ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----)(-----
Trần Thị Kim Liên
TÍNH THỐNG NHẤT VÀ SẮC THÁI
RIÊNG TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT Ở
BA MIỀN BẮC, TRUNG, NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----)(-----
Trần Thị Kim Liên
TÍNH THỐNG NHẤT VÀ SẮC THÁI
RIÊNG TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT Ở
BA MIỀN BẮC, TRUNG, NAM
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 50407
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
6. Bố cục của luận án
12
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
13
1.1. Giới thuyết các khái niệm
13
1.1.1. Ca dao và dân ca
13
1.1.2. Các khái niệm Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, miền Bắc, miền Trung,
miền Nam
17
1.1.3. Phân vùng văn học dân gian và phân vùng ca dao
20
1.2. Môi trƣờng tự nhiên, xã hội và lịch sử của chủ nhân ca dao Bắc Bộ
(ca dao miền Bắc)
27
2.1.1. Yêu quê hương làng xóm
49
2.1.2. Tự hào về truyền thống văn hoá tốt đẹp
54
2.1.3. Ca ngợi truyền thống kiên cường giữ nước
57
3
2.1.4. Tố cáo tội ác quân giặc
63
2.2. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong nội dung mảng ca dao về
quan hệ gia đình, họ hàng
69
2.2.1. Tình cảm của con cháu với ông bà, cha mẹ
70
2.2.2. Tình cảm vợ chồng
121
3.1. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong việc sử dụng thể thơ lục bát
121
3.1.1. Thể thơ lục bát trong ca dao
121
3.1.2. Ca dao ba miền đều sử dụng hình thức lục bát biến thể
129
3.2. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong việc sử dụng hai dạng văn
bản tạo hình và biểu hiện
132
3.3. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong việc sử dụng ngôn ngữ
135
3.3.1. Sử dụng phương ngữ
135
3.3.2. Sử dụng từ gốc Hán và điển tích
147
một công trình nào tìm hiểu về ca dao mang tính chất so sánh – tổng hợp để
có cái nhìn toàn diện về ca dao của từng vùng trong mối quan hệ với ca dao
của cả nước. Chính vì thế chúng tôi chọn đề tài: Tính thống nhất và sắc thái
riêng trong ca dao người Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam. Nghiên cứu về
ca dao sưu tầm ở ba miền Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, chúng ta sẽ thấy sức
hấp dẫn, sức sống mãnh liệt của ca dao mỗi miền. Đồng thời, chúng ta cũng
sẽ nhận ra tính thống nhất, dấu ấn của truyền thống, của cội nguồn bên cạnh
những sắc thái đa dạng về văn hoá được biểu hiện ở các miền khác nhau trên
đất nước Việt Nam. Từ việc làm rõ tính thống nhất và sắc thái riêng của ca
dao người Việt, luận án góp phần vào việc nhận thức tính thống nhất trong sự
đa dạng của văn hoá Việt Nam nói chung và ca dao nói riêng, đồng thời góp
phần giữ gìn, bảo lưu những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nhiều nhà nghiên cứu đã viết về ca dao từng tỉnh, nhưng họ ít quan tâm
đến ca dao từng miền.
Trong phần tiểu luận (gồm 117 trang) của cuốn Ca dao dân ca Nam Bộ
(1984) có nhiều nhận định liên quan đến tính thống nhất và sắc thái riêng của
ca dao miền đất nước. Phần tiểu luận gồm bốn bài:
1. Vài nét về miền đất Nam Bộ (Trần Tấn Vĩnh viết);
2. Vài nét về nội dung ca dao – dân ca Nam Bộ (Nguyễn Tấn Phát viết);
3. Một số đặc điểm nghệ thuật của ca dao – dân ca Nam Bộ (Bùi Mạnh
5
Nhị viết);
4. Ca dao – dân ca Nam Bộ, những biểu hiện sắc thái địa phương (Bảo
Định Giang viết).
Trong bài thứ hai, tác giả Nguyễn Tấn Phát nêu vấn đề có ý nghĩa
phương pháp luận đối với việc nghiên cứu tính thống nhất và sắc thái riêng
của ca dao - dân ca Nam Bộ so với ca dao - dân ca cả nước: “Việc tìm ra
[40, tr. 34].
Tác giả còn “so sánh, đối chiếu những biểu hiện của sắc thái địa
phương ở các mảng đề tài, các hình thức biểu hiện và phương thức diễn
xướng của nó”.
