đấu như trước nữa mà trở về với nhiệm vụ soi rõ từng ngóc nghách
tâm hồn của con người. Từ đó, nhu cầu tăng cường tốc độ và lượng thông tin
trong văn học được đặt ra như một đòi hỏi chính đáng và tất yếu ở thời đại
“bùng nổ thông tin”, thời đại công nghệ kĩ thuật cao và chuyển động “siêu
tốc”, phù hợp với nhịp độ của cuộc sống hiện đại, với guồng quay của cơ chế
thị trường.
Ngôn ngữ văn xuôi sau năm 1975 có sự tăng cường đáng kể tính tốc
độ. Ta bắt gặp trong văn xuôi thời này những mạch truyện dồn dập, lối vào
truyện nhanh, đặc biệt là vai trò của đối thoại trong việc mở rộng cốt truyện,
dẫn dắt liên tưởng, tạo ra cảm giác căng của mạch truyện. Tính tốc độ cũng
thể hiện ở lối liệt kê miên man, giản lược lời bình, đánh giá, ở sự đậm đặc các
chi tiết như trong văn của Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Huy
Thiệp... Nó phục vụ cho nhu cầu diễn tả đời sống thường nhật, xô bồ, hỗn tạp,
bề bộn, lo toan, chồng chéo các quan hệ như một dòng chảy sôi sục...
Tăng cường tính tốc độ cũng là làm tăng khả năng thông tin cho ngôn
ngữ. Điều đó đồng nghĩa với việc biết dung nạp những thành phần ngôn ngữ
mới, biết sử dụng các điển cố văn học mới trên cơ sở “tiền giả định” đúng đắn
về trình độ tri thức của độc giả. Với người có đủ tri thức, văn hóa, ngoại ngữ
thì những khái niệm khoa học như “chuỗi xoắn kép”, “đột biến”, “bức xạ

Khóa luận tốt nghiệp

22

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

nhiệt”..., những phạm trù tư tưởng tôn giáo như “lễ rửa tội”, “thiên sứ”, hoặc


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

mang giọng trần thuật chủ đạo là trầm tĩnh khách quan. Từ khoảng giữa thập
kỉ tám mươi nổi lên giọng phê phán, phân tích xã hội với sự phát triển ồ ạt của
dòng văn học chống tiêu cực. Giọng điệu này chứa đựng nhiệt tình sôi nổi,
nhu cầu đối thoại ráo riết về các vấn đề xã hội mà ý thức công dân vừa thức
tỉnh theo tinh thần dân chủ đổi mới. Sau đó, giọng phê phán trầm xuống và
hòa đồng trong rất nhiều giọng điệu.
Nói một cách khác, nếu như văn xuôi nước ta từ 1945 đến 1975 tương
đối nhất quán về giọng điệu ngợi ca, khẳng định, tin tưởng thì trước hiện thực
cuộc sống mới, văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 đã có sự đa dạng về giọng
điệu. Đó là giọng giễu nhại, hoài nghi, chất vấn, từng trải, chiêm nghiệm với
nhiều sắc thái, biên độ khác nhau. Ngay trong một tác phẩm cũng xuất hiện
những giọng nói, ngữ điệu khác nhau: Khi thì hoài nghi, chất vấn, đay đả, lúc
lại bỡn cợt, giễu nhại, vạch trần, coi thường mọi chuẩn mực. Sự phối kết
nhiều chất giọng cũng thể hiện rõ những cách tân của ngôn ngữ văn xuôi
đương đại so với giai đoạn trước.
Sự linh hoạt, phong phú của giọng điệu trần thuật cũng chính là nhu cầu
tự nhiên để người viết tự làm mới mình. Khái quát mà nói sự mới lạ, đa dạng
của giọng điệu cũng là phương tiện quan trọng để tác giả thể hiện một cách
sinh động cái đa đoan của con người, đa sự của cuộc sống.
Như vậy, ngôn ngữ nghệ thuật với các đặc trưng cơ bản (tính chính
xác, tính hình tượng, tính cấu trúc, tính hệ thống, tính cá thể hóa) vừa là yếu
tố hình thức với ý nghĩa là phương tiện, chất liệu của văn học, vừa là nội dung
với ý nghĩa là cá tính, cảm quan, tư tưởng của nhà văn. Và trong sự đổi thay
của văn học sau 1975 nói chung và tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói riêng,

