Thời gian trong Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust Luận án TS. Văn học các nước Tâu Âu, Bắc Mỹ và châu Úc - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỞNG OẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
• • •
m
ĐÀO DUY HIỆP
m
THỜI GỊAN
TRONG
Đ I TÌM THỜI GIAN ĐÃ M ÁT

CỦA MARCEL PROUST
LUẬN ÁN TIẾN S ỉ N G Í VĂN
CHUYÊN NGÀNH
VĂN HỌC CÁC NƯỚC TÀY Âu, BÂC MỸ VÀ CHÂU úc
MÃ SỔ: 50403
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌ**:
PGS - TS ĐẶNG ANH ĐÀO
HÀ NỘI - 2003
MỤC LỤC
TRANG
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1
THỜI GIAN NIÊN B lỂ ư 31
1.1. Thời gian 31
1.1.1. Thời gian của truyện kê 31
1.1.2. Trật tự thời gian 36
1.1.3. Quan niệm của Proust về thời gian truyện kể 45
1.2. Thời gian niên biểu 47
1.2.1. Nhìn tổng quan cấu trúc lớn 48
1.2.2. Những thời điểm chủ chốt 50
1.2.3. Niên biểu qua các nhân vật 58

3.2.1. Vê cấu trúc 186
3.2.2. Thử nghiệm trích đoạn 190
KẾT LUẬN 195
4
TÀI LIỆU THAM KHẢO
202
CHỈ DẪN TÊN NGƯỜI 211
CÁC CÔNG TRÌNH ĐẢ CÔNG B ố LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 214
PHỤ LỰC
PHỤ LỤC BẢNG A, B, c CỦA w. HACHEZ
Bảng A 216
Bảng B 218
Bảng c 219
PHỤ LỤC Ị II VÀ Sơ ĐỒ Sự KIỆN CỦA TRUYỆN CỦA G.H.STEEL
Bảng I 228
Bảng II 231
Bảng S ơ ĐỒ S ự KIỆN CỦA TRUYỆN
(không đánh số trang, dán ngay cạnh)
Sơ ĐỔ CÂU “MÁY QUAY” VỂ BẢY CẢN PHÒNG của Julia Kristeva 232
TÓM TÁT NỘI DUNG TÁC PHAM của người viết
233
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI:
1.1. Marcel Prcust (1871-1S22) được coi là một trong ba nhà văn lớn
nhất của thê kỉ XX bên cạnh F.Kafka và J. Joyce. Sáng tác của ông được các
nhà nghiên cứu, các nhà văn iớn trèn thè giối đánh giá cao vể nghệ thuật.
Trong hai năm 1990 và 1992 tác phẩm của Proust đều được chọn: đợt I về
“Mười cuốn sách Pháp hay nhất cho những năm 2000” và đợt II, “Mười
cuốn tiểu thuyết được đánh giá là hay nhất trong lịch sử văn học Pháp”, c ả
hai đợt Đi tìm thời gian đã mất đều được tuyển chọn, đợt I giành vị trí

Ngày nay ở mục Theo dòng của Thạch Lam từ bài viết “Tìm hiểu Thạch
Lam thêm một vài khía cạnh” của Đinh Hùng trên Tạp chí Văn, số 36,
ngàv lõ tháng 6 năm 1965. Bài báo cho biết: Thạch Lam có giới thiệu tác
phẩm Đi tìm thời gian đã mất và đã nhầm “La Petite M adeleine” là “Cô bé
M adeleine”, sau hai, ba tuần, có độc giả mách cho Thạch Lam biết và nhà
văn đã chính thức xin lỗi độc giả của báo và thú nhận mình chưa đọc trọn
tác phẩm của Proust, đồng thời xin cảm ơn độc giả nọ đã chỉ giùm và mong
được tiếp tục chỉ giáo. Trên tạp chí Thanh Nghị năm 1943, Lê Huy Vân có
bài Ba cuốn tiểu-thuyết Pháp hiện đại đăng ở các sô 35 (16/4/1943), 38
(1/6/1943), 40 (1/7/1943) và lần lượt kể về ba tác phẩm: Le Grand Meaulne,
của Alain Fournier, tác giả dịch là Anh Maaulne cao; Les Caves du Vatican,
của André Gide, tác giả dịch là Nhà hầm dưới điện Vatican; và cuôn A la
recherche du temps perdu, của Marcel Proust, tác giả dịch là Đi tim thi giờ
đã mất, nhung ngay ỏ' trang sau lại dịch là Đi tìm thời gian đã mất. Nhìn
chung, ỏ cả ba cuôn tiểu thuyết trên Lê Huy Vân chủ yêu mới chỉ giới thiệu
và kể vê côt truyện của chúng. Riêng ở Đi tim thời gian đã mât, Lê Huy
7
Ván chi tập trung vào tập đáu tiên vé phía nhà ông Swann mà theo ông đó
“là tập đầu cùa bộ chuyện dài, gồm mười lám quyên, trên dưới năm nghìn
trang”. Trong bài viêt tác già vừa kể vừa trích đoạn “Ba ngọn gác chuông
nhà thờ”, “Chiếc bánh ngọt và chén nưóc trà” và cuối cùng là “Một lối yêu”
(tức Một mối tinh của Swann). Theo V.Nabokov, “bảy phần của tác phẩm
này, được xuất bản từ 1913 đến 1927, bao trùm trên nửa thê kỉ, từ 1840
đến 1915 ( ) và đưa vào hơn 200 nhân vật” [47, 47], Còn theo G.Deleuze
[14, 3], bảy tập như hiện nay lúc đó được tách thành lõ tập như sau: về
phía nhà Swann 1 và 2; Dưiri bóng những cô gái tuỏi hoa 1, 2, và 3; Phía
Guermantes 1, 2 và 3; Sodome và Gomorrhe 1 và 2; Cô gái bị cầm tù 1 và 2;
Albertine chạy trốn; Thời gian tìm thấy lại 1 và 2 của Ed. N.R.F.
Bibliothèque de la Pléiade. Không thấy Nabokov và Deleuze nói đến số
trang. Tuy nhiên, căn cứ theo sự phân chia tập bên trên, thì Lê Huy Vân

niệm 80 năm ngày mất của M.Proust, chúng tôi có bài “Proust và Đi tìm
thời gian đã mất” giới thiệu đầy đủ cuộc đời và những cách tân nghệ thuật
của Proust. Trong sô tạp chí này chúng tôi có tập hợp những bài viết về
sáng tác của Proust cùa giáo sư Đặng Thị Hạnh cùng những trích dịch
Proust và của những tác giả viết vể Proust (Gide, Céleste Albaret) của bà
và của Lộc Phương Thủy, Trần Hinh, Đào Bích Hạnh.
Có thê coi trên đây là những bài viết đã trực tiếp nói đến Proust và
nghệ thuật thời gian của ông ở Việt Nam. Ngoài ra, những bài viết hoặc
công trình của các nhà nghiên cứu dưới đây có đề cập trực tiếp hoặc gián
tiếp đến vấn đề thời gian ở các tác giả khác có liên quan đến đề tài mà luận
án đang thực hiện. Dẫn theo thời gian xuất bản:
1. Trần Đình sử, Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiêu và cảm quan
hiện thực của Nguyễn Du, Tạp chí Văn học, 5/1982. Nhà nghièn cứu nhìn
nhận thời gian từ phía khát vọng, hành động của nhân vật; tính chất phũ
phàng đen tôi của các thê lực, ở những ngẫu nhiên
2. Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiêu, Nxb
KHXH. 1985. Toàn bộ công trình không bàn nhiểu và trực tiếp đến vấn đế
9
thời gian, nhưng đáng chú ý ờ chương IV có tiêu đế: Cách bô cục Truyện
Kiều theo yêu cầu của kịch. Tác giả công trình đã phân tích “tính độc đáo
của bô cục Truyện Kiểu” để tìm ra bô' cục của kịch ở “những lời đoán trước”,
“giấc mộng”, “thần linh” những vêu tô có liên quan đên thời gian.
3. Đặng Thị Hạnh, Tiểu thuyết Huygô, Nxb. Đại học và Trung học
chuyên nghiệp, 1987. Ngoài ra, bà còn viết nhiều bài nghiên cứu rất sâu
trên Tạp chí Văn học về Thâm Tâm. Xuân Diệu, Tô Hoài trong đó có đề
cập nhiều đến vấn đế thời gian ẩn.
4. Trần Đình sử , Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb. Tác phẩm mối, 1987.
Trong cuốn chuyên luận này có chương về: Thời gian nghệ thuật trình bày
từ lý luận đến thực tiễn sáng tác của các nhà văn lớn trên thê giói và trong
nước, chủ yêu là về thơ Tô" Hữu.

10. Lộc Phương Thuỷ, chủ biên, Phê binh văn học Pháp thế kỷ XX, Nxb.
Văn học, 1995. Cuốn sách được chia làm ba phần chính ngoài Lời giới thiệu
và Thư mục là những trích dịch các ý kiên sắc sảo của các nhà vãn, nhà
nghiên cứu trong đó có những bài của Proust, G enette
11. Phùng Văn Tửu, Lui Aragông, Nxb. Giáo dục, 1997. Công trình này
đầu tiên có tên là Aragông, đã được in từ 1987, ở Nxb. Đại học và Trung
học chuyên nghiệp. Mười năm sau, giáo sư sửa chữa, bổ sung và cho tái
bản với tên sách đầy đủ như trên. Tác giả nghiên cứu tất cả các lĩnh vực
sáng tác của Aragon, những đặc điểm cách tân nổi bật của nhà văn này,
trong đó ông dành riêng nghiên cứu về: “Thòi gian” trong Thế giới thực tại
của Aragon.
12. Bùi Ván Tiêng, Thời gian nghệ thuật trong tiêu thuyết Vũ Trọng
Phụng, Nxb. Văn hoá, 1997. Tác giả nghiên cứu thời gian trong những tác
phẩm quan trọng của Vũ Trọng Phụng và rút ra ở phần hai những đặc
diêm chủ yêu về vấn đề này của nhà văn.
11
13. Nguyền Khấc Phi và Trần Đình sử, về thi pháp thơ Đường, Nxb. Đà
Nang, 1998. Trong đó, Trần Đình sử có bài: Thời gian và không gian trong
thơ Đường bên cạnh các bài viết của Nguvễn Khắc Phi và các tác giả Pháp,
Mỹ vê các vấn đê khác.
14. Bùi Mạnh Nhị, Thời gian nghệ thuật trung ca dao dân ca trữ tình,
Tạp chí Văn học, 4/1998.
15. Đỗ Đức Hiểu, Đổi mới đọc và binh ván, Nxb. Hội nhà văn, 1999. Tác
giả đi sâu vào giới thiệu Thi pháp Kịch, nghiên cứu tiểu thuyết Nhất Linh và
bình văn các tác giả trong và ngoài nước. Mỗi bài viết của giáo sư đểu tổng
hợp nhiêu vấn để thi pháp hiện đại, trong đó có đề cập đến vấn đề thời gian.
16. Hoàng Trinh, Phương Tây văn học và con người, Nxb. Hội nhà ván,
1999. Trong phần 2 tác giả đã đề cập đến những vấn đề: “Thời gian trong
Tiểu thuyết Mói”; “Tìm hiểu trở lại Proust, Joyce, Faulkner” và “Kĩ thuật
thời gian khó mà đưa Tiểu thuyết hiện đại ra khỏi khủng hoảng hiện nay”.

trong nhà trường phổ thông. Trong phần “Khuôn viên tiểu thuyết và truyện
ngắn” cũng như ở một vài chỗ khác tác giả có bàn về vấn đề thời gian.
Trên đây là tình hình chung của các tác giả Việt Nam nghiên cứu về vấn
đề thời gian và áp dụng nó để nghiên cứu các nhà văn trong và ngoài nưâc.
Riêng đôi với Proust, ở Việt Nam có thể do nhiều nguyên nhân khách quan
và cả chủ quan (trong đó có lẽ có cả thói quen thưởng thức) mà tác giả này
chưa được giới thiệu nhiều và rộng rãi. v ề tác phẩm của Proust, ở ta mới có
tập Dưới bóng những cô gái tuổi hoa được dịch giả Nguyễn Trọng Định
chuyên ngử sang tiêng Việt thành hai tập do Nxb. Văn học ấn hành năm
1992. Năm 1995, trong cuôn sách song ngữ Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XX,
tập I, giáo sư Đặng Thị Hạnh đă giới thiệu và trích dịch một số đoạn trong
Về phía nhà ông Swann và Dưới bủng các thiếu nữ đang hoa. Năm 2000,
trong Một vài gương mặt văn xuôi Pháp thê kỷ XX bà lại tiếp tục giới thiệu
và dịch một sô đoạn đặc sắc của Đi tim thời gian đã mất với các tiêu đề do
13
ngưòi dịch tự dật như: Mâu bánh mucleleine, Những chuyên dạo chơi ở
Cornbray, Chản clung Albertine, cỏ bún sữa trong chuyên đi Balbec.
Trong phần Lịch sử vấn đè nàv luận án sẽ giới thiệu việc nghiên cứu
thời gian nói chung của các nhà nghiên cứu về tác phẩm của Proust. Trong
sô những công trình của nước ngoài đáng chú ý nhất là các công trình của
G.Genette, J-Yves Tadié, G.Poulet, J.Kristeva, P.Ricoeur, G.H.Steel, Willy
Hachez (Đôi vối riêng các tài liệu bằng tiếng Anh cùa W illy Hachaz và
G .H .Steel chúng tôi dành nhiều trang luận án để thuyết minh cho công
trình cùa hai ông vối mấv lý do như sau: a, tuv xoáy vào thời gian niên
biểu nhưng lại đặt liên hệ vói vấn đề Time nói chung nên nó đề cập trực
tiếp tới vấn đề của luận án; b, cả hai ông đã điểm những công trình viết về
thời gian trong Đi tìm thời gian đã mất một cách tỉ mỉ, công phu. Luận án
cần dựa vào vì thiêu tư liệu. Còn các công trình khác luận án chỉ thuvết
minh những tác giả tiêu biểu có liên quan mật thiết đến đề tài).
Dẫn theo thời gian xuất bản để sau tên tác giả:

ông de Charlus: “Thưa ông, tôi xin đầu hàng bởi vì ông đã hơn tôi nhiều lần
tuổi” (thực tế là hơn ba lần: 19 và 60). “Khoảng hai tháng sau bữa cơm ở
nhà nữ công tước de Guermantes đó và trong khi bà ta đang ở Cannes”,
Marcel nhận được lời mời đến nhà công chúa de Guermantes. Đúng hôm
đó, Marcel gặp Swann ở nhà nữ công tưóc. ô n g ta đang bị ốm và khẳng
định rằng, theo lời bác sỹ, ông chỉ còn sông “ba hay bốn tháng nữa thôi”.
Sau kì nghỉ thứ hai ở Balbec bắt đầu là lễ Phục sinh 1901 và trong dịp
này Nkc đã nhiều lần đến nhà Verdurin ở Raspelière. Người kể chuyện qua
mùa đông 1901-1902 ở Paris với Albertine bị cầm tù ở chỗ anh ta. Bắt đầu
vào Cô gái bị cầm tù Nkc vẫn còn ám chỉ về Vụ Dreyfus: “Vụ đó đã kết thúc
từ lâu, song hai mươi năm sau người ta sẽ còn nói tới thê mà từ bấy mới chỉ
có hai năm”. Hai nám sau 1899 tức là 1901. Vào năm 1901 0 . de Charlus
quen de Morel, lúc này 20 tuổi, đang thực hiện nghĩa vụ quân sự ở Doncière.
Có một câu ờ đầu của cuôn Cô gái bị cầm từ chỉ ra rằng anh chàng đẹp trai

chới violon "không biêt rằng mình mới chì bàng một phần ba tuối của ngài
nam tước”. Nam tước đã gần 61 vào năm 1901. Xa hơn một chút, Nkc bóng
gió vê chiếc nhẫn mà Albertine nhận nhân dịp nàng 20 tuổi (1901).
“Tháng Giêng” 1902, Nkc đến dự bữa tiệc tại nhà bà Verdurin do bà
chuẩn bị vói mục đích quảng cáo More], không có Albertine đi theo. Anh
biết được tin Bergotte chết và lại nói về cái chết của Swann (vào khoảng
trước sau cuôi năm 1900).
Trong mùa xuân 1902, Albertine “biến mất”; năm này nàng đã trưởng
thành. Nkc qua một mùa hè buồn bã. Đến ngày lễ Các Thánh (1/11) Nkc
gặp Gilberte mà không nhận ra nàng. Bài viết cùa anh xuất hiện trên tờ Le
Figaro vào tháng Mười Một.
Sang mùa xuân 1903, Nkc ở một vài tuần tại Venise, ở đó anh thấy bà
de Villeparisis, đã già đi “dưới sức nặng của năm tháng” (bà khoảng 79
tuổi), còn Ô. de Norpois đã gần tám mươi “đang thổ lộ vối sự hăng hái
mang tính lão suy thường có ở một vài cụ tuổi bát tuần”. Trong khi ở

Swann, Odette và Gilberte, chàng gặp công chúa M athilde, đã xảy ra trưốc
cuộc viếng thăm của Sa Hoàng Nicolas II ở Viện Phế binh (chỉ duy có một
thời hạn chắc chắn: tháng Mười năm 1896). Hachez cho rằng không nên
nhầm lẫn Nicolas vái vua Théodose (mà cuộc viếng thăm là vào cuối 1895).
Cả hai vị quốc vương đều được dẫn ở đầu tập Dưới bóng những cô gái tuôi
hoa, tập sách mà Proust đã có cơ hội để xem lại và điều chỉnh văn bản.
Những sự kiện tóm lược bên trên trong quá trình truyện kể nằm trong
khoảng thời gian từ 1880 đến 1920. Xung quanh những năm 1900 (giữa
1895 và 1903) có rất nhiều sự kiện được Marcel gợi lại. Nói tóm lại, Nkc ít
hơn Proust mười tuổi. Mặt khác, mỗi lần tác giả cấp tuổi cho một nhân vật
(ngay cả khi không trực tiếp), thì việc kiểm tra cẩn thận cũng chứng tỏ
rằng sự chỉ dẫn đó hoàn toàn chính xác, và không bao giờ có sự mâu thuẫn
với đoạn khác của tác phâm.
Đi tim thời gian đã mất chứa dưng một sô chỗ “sai trật ngàv tháng”
không có gi là quan trọng. Một vài sự “sai trật” đó hoặc là vê một vài nhân
vật lịch sử (như Vua Edouard của nước Anh lên ngôi vào tháng Giêng nám
1901 chứ không phải vào năm 1900, Hoàng tử nước Bỉ lấy cháu của Hoàng
hậu Naples vào 1900 chứ không phải 1902 ); hoặc một sô vở kịch (như lần
biếu diễn đầu tiên vở Pélléas và Mélisande ở Nhà hát kịch vào 30 tháng Tư
năm 1902 chứ không phải 1901).
Hachez đã khảo sát rất tỉ mỉ năm sinh, năm mất của các nhân vật. Nhà
ván Proust hơn Nkc của ông mười tuổi. Hachez đã lấy Vụ Dreyfus làm xuất
phát điểm cho việc nghiên cứu của ông. Tuổi của các nhân vật đã được phát
hiện do những đường vòng: qua phát ngôn của một nhân vật về một nhân
vật, những sự kiện có thật rải rác được nhắc đến, việc miêu tả nhân vật
(già, trẻ, có m ang ) rồi cái chết của các nhân vật ứng vối những giai đoạn
nào của Marcel-Nkc đã cho phép nhà nghiên cứu tìm ra được hai bảng niên
biểu về những sự kiện chính và tuổi của các nhân vật trong bốn mươi năm
(1880-1920). (Xem hai bảng A và B ỏ phần Phụ lục).
2. Tadié (1971) chỉ ra ý thức rất mạnh về thời gian thông qua nhân vật

những vấn đề lớn sau: Trật tự (ordre), Thời lưu(ị) (durée); Tần xuất
(frequence); Thức (mode) và Thể (voix). Trong mỗi vấn đề trên lại được chia
thành những đề mục nhỏ.
4. Trong Nghiên cứu thời gian của con người (“Études sur le temps hum ain”)
ở tập I và tập IV, Georges Poulet (1976) viết về nhiều tác giả (Montaigne,
Racine, Rousseau, Flaubert ) trong đó có Proust. Hưống nghiên cứu của
Poulet chủ yếu đi vào khai thác về quan niệm, tư tưởng của các tác giả về
1 Durée: xuất phát từ khái niệm tn/c giác về độ lảu - hạt nhân trong học t.huyêt triết học của Bergson.
Nhà triết học cho rằng: để vận động từ điểm A đến điểm B, để làm tan đường trong một. cốc nước đểu
phải mất một. khoảng thời gian nào đó và khoảng t.hời gian đó được hiên thị t.rên đồng hồ; nhưng thời lưu
cụ thê của các sự kiện đó lại rất khác nhau (rong ý thức của mỗi ngưòi. “Mỗi vật, mỗi sự kiện đểu có nhịp
(liệu vế đỏ dài của nỏ, sự chậm rãi của nó như choc tức chúng ta. Chắc chản chúng ta không thế tiêt kiêm
sự chù đợi, điểu đó du cho thấv độ lảu thực tế là “không thể giảm bót”. Đôi với ai muôn hiếu thấu thê giới
í long hiện thực sâu xa của nó, thì không thể nào phù nhạn được thực tê ấy. Độ lâu là cái nền của thực
thí* [99, ‘22-25], Trong lình vực ván học. Cìenette nghiên l ứu các cấp độ của durée với các thủ pháp bât
dáng thời, (amsochronie), văn tăt (sommaire), quảng ngưng (pause), tinh lĩ/Ợc (ellipse), cảnh (scène). Môi
thu pháp trên là cá một vàn tie nghiên cứu về thòi gian trong nghệ thuật truyện kê. Có nhieu cách dịch
thuật n^ử durée: dọ làu. trường dọ, thời lưu. Luận án thông nhất cách dùng thời lưu.
19
thời gian. Mở đầu bài viết về Proust, tác giả đã trích dẫn lời một nhân vật
của nhà ván này: “Hiện tại không bao giờ làm tôi thích thú, tương lai khiên
tôi dửng dưng, đôi với tỏi chi có quá khứ là đẹp” và Poulet coi đó như chân
dung con người của Proust khi mới hai mươi nhám tuổi. Bò qua hai chiều
thòi gian kia, Proust chỉ còn một chiều để lựa chọn, và “cái chiều ấy có tên
gọi là quá khứ”. Ông muôn chứng minh qua tác phẩm của Proust rằng cái
quá khứ của Proust (le passé proustien) “bắt đầu từ một sự vận động tâm
linh đến tận cùng cực điểm đôi nghịch” [51, 301],
5. Công trình của Steel (1979): “Niên biểu và thời gian trong Đi tìm thời
gian đã mất” gợi mở rất nhiều vấn đề lý thú trong sáng tác của Proust.
Cuốn sách cùa Steel bao gồm bảy chương: 1. Niên biểu và thời gian - Mở

hoà giải thời gian bên trong và thời gian bên ngoài, còn Zeraffa đã nghĩ tới
nhân vật chính - vai chính (protagonist) cùa Đi tim thời gian là “biêu hiện
một nhu cầu tự vệ chông lại cuộc sông tức thì và thời gian lịch biểu”. Và một
ý kiến khác có tính chất biếm họa về Proust trong cuốn Marcel Proust kẻ đào
tâu hay ghê tởm thời gian của E. de Rochefoucault cũng được Steel dẫn ra:
“Tóm lại, M.Proust bị tâm thần phân lập chỉ kiếm tìm lại thời gian - cái quá
khứ đã bị phá huỷ - đê đào thoát khỏi thời gian hiện tại”. Steel tiếp tục nhắc
(tên Tadié, người cho rằng “Proust có một chủ định về giờ giấc hơn là mối
bận tâm chính xác về sự vận hành của nó” và rằng “có những kí hiệu về thời
gian còn đáng kể hơn ngày tháng”. Dentan nhấn mạnh rằng thời gian lịch
biểu là một cấu trúc có ý nghĩa thứ yếu: “Cấu trúc của truyện kể trước hết
không phải được thiết lập trên sự kế tiếp của các sự kiện, được tổ chức theo
một lịch biểu làm thành bộ khung cho nó, cũng không phải một chuỗi những
ứng xử và hành động liên kết vói nhau theo kiểu nhân quả” [66,7],
Theo Steel: “Cả hai nhà phê bình đều nhấn mạnh sự liên tục mang tính
chù quan của những đơn vị thời gian đáng chú ý trong truvện kể, còn Tadié
lại cho thấy sự nô tung dữ dội của quá khứ là quan trọng như thê nào
trong cảm giác vê thời gian được truyền tới ”.
21
“Rôt cuộc, thời gian là hiện tượng đã được xem xét chút ít và hiểu chút
ít trong cuộc sông hằng ngàv; nêu người ta tiên hành bàn luận về thời gian
trong ván học mà không ít nhiều cô gấng xác định để hiểu thời gian của
văn học là gì, thì sẽ có rất ít tiến bộ”.
Trong phần “Những công việc chuẩn bị mang tính chất lí thuyêt đôi VỚI
cuộc thảo luận về thòi gian trong tiểu thuvết” Steel đã nghiên cứu tỉ mỉ về
cuốn Figure III của Genette. Các khái niệm cơ bản của Genette được
thuvết minh như sau: (lời trong ngoặc đơn là cách dịch của người viết)
- Narration: “narration”, hành động sàn sinh ra truyện kể. (Việc kể chuyện);
- Récit: “narrative”, bản thân văn bàn, cái biểu đạt. (Truyện kể);
- Histoire, hay diagèse: “story”, hay “diagesis”, đối tượng của truyện

song giá trị những công trình của họ lại nằm ở chỗ khác. Năm 1958 Pamela
Hunsfort-Johnson chỉ còn nghi hoặc trong phạm vi xác định tuổi thật của
nhân vật của Proust nữa thôi. Bà tỏ ra chấp nhận “sự thật rằng thòi gian
niên biểu của Đi tìm thời gian đã mất là “có mặt khắp nơi” cứ như thể tưóc
bỏ hết tầm quan trọng của chủ thể”. Trong phần cốt yếu, kết luận này suốt
từ đó đã trở nên không thể bác bỏ được” [66, 26].
Steel lập ra một sơ đồ trật tự sự xuất hiện của các nhân vật, sự kiện
trong tác phẩm theo số thứ tự và bên cạnh đó tương ứng vối sô" tập và số
trang tác phẩm Đi tìm thời gian theo Nhà xuất bàn và năm xuất bản mà
Steel dùng đề nghiên cứu. cả một số sự kiện không xuất hiện trong tác
phẩm cũng được Steel lập ra theo thứ tự A, B, c từ việc đôi chiếu với các sự
kiện xa gần có liên quan để đi tìm một thời gian niên biểu xác thực nhất
cho tác phẩm và từ đó ông đã lập ra một bản sơ đồ được vẽ ra trên cơ sở
những khảo sát (xem phần Phụ lục của luận án).
6. Paul Ricoeur (1984) khi bàn vê Đi tim thời gian đã mất cho rằng phê
bình đương đại đã làm tiêu tán cái phần tư thuật ngụv trang của chính
23
Proust, nhà văn, và phần tự thuật hư cấu của nhân vật, người xưng tôi.
Theo Ricoeur, thời gian trong tiểu thuyết chỉ là hư cấu, không phải là thời
gian lấy trong cuộc đời thực của nhà ván dẫu có những nét tương đồng giữa
Marcel, nhân vật-Nkc với Proust-nhà ván. “Cần phải hình dung hệ thống
tác phẩm của Đi tìm thời gian theo cách một tỉnh lược mà một trong những
tiêu điểm là đi tỉm còn cái thứ hai là thăm viếng. Lúc đó sự hư cấu về thời
gian là cái sáng tạo nên mối quan hệ giữa hai tiêu điểm của Đi tìm " [61,
248]. (Những chỗ in nghiêng là do P.Ricoeur nhấn mạnh).
Ricoeur nghiên cứu các trường đoạn, các giọng kể theo các thì (temps),
thức (mode) để tìm ra thời gian đã mất và thời gian tìm thấy lại.
7. Trong “Niên biểu của Đi tìm thời gian đã mất và những sự kiện lịch
sử chắc chắn” [9], Hachez (1985) cho rằng buộc phải trở lại vấn đê thời gian
niên biểu trong Đi tim thời gian bởi vì chúng ta thường xuyên khẳng định

Cambremer, Franẹoise (vào khoảng 1830); công tước de Guermantes (1836);
de Charlus (1839); nữ công tước de Guermantes, Swann (1842); cha mẹ của
Nkc (khoảng 1850); Legrandin (1850), Odette (1852); Saint-Loup (khoảng
1872); Bloch (1849); Người kể chuyện, Morel, Gilberte, MUe Vinteuil,
Albertine, những cô gái ở Balbec (1880), Mu'de Saint-Loup (1903).
Những xem xét quan trọng dưới đây được Hachez thực hiện chính xác
theo niên biểu đã tóm tắt để đưa ra những năm tháng của các sự kiện
chính trong Đi tìm thời gian (Xem bảng c của Phụ lục).
8. Trong cuôn Tiểu thuyết (“Le roman”) của Pierre-Louis Rey (1992)
củng có những vấn đề mà luận án sẽ tham khảo như: Điểm nhìn của Nkc,
trong đó có “Một ví dụ về tự thuật hư cấu: Đi tìm thời gian đã mất" [59, 39]
và Thời gian bao gồm nhiều vấn đề mà Genette đã nói đến, nhưng Rey đi
theo một hướng khác [59, 109], Như tiêu đề của công trình, Rey đi sâu vào
nghiên cứu tiểu thuyết, trong đó có vấn đề thời gian: thời gian của truyện
kẻ, thời gian của tiêu thuyết, các vấn đê tỉnh lược, đón trước, quay ngược,
vắn tãt tương tư của Genette. Riêng vê vấn đê thời gian của Proust, Rev
25
có phần viết: Thời gian đã mất ưà thời gian tim thấy lại của Proust [59,
112]. Phần viết này của Rey có hơn hai trang, không thế nói được gì nhiều:
ông đi tìm nguvên lí sáng tác của Proust hơn là chỉ ra thao tác của các loại
thời gian trên. “Cái “thời gian đã mất” là cái quá khứ đã bị bóp vụn nơi mà
nhân cách của chúng ta đã bị tan rã trong những kinh nghiệm khác nhau;
cái “thời gian tìm thấy lại” là quá khứ đã được thiết lập lại, trong khi mang
trả lại tính đơn nhất cho cá nhân, nó sẽ đôi chiếu phong cách với cái tác
phẩm mà nó mang trong mình” [59, 116].
9. Julia Kristeva (1994) đã đi tìm các cấp độ thời gian theo một hướng khác:
cấu trúc của các hiện tượng, vật thể, cấu trúc ngữ nghĩa của câu, những dấu
hiệu tâm linh trong cuôn Thời gian cảm xúc (“Le temps sensible”) [33].
Luận án sẽ tiếp thu những luận điểm của các công trình trên, đồng thời
sẽ triển khai một sô" vấn đề trong môi liên quan vói phạm vi cùa đề tài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status