Ở bài “Một số đặc điểm nghệ thuật của ca dao – dân ca Nam Bộ”, tác
giả Bùi Mạnh Nhị trình bày nét đặc sắc riêng trong sự thống nhất của ca dao –
dân ca Nam Bộ. “Ca dao – dân ca Nam Bộ luôn phát triển theo phương hướng
chung, một xu thế chung luôn lĩnh hội và cảm thụ những truyền thống chung
của ca dao – dân ca toàn dân tộc, đồng thời nó cũng luôn phát huy những đặc
điểm riêng gắn với hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá,
tâm lí tính cách của con người ở địa phương” [40, tr. 58].
“Như một tồn tại khách quan những phương diện nghệ thuật của ca dao
– dân ca Nam Bộ biểu hiện rất rõ và rất sinh động các mối quan hệ thống nhất
nhưng đa dạng, đa dạng nhưng thống nhất của kho tàng ca dao – dân ca Việt
Nam. Ở đây, tính thống nhất dân tộc và tính địa phương cụ thể không hề mâu
thuẫn, ngược lại đã làm phong phú và đậm đặc cho nhau” [40, tr. 59]. Tác giả
đã nhận thấy ca dao Nam Bộ ít dùng thể lục bát hơn so với ca dao Bắc Bộ.
Cũng trong phần tiểu luận, nhà thơ Bảo Định Giang trình bày bài viết
về sắc thái địa phương của ca dao – dân ca Nam Bộ. Tác giả chủ yếu mô tả
sắc thái riêng của ca dao nơi đây trong việc sử dụng từ ngữ chỉ địa danh, đặc
sản, tính chất vùng sông nước, tính cách trọng nhân nghĩa… Tuy nhiên, tác
giả chưa có sự so sánh với ca dao các miền khác cũng như chưa đưa ra được
7
những luận điểm lí giải sâu sắc, phù hợp với bản chất thể loại ca dao.
Nhìn chung, tuy chưa nêu một cách toàn diện và thật đầy đủ về tính
thống nhất và sắc thái riêng của ca dao ba miền, nhưng phần tiểu luận của
cuốn sách Ca dao dân ca Nam Bộ là gợi mở quan trọng cho đề tài luận án.
Ngoài ra, những trang của Nguyễn Chí Bền (một nhà nghiên cứu, sinh
khoát chắc nịch hơn. Không phải ngẫu nhiên mà sự hiện diện của kinh đô Phú
Xuân xưa đã góp phần đem lại cho mảnh đất Ô Lý, Thuận Hoá cũ một cái gì
thanh lịch, hài hoà, trang nhã như đã từng thấy ở kinh đô Thăng Long xưa”
[167, tr. 24-25].
Ngoài ra, trong các cuốn sách Dân ca Bình Trị Thiên của Trần Việt
Ngữ, Thành Duy; Dân ca Bình Trị Thiên của Tôn Thất Bình; Hò đối đáp nam
nữ Thừa Thiên – Huế của Triều Nguyên,... đó đây cũng có những nhận xét về
sắc thái của ca dao tiểu vùng này.
Về tiểu vùng ca dao Nam Trung Bộ, Xuân Diệu là người viết sớm và
viết kĩ với bài Sống với ca dao, dân ca miền Nam Trung Bộ. Đúng như nhận
xét của Nguyễn Chí Bền, tiểu luận này “được viết bằng một tấm lòng tràn đầy
xúc cảm, một sự cảm thụ rất sâu sắc và tinh tế ca dao miền Nam Trung Bộ
nên rất có giá trị đối với việc nghiên cứu ca dao ở đây” [5, tr. 576]. Xuân
Diệu nhận thấy: “Ca dao Nam Trung Bộ không thích để cho lời nói cứ chảy
êm xuôi, mà thích dùng lời chạy vồng qua đá, nhảy lốc bốc qua sỏi, đây
không phải là một thứ cộc lốc, mà là thứ tinh vi riêng về nhạc điệu” [25, tr.
289].
Nét riêng của ca dao Nam Trung Bộ còn được đề cập đến trong các bài
viết của Lê Văn Hảo (1981), Nguyễn Văn Bổn (1983), Ngô Quang Hiển và
Trịnh Sâm (1986), Thạch Phương (1994), trong luận văn thạc sĩ của Nguyễn
Định: Ngôn ngữ và thể thơ ca dao Nam Trung Bộ (1999), ...