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
Ngôn từ là tấm thảm mà người nghệ sĩ dệt nên trong toàn bộ chiều dài
tác phẩm văn chương. Nó bao gồm ngôn ngữ trần thuật – người kể chuyện và
ngôn ngữ nhân vật. Mỗi thành phần này có vai trò khác nhau nhưng lại hỗ trợ,
bổ sung cho nhau. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ tác giả và ngôn
ngữ nhân vật giúp câu chuyện trở thành một chỉnh thể thống nhất, một sinh
thể nghệ thuật giúp bạn đọc hiểu hơn về nhân vật, về thế giới truyện, hiểu
được ý tưởng của nhà văn.
2.1. Đặc điểm của ngôn ngữ trần thuật
Ngôn ngữ trần thuật là con đường mà nhà văn truyền tải ý tưởng, quan
điểm của mình về các vấn đề của đời sống. Từ điển thuật ngữ văn học định
nghĩa: “... Ngôn ngữ người trần thuật là phần lời độc thoại thể hiện quan
điểm tác giả hay quan điểm người kể chuyện đối với cuộc sống được miêu tả,
có những nguyên tắc thống nhất trong việc lựa chọn và sử dụng các phương
tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ... Ngôn ngữ người trần thuật chẳng
những có vai trò then chốt trong phương thức tự sự mà còn là yếu tố cơ bản
thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác
giả...” [10; 212 – 213]. Và có thể thấy trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo
Ninh, ngôn ngữ trần thuật có nhiều điểm rất đáng chú ý, tạo nên sự thành
công của tác phẩm.
2.1.1. Ngôn ngữ trần thuật thông qua các điểm nhìn
Trần thuật là một phương thức đặc trưng của các loại tác phẩm tự sự. Nó
cũng là yếu tố nghệ thuật quan trọng tạo nên tính hấp dẫn riêng cho tác phẩm

Khóa luận tốt nghiệp

26

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


Khóa luận tốt nghiệp

27

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

Ngôn ngữ người trần thuật chính là ngôn ngữ người kể chuyện. Đây là
hình tượng ước lệ trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện
được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm. Trong Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh, ta thấy xuất hiện hai nhân vật người kể chuyện: Người kể
chuyện xưng “tôi” và nhân vật Kiên. Nhân vật Kiên tự nhìn, tự kể lại cuộc
đời mình trong những năm tháng trước, trong và sau chiến tranh, và nhân vật
tôi kể lại quá trình sáng tác cuốn tiểu thuyết của anh – cuốn tiểu thuyết có
những khuôn mặt, những mảnh đời đã trở thành ám ảnh trong anh. Sự lồng
ghép giữa hai điểm nhìn trần thuật này chính là hình thức nhận thức lại, đánh
giá thêm về cuộc sống vốn không hề đơn giản chút nào. Hai người kể chuyện
này thực hiện những nhiệm vụ riêng, với thứ ngôn ngữ riêng, những xứ mệnh
nghệ thuật riêng nhưng cùng nhau trần thuật trọn vẹn cuốn tiểu thuyết.
2.1.1.1. Ngôn ngữ trần thuật qua điểm nhìn của nhân vật Kiên
Có thể dễ dàng nhận thấy, ngôn ngữ trần thuật trong Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh chủ yếu được hiện lên từ ngôi thứ ba – “Kiên” hoặc
“anh”. Tin cậy trao điểm nhìn trần thuật cho nhân vật là quan niệm rất mới
của Bảo Ninh về vai trò của nhân vật. Chọn cái nhìn trần thuật từ nhân vật
Kiên, một người mang thương tật bởi chiến tranh cả thể xác lẫn tâm hồn,
ngôn ngữ của Bảo Ninh đã góp phần nhìn nhận chiến tranh bằng con mắt của
người trong cuộc “cuộc chiến tranh của riêng anh”. Từ đó, qua ngôn ngữ
trần thuật, ta thấy chiến tranh đối với một người lính từng vào sinh ra tử khác

này thì chết hoại tình người” [23; 33].
Kiên đã viết về cuộc chiến tranh, về tình yêu của những người lính
bằng chính ngôn ngữ và nhịp đập trái tim của người trong cuộc. Những cuộc
hoang tình trong rừng đêm của trung đội trinh sát, anh là người chứng kiến
nhưng anh không lên tiếng, trái tim anh buộc anh phải im lặng. Được viết
bằng điểm nhìn như thế nên lời văn chứa đựng bao cảm thông: “Lí ra là chỉ
huy, anh cần ngăn chặn hiện tượng vô kỉ luật này, cần phải như người ta
thường nói, uốn nắn, chấn chỉnh, lập lại nề nếp, khuân khổ, đạo đức tác
phong... Song trái tim, trái tim của anh, trái tim thực thụ của những người
lính chiến không đời nào cho phép anh ra tay hành động như vậy. Không
nhưng năn nỉ anh mà nó buộc anh phải im lặng, buộc anh phải hết lòng cảm
thông chứ còn biết làm thế nào khác được, trước tiếng gọi man sơ, hoang dã
của tuổi thanh xuân...” [23; 32].

Khóa luận tốt nghiệp

29

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội


Nguyễn Thị Phương Thảo – K32A Ngữ văn

Nhìn chiến tranh bằng đôi mắt của người lính trực tiếp chiến đấu ở
chiến trường nên Kiên thấy được cả phần khốc liệt, lẫn đau thương, thê thảm,
rùng rợn và cả tình người chan chứa lòng nhân ái, đức hi sinh nơi ấy. Đó là
cái chết của “Tạo voi”, của “Tâm”, của “Hòa” – cô giao liên nhỏ đã chết để
giữ an toàn cho đồng đội. Viết về họ, nói về họ không phải ai khác mà chính
là Kiên. Điểm nhìn về chiến tranh tác giả trao cho chính Kiên – một người
lính binh nhì, giúp cho ngôn từ miêu tả chiến tranh trở nên chân thực với bao

đó, thấy được Bảo Ninh thật tài tình khi viết về mối tình bất diệt, nhiều hạnh
phúc nhưng cũng nhiều khổ đau của đôi trai gái trong chiến tranh ác liệt.
Không ai có thể nói về tình yêu như thứ ngôn ngữ của người đang yêu: “
Thân hình mềm mại, thơm mát và nóng hổi, chân thành và mù quáng, đầy
cuồng bách của Phương đã nhốt chặt anh vào” [23; 149]... “Kiên run rẩy,
đêm hè mát rượi, mà trán và lưng anh ướt mồ hôi. Tràn ngập nỗi sợ hãi và
lòng thương mến, anh xiết chặt eo Phương. Anh cảm thấy yếu đuối, mờ mịt.
Tình yêu. Sự tôn thờ quy phục. Anh không sợ. Nhưng anh không thể. Anh
không dám...”[23; 154]. Đó là Phương, là tình yêu của Phương và Kiên, của
buổi chiều tháng tư cô cùng anh bước vào cuộc chiến tranh đau đớn và ê chề
vật vã. Giông tố cuộc đời không thể xô Phương xuống vực mà nàng vẫn vươn
lên ngời sáng, vẫn lung linh trong sắc đẹp của thần vệ nữ, như một tác phẩm
điêu khắc mềm mại, như một bài thơ giữa những mư bom, cột lửa, những cột
khói đặc sánh... Tình yêu của Phương, khoảnh khắc bất tử ấy theo anh suốt
cuộc đời chinh chiến và tỏa hương trên những trang tiểu thuyết. `
2.1.1.2. Ngôn ngữ trần thuật qua điểm nhìn của các nhân vật khác
Chuyển điểm nhìn sang các nhân vật khác là hình thức tạo nên cái nhìn
nhiều chiều về hiện thực, tránh sự phiến diện... Bảo Ninh lúc thì trần thuật từ
phía Kiên, lúc lại trao điểm nhìn cho Can, Phán, cho nhân vật xưng tôi...
Ngôn ngữ trần thuật từ đó trở nên đa chiều hơn, khách quan hơn và gần với sự
thật hơn.
Người kể chuyện xưng “tôi” trình bày công việc sắp xếp lại chồng bản
thảo vô tình có được và tự bộc lộ suy tư của mình về Kiên và công việc của
Kiên. Nhân vật này hoàn toàn giấu mặt, từ đầu đến trang 281 không một lần
ta thấy xuất hiện ngôn ngữ người kể chuyện trực tiếp. Ngôn ngữ của người kể
chuyện ngôi thứ nhất là trung hòa, không bộ mặt, không sắc thái, không tình
cảm... Chủ thể trần thuật ở đây là Kiên (anh) chứ không phải là “tôi nghĩ”,

Khóa luận tốt nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status