Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Vò ThÞ HuÖ – K31A V¨n
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
**********
VŨ THỊ HUỆ
CẢM THỨC “ĐI TÌM THỜI GIAN
ĐÃ MẤT” TRONG TIỂU THUYẾT
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
CỦA BẢO NINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TH.S NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH
HÀ NỘI - 2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
1
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Vò ThÞ HuÖ – K31A V¨n
KHOA: NGỮ VĂN
**********
Tỏc gi khoỏ lun
V Th Hu
3
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Huệ K31A Văn
LI CAM OAN
Tụi xin cam oan õy l cụng trỡnh nghiờn cu ca riờng
mỡnh. Nhng ni dung ó trỡnh by trong khoỏ lun l trung
thc v cha tng c ai cụng b trong bt kỡ cụng trỡnh
khoa hc no khỏc. Nu sai tụi xin hon ton chu trỏch nhim.
H Ni, ngy 10 thỏng 5 nm 2009
Tỏc gi khoỏ lun
V Th Hu
MC LC
M U
4
Khoá luận tốt nghiệp
NI DUNG
CHNG 1: NHNG VN CHUNG
8
1.1 Khỏi quỏt v ti chin tranh cỏch mng trong
vn hc Vit Nam.
8
1.2 V trớ tiu thuyt Ni bun chin tranh ca Bo Ninh
trong i sng vn hc ng i Vit Nam
11
CHNG 2: NHN VT TRONG CM THC
I TèM THI GIAN MT
14
2.1 Khỏi lc v nhõn vt vn hc
14
2.2 Nhõn vt Kiờn trong cm thc i tỡm thi gian ó mt
17
2.2.1 Dũng kớ c v nhng ngi thõn trong gia ỡnh
M U
1. Lý do chn ti
5
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Huệ K31A Văn
1.1 Tiu thuyt cú sc mnh ca mt v khớ tm xa, sc n mnh m. Nú cú
kh nng bao quỏt mt mng hin thc rng ln to nờn mt bc tranh ton
cnh ca mt giai on, mt thi kỡ lch s. Nú cú sc khỏm phỏ nhng
ngun mch bin chng ca tõm hn, soi sỏng c cỏi Thin v cỏi c; cao
c v thp hốn (Tiu thuyt v thc ti hụm nay - Nguyn Minh Tn, Tp chớ
Nghiờn cu Vn hc, s 10/2007). Trong tiu thuyt giai on 1945 - 1975,
chõn dung ngi lớnh l i tng hng n ca ngi ngh s, h c
phn ỏnh t nhiu gúc , nhiu phng din khỏc nhau, cú nhng din mo,
c im, tớnh cỏch v nhng suy ngh khỏc nhau mi mt thi kỡ, mi mt
giai on ca cuc chin. Tuy nhiờn, h u l con ngi ca cng ng,
chin u, hi sinh vỡ mt mc tiờu, lớ tng chung. Vỡ th, tiu thuyt vit v
ngi lớnh thi kỡ ny m mu sc s thi, õm hng ngi ca l ch o.
Ni tip mch ngun y, chõn dung ngi lớnh trong tiu thuyt hu
chin li c tip cn t mt gúc khỏc. t nc ho bỡnh, ngi lớnh tr
v cuc sng bỡnh thng khụng phi tt c nhng s ụng h l ngi tr
v, l nhng ngi i t trong rng ra. Ngi chin thng tr v khụng cú
ngha l s tip tc sng trong vng ho quang rc r, cuc sng bỡnh yờn m
y ry th thỏch. Núi nh Nguyn Khi: Chin tranh nỏo ng, n o m cú
cỏi gỡ yờn tnh ca nú. Ho bỡnh m li cht cha nhng súng ngm, giú xoỏy
bờn trong. Vn hc chin tranh gi õy nghiờng hn v kiu ngi cỏ nhõn,
2. Lch s vn
Vn hc l tm gng phn ỏnh i sng, qua vn hc ta nhn ra cỏc
mng hin thc cú c nh sỏng xen Búng ti, lũng v tha, s ớch k. Nh vn
Thch Lam rt cú lớ khi cho rng: i vi tụi, vn chng khụng phi l cỏch
em n cho ngi c s thoỏt li hay s quờn. Trỏi li, vn chng l mt
th khớ gii thanh cao v c lc m chỳng ta cú va t cỏo v thay i
mt th gii gi di v tn ỏc, va lm cho lũng ngi c c thờm trong
sch v phong phỳ hn.
Tiu thuyt Ni bun chin tranh ca Bo Ninh l mt trong nhng tỏc
phm t ra nhiu vn v i sng, xó hi, con ngi. Nú hin din nh
mt b cha ngm trong lũng t khin cho nhiu ngi mun thỏm him,
khỏm phỏ vi nhng con ng khỏc nhau v kt qu thu c cng vụ cựng
7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Vò ThÞ HuÖ – K31A V¨n
phong phú, đa dạng. Nảy mầm trên cánh đồng hiện thực của cuộc chiến tranh
chống Mỹ, tác phẩm của Bảo Ninh thể hiện một cái nhìn mới về cuộc chiến
đã qua. Nhà văn đã nhìn cuộc chiến từ mặt sau của tấm huân chương, nhìn
sâu vào những đau thương, mất mát của hiện thực lịch sử. Phải chăng khi viết
tiểu thuyết này, tư tưởng của ông đã bắt gặp tư tưởng của Vũ Trọng Phụng:
Đối với tôi, tiểu thuyết phải là sự thật ở đời. Vì thế mà cuốn tiểu thuyết có
một sinh mệnh không bình yên?
Ngay sau khi xuất hiện trên văn đàn vào năm 1990 với nhan đề Thân
phận tình yêu, tác phẩm của Bảo Ninh đã gây ra một làn sóng trong dư luận.
Một năm sau đó, tác phẩm được tái bản với tiêu đề do chính tác giả đặt lại Nỗi
Bảo Ninh ý thức sâu sắc giá trị cuộc sống, những hi sinh mất mát của ngày
hôm qua. Những trang viết vì thế chân thực thể hiện trải nghiệm của một nhà
văn - chiến sĩ.
Tác giả Nguyễn Phan Hách khẳng định: “Nỗi buồn chiến tranh là một
tác phẩm văn chương đích thực, văn đẹp lắm, cực đẹp lắm, chi tiết tuyệt vời
gây ấn tượng không thể nào quên. Những chi tiết gợi bóng dáng một tác phẩm
lớn” [15].
Tác giả Lê Quang Trung lại khẳng định: “Tác giả cố gắng là người
không chịu đi trên lối mòn. Có sử dụng kết hợp giữa tính huyền thoại và chân
thực. Thi pháp đồng hiện sử dụng có hiệu quả nối liền hiện thực và quá khứ;
kí ức xa và gần; ý thức và vô thức. Tất cả thông qua dòng ý thức của Kiên
làm nên số phận các nhân vật” [15].
Tác giả Trần Đình Sử nhận xét trong con mắt nhà Thi pháp học: “Thân
phận tình yêu của Bảo Ninh mang lại góc nhìn mới về chiến tranh. Tác phẩm
kéo theo sự đổi mới trong thi pháp nhà văn. Bảo Ninh đã đóng góp đáng kể
nhiều mặt cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” [19].
Trong cuốn Thi pháp hiện đại với bài viết “Thân phận tình yêu của Bảo
Ninh” nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu đã đánh giá cao về cuốn tiểu thuyết, về
ngôn từ nghệ thuật cũng như vai trò của nhân vật: “Tiểu thuyết của Bảo Ninh
là một giấc mơ dài, một huyền thoại của thời đại… Thân phận tình yêu hay
Nỗi buồn chiến tranh là một hiện tượng ngôn từ lạ lùng mang tính đa thanh,
9
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Vò ThÞ HuÖ – K31A V¨n
tính đối thoại, là một cuộc phiêu lưu muốn nhập vào văn học hiện đại thế
Vò ThÞ HuÖ – K31A V¨n
Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh của Êrich Maria Rơmáccơ - một cuốn sách
viết về sự mất mát của tuổi trẻ, cái đẹp, một câu chuyện tình đau đớn, một
thành quả lao động tuyệt đẹp”.
Như vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến tiểu thuyết
Nỗi buồn chiến tranh nhưng các ý kiến mới chỉ dừng lại ở những thành tựu
chung nhất về tư tưởng cũng như nghệ thuật của tác phẩm. Trên tinh thần kế
thừa và đối thoại, khoá luận đi sâu tìm hiểu: Cảm thức đi tìm thời gian đã
mất trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh để thấy được đặc
sắc nghệ thuật trong tư duy tự sự của tác phẩm.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh.
Phạm vi nghiên cứu: Khoá luận tập trung nghiên cứu một số bình diện
cơ bản nhằm làm sáng tỏ những nét đặc sắc nghệ thuật của tiểu thuyết Nỗi
buồn chiến tranh. Cụ thể: Cảm thức đi tìm thời gian đã mất được thể hiện
qua nhân vật; ngôn ngữ; giọng điệu.
4. Mục đích nghiên cứu
Kĩ thuật “dòng ý thức” trong tiểu thuyết của Bảo Ninh đã được các nhà
nghiên cứu, phê bình bước đầu xem xét. Từ những gợi dẫn trên, tác giả khoá
luận muốn hệ thống hoá kĩ thuật “dòng ý thức” của tác phẩm từ phương diện
cảm thức đi tìm thời gian đã mất. Đây cũng là những nét đặc sắc về nghệ
thuật của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận tập trung sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp hệ thống
Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích văn học
Vò ThÞ HuÖ – K31A V¨n
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc chiến tranh hào hùng
chống ngoại xâm. Lịch sử ấy được soi chiếu qua lăng kính của văn học, qua
cách nhìn, cách cảm của mỗi nghệ sĩ chân chính. Nảy sinh từ hiện thực đau
thương mà anh dũng của dân tộc, văn học cách mạng đã khẳng định được vị
thế của mình và làm được sứ mệnh cao cả:
Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ
Mỗi vần thơ, bom đạn phá cường quyền
(Sóng Hồng)
Văn học cách mạng không chỉ ghi lại chân thực cái dữ dội , hào hùng
của những chiến dịch lớn, những địa bàn ác liệt, những vùng đất “thép” và
“lửa”, những cuộc chống càn, những đợt tấn công và tổng tấn công… mà hơn
thế là nét dáng, là gương mặt, là tầm vóc, là phẩm chất con người được bộc lộ
và định hình trong những hoàn cảnh cực kì gay go, khốc liệt.
Giai đoạn 1945-1975, đề tài chiến tranh được các nhà thơ, nhà văn
hướng tới nhiều nhất. Nhà văn nguyện làm người thư kí trung thành của thời
đại, ghi lại chân thực hình ảnh người lính trong chiến đấu với những chiến
công lẫm liệt. Tiểu thuyết viết về chiến tranh mang âm hưởng hào hùng, ngợi
ca là chủ đạo. Tầm vóc thời đại của cuộc chiến đấu đã giúp cho văn học
những khả năng mới trong việc phản ánh và ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách
mạng Việt Nam. Các tiểu thuyết: Đất nước đứng lên - Nguyên Ngọc; Mẫn và
tôi - Phan Tứ; Dấu chân người lính - Nguyễn Minh Châu… đã tái hiện không
khí sục sôi Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Các tác giả ca ngợi chủ nghĩa anh
hùng cách mạng thông qua vẻ đẹp của những người lính chiến đấu vì lí tưởng
độc lập tự do: Không thể nào tả hết những khuôn mặt chiến sĩ, những khuôn
mặt chỉ huy, những khuôn mặt của tầng tầng lớp lớp những người đang nối
tiếp nhau hiện ra từ trên dốc đá, từ dưới suối, từ khắp các ngõ ngách của
rừng (Dấu chân người lính - Nguyễn Minh Châu). Đó là vẻ đẹp ánh lên từ
thể lớn hơn chúng ta nhưng là tầm vóc của con người, là người của một giai
đoạn nhất định với những tiến bộ và hạn chế, những ưu và nhược điểm…con
người như trong cuộc sống, con người trưởng thành qua nhiều đấu tranh
trong sự nghiệp lớn của cách mạng (Nguyễn Khải - Văn xuôi trước yêu cầu
cuộc sống, Tạp chí Văn nghệ quân đội, 1/1984). Tiểu thuyết Những người đi
14
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Vò ThÞ HuÖ – K31A V¨n
từ trong rừng ra (1982) của Nguyễn Minh Châu cho thấy sự chuyển dịch của
hình tượng người lính. Những người một thời cầm súng giờ chủ động bắt tay
vào công cuộc lao động, làm kinh tế. Họ - những người lính, đi từ rừng ra
biển, đó là một tiểu đoàn rời khu căn cứ trên rừng miền Tây Thừa Thiên tiến
xuống vùng cửa Thuận An xây dựng thành một đơn vị đánh cá biển. Những
bàn tay người lính hôm qua chỉ quen cầm súng rồi cầm xẻng, dò gỡ mìn, hôm
nay đã nắm lấy mái chèo và những vòng lưới, học nghề đánh cá biển. Quá
trình trưởng thành của tiểu đoàn đánh cá gắn chặt với nhân vật Hiển. Người
chính trị viên ấy như là linh hồn của đơn vị. Chuyển sang làm nhiệm vụ xây
dựng kinh tế, Hiển mới nhận ra: Trong đời mình chưa hề làm một nghề gì,
chưa bao giờ phải đi tự làm nuôi thân, chưa bao giờ sinh sống bằng một thứ
nghề nghiệp gì trong tay, bởi vì trong một đất nước mấy chục năm đánh giặc,
một lớp người rất đông đảo như anh vừa lớn lên đã vào bộ đội, vừa rời ghế
nhà trường là đã học cách cầm súng để đánh giặc cứu nước. Nhưng thời khắc
hoà bình cũng thật ngắn ngủi, chiến tranh biên giới lại xảy ra, các anh phải
cầm súng, phải cảnh giác, vừa sẵn sàng chiến đấu vừa sản xuất. Cuối truyện,
Hiển lại trở lên rừng với ý nghĩ day dứt: tối thiểu cho con người một miếng
không khỏi ngỡ ngàng khi ông cho xuất bản lần đầu tiên tiểu thuyết Nỗi buồn
chiến tranh (1990). Tác phẩm đã gây một “cú sốc” lớn làm thay đổi lối tiếp
nhận của công chúng yêu văn học bấy lâu nay. Đọc tiểu thuyết của Bảo Ninh,
người ta như bừng tỉnh sau giấc ngủ dài. Thì ra chiến tranh không chỉ là lời
tụng ca những chiến công và sự hi sinh anh dũng, là những tấm huân chương
lấp lánh trên ngực người chiến sĩ trở về sau cuộc chiến…Với tác phẩm của
Bảo Ninh, một chiến tranh đồng nghĩa với đau thương và mất mát. Chiến
tranh là chết chóc và nước mắt, là sự chia cắt và ám ảnh, sự dị dạng, méo mó
về nhân hình lẫn nhân tính của con người.
Nỗi buồn chiến tranh đánh dấu một thành công của tiểu thuyết Việt
Nam. Viết về cuộc chiến tranh chống Mỹ đã trở thành lịch sử, tác giả không
miêu tả chiến tranh như lúc nó đang xảy ra mà như nó hiện ra trong kí ức, suy
tưởng. Việc lựa chọn cách trình bày quá khứ dưới hình thức kỉ niệm, qua sự
nhớ lại của người hôm nay cho phép nhà văn tiếp cận lịch sử tự do hơn, gửi
gắm được nhiều hơn ấn tượng, tâm trạng của mình cũng như những cảm nhận
16
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Huệ K31A Văn
cũn li qua nm thỏng. Tiu thuyt ny khụng ch l v hỡnh thc m cũn mi
m c v ni dung so vi thi im nú ra i. Cỏc tỏc phm trc ú vit v
chin tranh bng kinh nghim ca cng ng, cỏi riờng t trong cỏi chung,
ho vo cỏi chung (t nc ng lờn - Nguyờn Ngc; Ngi m cm sỳng Nguyn Thi) thỡ Bo Ninh li vit v chin tranh dng nh bng kinh
nghim ca riờng mỡnh. T cỏi nhỡn y, tỏc phm cho thy chin tranh khụng
ch l vinh quang m cũn l au thng, hu dit. Nhng ngi tr v sau
chin tranh cú th khụng h thng tớch song vt thng trong lũng h vụ
Văn nghệ Quân đội, số 4/1987).
Có thể thấy sau khi ra đời và nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt
Nam, Nỗi buồn chiến tranh đã tạo ra làn sóng dư luận mạnh mẽ và cho đến
nay tác phẩm đã có được một vị trí vững chãi trong lòng công chúng yêu văn
học
CHƯƠNG 2
NHÂN VẬT TRONG CẢM THỨC “ĐI TÌM THỜI GIAN ĐÃ MẤT”
2.1 Khái lược về nhân vật văn học
18
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Vò ThÞ HuÖ – K31A V¨n
Theo Từ điển văn học: “Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm
văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại
được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc hoạ. Nhân
vật, do đó, là nơi tập trung giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học”
[16, tr.86]. Ở đây, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận nhân vật từ khía cạnh vai
trò, chức năng của nó đối với tác phẩm và từ mối quan hệ của nó với các yếu
tố hình thức tác phẩm. Đây là một định nghĩa tương đối toàn diện về nhân vật
văn học.
Cuốn 150 thuật ngữ văn học lại quan niệm: “Nhân vật văn học là hình
tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn
vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ” [2, tr.241].
Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Nhân vật văn học là những con
Pháp và chống Mỹ. Hiện thực cách mạng đầy oanh liệt, hào hùng là một điều
kiện giúp nhà văn xây dựng những nhân vật giàu chất lí tưởng. Nguyễn Minh
Châu đã từng công nhận khi viết Dấu chân người lính: Lữ là một nhân vật
hoàn toàn hư cấu trong khi Khuê lại thật đến mức đúng cả tên như anh vốn
có. Giữa Lữ, chị Sứ (Hòn Đất - Anh Đức) đều có một nét trội – đó là những
nhân vật được soi sáng từ phương diện lí tưởng nhằm nêu bật một tư tưởng
quán xuyến về khát vọng độc lập và tự do của người Việt Nam. Đã có lúc có
người phê phán lối viết làm cho cái cao cả, lí tưởng lấn át cái vốn có, nhưng
họ quên rằng đứng trên quan điểm lịch sử thì thời kì chống Mỹ, cái cao cả cái anh hùng và lí tưởng đã bao trùm cái vốn có của thực tại. Đúng như tác
giả Bùi Việt Thắng đã nhận xét: Cách thức xây dựng nhân vật trong tiểu
thuyết chống Mỹ có thể nói là giống với phương thức mà Gorki gọi là phóng
đại – phóng đại cái đẹp để đẹp hơn [15].
Nếu như văn học trước 1975 xây dựng nhân vật người lính trong sự gắn
bó với cộng đồng, xả thân vì nghĩa lớn thì văn học thời đổi mới lại có sự
chuyển biến sâu sắc từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch
sử dân tộc sang cảm hứng thế sự - đời tư. Tiểu thuyết đã phát huy được khả
năng tiếp cận và phản ánh hiện thực, con người trong giai đoạn mới một cách
nhanh nhạy và sắc bén. Cái nhìn về người lính lúc này đa diện, phong phú
hơn và cũng “đời” hơn. Người lính phải đối mặt với bộn bề góc khuất,
20
Khoá luận tốt nghiệp
Vũ Thị Huệ K31A Văn
khong ti ca cuc sng hu chin. Bi kch ca h l s lc lừng gia dũng
i, bi kch gia khỏt vng v thc trng; gia cỏi mun vn lờn v cỏi kỡm
hóm; gia thanh lc v tha húa; gia nhõn bn v phi nhõn bn. Mt s tiu
Hn c mt li chng thc, tiu thuyt Bo Ninh l quỏ trỡnh phỏt sinh,
mt li t bch, mt li t thỳ. Tỏc phm dn chỳng ta ln sõu vo th gii
ni tõm ca Kiờn, khỏm phỏ vi anh nhng bớ mt ca tui th v tui tr m
t lõu anh mun che giu, thm chớ ph nhn. K thut dũng ý thc c vn
dng mt cỏch trit , tr thnh nguyờn tc ngh thut chi phi cỏch t chc
kt cu ca tỏc phm. Kiờn trong hnh trỡnh tr v quỏ kh i tỡm thi gian
ó mt, tỡm li nhng k nim mt thi c Bo Ninh tỏi hin chõn thc m
ỏm nh lũng ngi. Kiờn, s ý thc y chuyn hoỏ vo dũng c thoi ni
tõm vi nhng suy ngh miờn man khụng ct thnh li, ting núi thm t ỏy
sõu tõm hn, ting núi ca tõm linh, ca tim thc. Kớ c tr v c nhn
thc bng cm quan, cm giỏc cng khc sõu hn bi kch i Kiờn. Anh ó
ho trn ni nh ngi thõn, ni nh tỡnh yờu trong ni nh chin tranh v
khỏt vng sỏng to thnh mt ngun ỏm nh khụn nguụi. Bo Ninh khụng ch
nhỡn hin thc mt cỏch trc din trờn b mt m cũn b sõu thm thớa v
sõu sc. Ngi c dng nh cng ang bi ngc dũng v min hoi nim
cựng Kiờn.
Trc khi chin tranh n ra, Kiờn sng mt tui th tng nh ờm m
m y nhng bi kch ngm ngm, au n. Ngc dũng quỏ kh, hi c tr
v day dt, trn tr trong Kiờn. ú l kớ c v nhng ngi thõn trong gia
ỡnh, l cha, l m, l dng, l s thiu thn tỡnh cm mói chng c lp
y trong lũng cu bộ Kiờn trc thi im 17 tui y. Hỡnh nh ngi m
nht nho, ớt khi hin v trong cừi nh ca Kiờn: V m, Kiờn ớt bit hn, búng
hỡnh m ch cũn s si vi tm nh [17, tr.147]. Nhng tng m phi l
ngi ghi du m nột nht trong Kiờn nhng trỏi li anh khụng yờu thng
m. Ngi c dn chm vo, nhp vo dũng ý thc ca Kiờn khi anh
nh v cha v dng - nhng ngi nh hng khụng nh ti suy ngh ca
anh sau ny. Kiờn nh v cha - mt ngh s ti hoa, b coi l hn ch v lp
22
trong buổi chiều mùa đông tại ngôi nhà nhỏ bên sông Hồng năm ấy còn mãi
ám ảnh Kiên: Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không
phải là hi sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải
23
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Vò ThÞ HuÖ – K31A V¨n
là chối bỏ…Với lại, con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có mình con ở lại
trên đời nên ta mong con hãy sống và hãy trở về [17, tr.67]. Qua hồi ức của
Kiên về cha và dượng, người đọc hiểu hơn số phận một lớp người đã qua, một
thứ chứng tích của thời thuộc địa, những “nhà thơ tiền chiến” (dượng) và
những hoạ sĩ thời “mĩ thuật Đông Dương” (cha của Kiên). Sống trong thời đại
ấy, họ không thể hoà nhập vào đời sống thực tại, họ như những cái bóng hiu
hắt của quá khứ giữa thời hiện tại nhưng lại nổi bật ở khả năng tiên cảm về
thời đại sắp tới. Đó là một thời đại chiến tranh đang tới, một thời đại anh hùng
nhưng tột cùng đe doạ đối với cái Đẹp - cái giá đau đớn của chiến tranh.
Đi qua chiến tranh với hành trình là kỉ niệm, Kiên trở thành người bị
cầm tù của quá khứ với một thứ “thiên mệnh” đặc biệt: Kể lại, viết lại, làm
sống lại những linh hồn đã mai một, những tình yêu đã phai tàn, bừng sáng
lại những giấc mộng xưa. Đó là con đường của sự cứu rỗi [17, tr.90]. Kiên
coi viết là sứ mệnh của mình nhưng cuối cùng anh cũng đem tất cả ra thiêu
giống như cha đã từng làm với những bức vẽ của mình.
Có thể thấy, hành trình tìm về với kỉ niệm người thân cho thấy bi kịch
tuổi trẻ của Kiên. Bi kịch gia đình, sự không hoà hợp giữa mẹ và cha, sự thiếu
thốn tình cảm ngay từ nhỏ khắc thêm dấu ấn cuộc đời anh. Và dường như nó
cũng dự báo trước một số phận đầy sóng gió, bị dập vùi, quăng quật bởi chiến
đi qua.
Trước hết, trong dòng hồi ức của mình, Kiên nhớ lại mảnh đất heo hút,
rùng rợn mà anh và đồng đội từng sống, chiến đấu - đó chính là mảnh đất Tây
Nguyên với những địa danh đã trở thành huyền thoại: truông Gọi Hồn; hồ Cá
Sấu; đồi Xáo Thịt; đồi Mơ; đồi Thăng Thiên; bờ sông Sa Thầy…Mảnh đất ấy
được viết lên bởi những câu chuyện truyền kì, huyễn hoặc. Hình như có bao
nhiêu nấm mồ vô danh thì có bấy nhiêu huyền thoại kinh hoàng cùng hằng hà
sa số những dị bản. Ở đó: Chim chóc khóc than như người… đom đóm to kinh
dị…có loại mang nhuốm màu đỏ dễ sợ đỏ au như những tảng thịt [17, tr.8].
Truông Gọi Hồn xuất hiện một loại cây với tên gọi hồng ma. Nó như một liều
thuốc an thần đánh lừa cảm giác và ru ngủ con người trong mộng đẹp trạng
thái mụ mẫm do khói hồng ma đã từ lán trinh sát lây lan khắp trung đoàn
25