9
Về sắc thái của ca dao Bắc Bộ, chưa có bài viết nào dành cho vấn đề
này. Chúng ta chỉ có thể tìm thấy một số nhận xét rải rác ở những bài viết có
nhiệm vụ khác. Chẳng hạn, năm 1963, trong khi tập trung viết về ca dao Nam
Trung Bộ, Xuân Diệu đã đề cập đến nét riêng của ca dao Bắc Bộ. Theo ông,
ca dao Bắc Bộ là sản phẩm của “một xã hội mấy nghìn năm cũng trau chuốt
ca, ca dao của tất cả 37 cuốn sách (gần 46 tập được biên soạn từ cuối thế kỉ
XVIII đến năm 1975 tất cả có 11.825 đơn vị). Kho tàng ca dao ngƣời Việt
được tái bản với sự chỉnh lí và bổ sung năm 2001 gồm có tư liệu của 40 cuốn
sách (49 tập) với 12.487 lời ca dao, dân ca được in thành hai tập. Ngoài việc
số lời ca dao được tập hợp với khối lượng đồ sộ, phong phú, các soạn giả đã
đưa ra một số liệu thống kê những kết quả đối chiếu so sánh các văn bản Việt
và văn bản Nôm có nội dung sưu tầm biên soạn ca dao, giúp người đọc không
chỉ biết về nội dung các dị bản ca dao mà còn biết cả nguồn gốc của dị bản.
Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng các tài liệu sưu tập ca dao khác (Xem
phần Tài liệu tham khảo).
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài luận án, bên cạnh các phương pháp
mô tả, tổng hợp, phân tích, nghiên cứu liên ngành, chúng tôi sử dụng ở mức
độ cao phương pháp thống kê và phương pháp so sánh.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình viết về nội dung và nghệ thuật
ca dao. Các mảng ca dao tình yêu nam nữ, ca dao trào phúng, ca dao phản ánh
lịch sử đã được không ít tác giả quan tâm. Cái chung và nét riêng của ca dao
một số tiểu vùng văn hoá Trung Bộ, Nam Bộ cũng đã được một số tác giả đề
cập. Trên cơ sở các nguồn tài liệu phong phú của ca dao và các công trình
nghiên cứu về nội dung, nghệ thuật trong ca dao cổ truyền toàn quốc và ca
11
dao ba miền, chúng tôi tiến hành hệ thống hoá, tập trung nghiên cứu tính
thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao người Việt qua ca dao ba miền. Với
luận án này, lần đầu tiên có một công trình phân tích một cách có hệ thống,
chuyên sâu về tính thống nhất và sắc thái riêng của ca dao Bắc Bộ, Trung Bộ,
Nam Bộ. Tính thống nhất và sắc thái riêng đó được phân tích qua nội dung
1.1.1. Ca dao và dân ca
Đã có nhiều quan niệm về ca dao, dân ca (Dương Quảng Hàm, Vũ
Ngọc Phan, Thuần Phong, Hoàng Tiến Tựu, Vũ Ngọc Khánh,…). Ở đây,
chúng tôi xin được sử dụng cách hiểu của tác giả Nguyễn Xuân Kính. Cách
hiểu này thể hiện trong sách Thi pháp ca dao [73] và bộ Kho tàng ca dao
ngƣời Việt [74].
Sinh hoạt ca hát của người Việt có từ rất sớm. Người dân xưa chưa có
những tên gọi có tính khái quát cao, mà thường dùng những từ chỉ các hiện
tượng ca hát cụ thể: ví, hò, hát, hát trống quân, hát xoan, hát ghẹo, hát dậm
(Hà Nam), hát giặm (Nghệ Tĩnh), hát phƣờng vải, hát ru, hò giã gạo, hò mái
đẩy, hò đƣa linh, lí tƣơng tƣ, lí chim quyên, lí ngựa ô, lí cây chanh...
Các từ phong dao, ca dao có mặt trong các sách Hán Nôm từ cuối thế
kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, trong các sách chữ quốc ngữ xuất bản ở đầu thế
kỷ XX.
“Phạm vi phản ánh của hai từ ca dao và phong dao có chỗ giống nhau.
Người xưa gọi “Ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong
tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại”. Vì vậy dần dần tên gọi phong dao ít
được sử dụng, nhường chỗ cho một từ ca dao.” [73, tr. 77].
Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính, bên cạnh khuynh hướng thưởng thức
ca dao trong mối quan hệ mật thiết với làn điệu, lề lối diễn xướng, khung cảnh
ca hát, trong những khoảng thời gian ít nhất đã gần hai thế kỉ (từ cuối thế kỉ
XVIII đến 1945) tồn tại một khuynh hướng khác: thưởng thức ca dao cổ
truyền giống như văn học viết (đọc, ngâm, xem bằng mắt). Đóng vai trò quan
14
trọng trong việc tạo ra khuynh hướng này là các nho sĩ. Từ thế kỉ XV trở đi,
số nho sĩ ngày càng nhiều, trong các kỳ thi hương có hàng vạn người đi thi.
Như vậy số nho sĩ không hiển đạt ngày càng nhiều. Cũng có một số nhà nho
cáo quan về ở ẩn. Chính tầng lớp nhà nho không đỗ đạt và ở ẩn này đã sưu
nghệ thuật hoàn chỉnh có mặt nội dung và mặt hình thức văn học. Nội dung
của lời diễn đạt một tình cảm, thông báo một vấn đề, một điều cụ thể. Hình
thức của lời ca dao gồm ngôn ngữ, nhịp điệu, thể thơ....
Theo các soạn giả bộ sách Kho tàng ca dao ngƣời Việt, thuật ngữ ca
dao được hiểu theo ba nghĩa rộng, hẹp khác nhau:
1. Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành
phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu, trong trường hợp này ca
dao đồng nghĩa với dân ca.
2. Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca
(không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi).
3. Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó tước
bỏ tiếng đệm, tiếng láy, đưa hơi... thì sẽ đều là ca dao. Ca dao là những sáng
tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ
mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách và ca dao đã trở
thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian [74, tập I, tr. 12](1).
Trong luận án này, chúng tôi nghiên cứu ca dao theo cách hiểu thứ hai
và thứ ba.
Chúng tôi cũng đồng ý với quan niệm cho rằng ca dao cổ truyền là
những lời ca dao được lưu hành từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; ca
(1) Bản in năm 2001.
16
dao hiện đại là những sáng tác thơ ca dân gian được lưu hành từ sau Cách
mạng tháng Tám đến nay.
Trong luận án, chúng tôi sử dụng khái niệm ca dao truyền thống. Nói
đến ca dao truyền thống là nói đến những sáng tác ca dao ra đời sớm đã trở
thành những khuôn mẫu ổn định, điêu luyện về nghệ thuật. Chậm nhất thì đến
khoảng thế kỷ XVI - XVII, vốn ca dao truyền thống đã được hình thành ở Bắc
Trung, miền Nam
Dưới thời Minh Mệnh, nước ta được phân chia thành các tỉnh. Từ tháng
10 năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), trên toàn quốc, trừ Thừa Thiên phủ ra, có
30 tỉnh dưới đây:
A. Từ Thừa Thiên ra Bắc có 18 tỉnh là:
(1) Chúng tôi trích và giữ đúng cách trình bày của tác giả Bùi Văn Tiếng.
18
1. Quảng Trị
10. Hải Dương
2. Quảng Bình
11. Quảng Yên
3. Hà Tĩnh
12. Sơn Tây
4. Nghệ An
13. Bắc Ninh
5. Thanh Hoá
14. Thái Nguyên
10. Định Tường
5. Khánh Hoà
11. An Giang
6. Bình Thuận
12. Hà Tiên
Tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), nhà vua lại ra chỉ dụ phân bố
toàn quốc thành bảng khu vực địa lý lớn hơn tỉnh:
1. Kinh sư (Phủ Thừa Thiên)
2. Tả trực (các trực tỉnh phía tả Kinh sư): Quảng Nam, Quảng Ngãi
3. Hữu trực (các tỉnh phía hữu Kinh sư): Quảng Trị, Quảng Bình
4. Tả Kỳ (các tỉnh phía Tả Kỳ): Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình
Thuận
5. Hữu Kỳ (các tỉnh thuộc Hữu Kỳ): Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá
6. Nam Kỳ: Gia Định, Định Tường, Biên Hoà, An Giang, Vĩnh Long,
19
Hà Tiên
7. Bắc Kỳ: Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hải Dương, Nam
Định, Quảng Yên, Thái Nguyên, Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Lạng
Sơn, Cao Bằng.
“Qua việc định khu vực địa lý trên đây, chúng ta thấy danh xưng “Nam
Kỳ lục tỉnh: từ lâu xuất hiện trong các thư tịch, cũng lâu rồi đi vào tâm thức
người Việt, bắt đầu được khai sinh dưới triều Minh Mệnh” [140, tr. 137].
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Phan Rang, Bình
Thuận, Đắc Lắc, thành phố Đà Nẵng là “đất nhượng địa”.
Bắc Kỳ có 26 tỉnh và 2 thành phố:
Bắc Giang, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Hà Đông, Hà Giang, Hải Dương, Hải
Ninh, Hà Nam, Hoà Bình, Hưng Yên, Kiến An, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai,
Nam Định, Ninh Bình, Phúc Yên, Phú Thọ, Quảng Yên, Sơn Tây, Sơn La,
Thái Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Yên Bái và 2 thành phố
Hà Nội và Hải Phòng [49].
Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ là những tên gọi ra đời sau. Nhìn chung,
ranh giới giữa Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ tương đồng với ranh giới giữa Bắc
Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Dưới chế độ Sài Gòn, Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ
được gọi là Bắc phần, Trung phần, Nam phần. [119, tr. 1307].
Còn có các từ “miền Bắc”, “miền Trung”, “miền Nam” được dùng với
ý nghĩa tương đương với Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ. (1)
1.1.3. Phân vùng văn học dân gian và phân vùng ca dao
(1) Sau hiệp định Giơnevơ (1954), đất nước ta bị chia cắt làm hai miền, đến tháng 4 năm 1975 mới
thống nhất. Ranh giới hai miền là sông Bến Hải (Quảng Trị); hai từ “miền Bắc”, “miền Nam” này
không phải là các từ “miền Bắc”, “miền Trung”, “miền Nam” được nhắc đến trong luận án. Ngay
trong thời gian đất nước bị chia cắt như trên, người miền Bắc xã hội chủ nghĩa cũng vẫn dùng từ ba
miền: miền Bắc (mà Hà Nội là tiêu biểu), miền Trung (mà Huế là tiêu biểu), miền Nam (mà Sài
Gòn là tiêu biểu).
21
Nguyễn Trãi trong Dƣ địa chí, Dương Văn An trong Ô châu cận lục,
Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến
chƣơng loại chí, Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí,... đều có
văn học dân gian truyền thống, [142, tr. 12] ông cũng nêu rõ các tiêu chí để
phân vùng văn học dân gian:
Sự giống nhau hay gần nhau của các tác phẩm văn học dân gian.
Sự tương đồng về mặt ngôn ngữ của nhân dân (ngôn ngữ giao tế và
ngôn ngữ của văn học)
Gắn bó về hoàn cảnh địa lí, lịch sử với phong tục, tín ngưỡng và mọi
mặt đời sống của nhân dân.
Dựa trên các tiêu chí đã nêu, Hoàng Tiến Tựu phân chia các khu vực
văn học dân gian cơ bản của người Kinh thành ba miền:
A. Miền Bắc
Miền văn học dân gian phía Bắc của người Kinh từ huyện Tĩnh Gia,
Thanh Hoá trở ra. Toàn miền Bắc có thể chia ra ba khu vực chính.
23
Khu vực I: Là khu vực trung du Bắc Bộ bao gồm các làng ở vùng trung
du Bắc Bộ (Vĩnh Phú, một phần Hà Sơn Bình, Bắc Thái, Hà Bắc...) (1)
Khu vực II: Là khu vực sông Hồng (hay đồng bằng Bắc Bộ) thuộc các
tỉnh và vùng ngoại vi các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hải Hưng, Thái
Bình, Hà Nam Ninh, một phần các tỉnh Hà Sơn Bình, Hà Bắc. (2)
Khu vực III: Là khu vực sông Mã gồm các làng người Kinh thuộc tỉnh
Thanh Hoá và Ninh Bình.
B. Miền Trung
Khu vực I: Là khu vực sông Lam (khu vực Nghệ Tĩnh từ khe Nước
Lạnh đến Bình Trị Thiên).(3)
Khu vực II: Là khu vực sông Gianh - sông Hương hay khu vực Bình
Trị Thiên.
C. Miền Nam
Từ phía Nam đèo Hải Vân (Đà Nẵng) trở vào văn học dân gian được
chia làm ba khu vực: