ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DIÊU THỊ LAN PHƢƠNG
THỂ LOẠI TRƢỜNG CA
TRONG VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2010
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trường ca là một thể loại xuất hiện sớm của văn học thế giới. Trong lịch sử
phát triển nó đã ghi lại những giai đoạn hào hùng, những chiến công vang dội của
các dân tộc. Bất kì một đất nước nào cũng mong có được những bản tráng ca muôn
đời. Với tư cách là một thể loại mang đậm chất sử thi, gắn liền với tinh thần dân tộc,
trường ca có một ý nghĩa rất đặc biệt. Từ thể loại này chúng ta sẽ thấy được sự vận
động của ý thức cộng đồng, của lịch sử cũng như một phần thấy được sự vận động
của một nền văn học nào đó.
Ở Việt Nam, trường ca với tư cách là một thể loại văn viết, văn bác học chỉ
thực sự phát triển trong nền văn học hiện đại. Dù vậy, nó đã có tiền đề từ xa xưa,
từ những thể loại như khan, mo, sử thi Tây Nguyên, diễn ca lịch sử, cho đến các
truyện thơ Nôm khuyết danh hoặc hữu danh, những bài thơ dài. Trong nền văn học
hiện đại, cách nhìn nhận về thể loại này cũng rất khác nhau, thậm chí có người cho
rằng nó không tồn tại, nghĩa là không xứng đáng được trở thành một thể loại độc
nên mới mẻ, thời sự, khơi gợi sự khám phá đối với nhiều nhà nghiên cứu gần đây.
Có thể nói, xét trên phương diện văn học sử, đây là thể loại đã có những thành tựu
nhất định, có số lượng tác phẩm khá lớn, các bài viết lẻ tẻ khá nhiều, nhưng hoàn
toàn chưa có một phác thảo nào về tiến trình của nó. Phải chăng đó là một khoảng
trống nên được lấp đầy.
Từ thực tế nghiên cứu lí thuyết, chúng tôi nhận thấy, các ý kiến về thể loại
trường ca có nhiều khác biệt, đến nay, tình hình vẫn không mấy thay đổi. Đành
rằng cái khung thể loại bao giờ cũng mong manh, nhất là với thực tế sáng tác phức
tạp gần đây, nhưng, một đồng thuận tương đối về mặt lí thuyết bao giờ cũng cần
thiết đối với nghiên cứu khoa học. Chúng tôi mong muốn tìm được sự đồng thuận
ấy thông qua việc khảo sát thể loại trường ca. Phải xác định được một số cơ sở và
điểm riêng đặc thù, thể loại mới đủ xương cốt để tồn tại độc lập. Thực tế thì trường
ca đã tồn tại với tư cách thể loại, nhưng việc xác định và gọi tên các điểm riêng
của nó thì còn khá mơ hồ. Điều đó không khác gì thời nguyên thủy, khi biết có con
người mà không hiểu và không thể giải phẫu được nó.
Ngoài ra, sự phát triển của thể loại trường ca hiện đại không chỉ là hiện tượng
của văn học Việt Nam mà còn là hiện tượng văn học của nhiều nước có phong trào
giải phóng dân tộc, đặc biệt là các nước đi theo con đường xây dựng Xã hội chủ
3
nghĩa. Sự gặp gỡ đó cũng là tiền đề để chúng ta thấy được những điểm tương đồng
và khác biệt của các nền văn học.
Với cách nhìn nhận như trên, chúng tôi nhận thấy thể loại trường ca là một vấn
đề có ý nghĩa đối với công việc nghiên cứu. Vì thế, chúng tôi đã chọn đề tài Thể
loại trường ca trong văn học hiện đại Việt Nam cho luận án của mình, nhằm giải
quyết một số vấn đề còn bỏ ngỏ trên cả hai phương diện lịch sử văn học và lí luận
văn học.
2. Lịch sử vấn đề.
lấy những yếu tố mang chất thơ, chất lí tưởng của cuộc sống mà nội dung là
những chiêm nghiệm sâu sắc nhất về thế giới và những vấn đề cao sâu nhất của
nhân loại hiện tại.”[cd41,44] . Trong thời đại Xô Viết có những nhà khoa học
chuyên nghiên cứu về trường ca (A.N. Xôkôlôv) và trên Báo văn học cũng đã có
những cuộc thảo luận sôi nổi về trường ca.
Hiện nay, ở các nước nói tiếng Anh, trường ca, với các dạng epic, epic poetry,
long poems… vẫn nhận được sự quan tâm nhất định. Chỉ cần gõ tên thuật ngữ này
lên Google sẽ tìm thấy vô số kết quả cho cả sáng tác được xuất bản và công trình
khoa học. Trong đó, chúng tôi được biết một vài công trình nổi bật là:
Modern epic: The World-System from Goethe to García Márquez của tác giả
Franco Moretti, xuất bản năm 1994 tại Turin (Ý) và được Quintin Hoare dịch ra
tiếng Anh, xuất bản năm 1996. Trong đó, thuật ngữ Modern epic được hiểu rất
rộng bao gồm cả văn vần và văn xuôi, cả tự sự và trữ tình.
Traditions of heroic and epic poetry (Truyền thống anh hùng ca và trường ca)
(1989) tập hợp bài viết của nhiều tác giả như J. B. Hainsworth, John D. Smith,
Karl Reichl, T. Hatto, Jeff Opland. Trong đó đề cập đến các vấn đề như: Giải phẫu
anh hùng ca/ trường ca; Đặc trưng về hình thức và nội dung của trường ca; cấu
trúc của trường ca; chức năng của trường ca; Thời gian, không gian của trường ca;
chủ nghĩa anh hùng; một số vấn đề thể loại… Trong cả hai công trình trên, có thể
nhận thấy rằng, vấn đề mà họ thận trọng nhất vẫn là khi trình bày cách hiểu về
khái niệm “epic” và “modern epic”. Vấn đề này sẽ được chúng tôi nói rõ hơn ở nội
dung luận án.
Như vậy việc nghiên cứu thể loại trường ca trên thế giới nói chung cũng đã có
một quá trình lịch sử và có thể khẳng định đây là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu
đã quan tâm.
5
2.2. Trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại ra đời từ yêu cầu của hiện thực
Nhiều tác giả nêu ra vấn đề tên gọi trường ca nhưng cuối cùng đều thừa
nhận như một thực tế và xem “mỗi tác phẩm là một cách định nghĩa của tác
giả về chính thể loại đó” (Hữu Thỉnh)[91]
Về đặc trưng thể loại, có nhiều bài viết đã nghiên cứu một cách nghiêm túc.
Các tác giả thường dựa vào sự so sánh giữa trường ca với thơ dài, trường ca với
truyện thơ... để nói lên đặc trưng của thể loại (Trần Ngọc Vương, Mã Giang Lân,
Vũ Đức Phúc...). Bên cạnh đó một số tác giả đi từ sự vận động của các thể loại
được gọi là trường ca hoặc từ những lí thuyết về thể loại của nước ngoài để xem
xét trường ca hiện đại (Phạm Huy Thông, Đỗ Văn Khang, Hoàng Ngọc Hiến...).
6
Ngoài các bài viết được đăng tải trên báo chí, trong một số công trình nghiên
cứu cũng xuất hiện một số bài viết về trường ca. Sớm nhất, có lẽ là các bài viết của
Lại Nguyên Ân, đầu tiên được đăng trên báo, sau được tập hợp trong cuốn Văn
học và phê bình. Trong đó, bài viết “Mấy suy nghĩ về thể trường ca”1 được viết
trước 30/4/1975 là bài viết công phu; ngoài việc ghi nhận những thử nghiệm
trường ca tác giả đã phân biệt rõ trường ca với các thể tài khác, nêu lên những đặc
trưng cốt yếu của trường ca, các hình thức trường ca được viết trong thời gian đó.
Bài viết “Thể trường ca trong thơ gần đây” được Lại Nguyên Ân viết năm 1982.
Trong đó, ông xem trường ca như một thể tài của thơ và cẩn trọng cho rằng “trong
phạm vi thơ hiện tại ở ta, có lẽ vẫn còn đủ thận trọng để coi trường ca như là một
thể tài đang hình thành và phát triển, với xu hướng chung là đưa yếu tố suy nghĩ
trữ tình thành yếu tố chủ đạo của tác phẩm trường ca”[7,2]. Có thể nói rằng, với
cuốn Văn học và phê bình, Lại Nguyên Ân đã dành mối quan tâm lớn nhất cho
thể loại trường ca. Những nhận xét đưa ra tuy vẫn dè dặt nhưng vô cùng quan
trọng đối với phê bình và sáng tác văn học thời điểm ấy.
Sau này, khi Vũ Văn Sỹ đề cập đến trường ca, ông đặc biệt chú ý đến vai trò
người nghiên cứu và người viết trường ca. Đặc biệt qua đây cũng thấy được, hiện
nay trường ca đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, để ý.
Gần đây, nghiên cứu trường ca dường như lại trở nên sôi nổi với các cuộc tọa
đàm: về trường ca Trầm tích (Hoàng Trần Cương) năm 2002, hai cuộc tọa đàm về
trường ca của Trần Anh Thái (tháng 1/2008 do Khoa sáng tác và lí luận phê bình –
Đại học Văn hóa tổ chức và tháng 6/ 2009 do Viện Văn học tổ chức); với vô số
các bài viết trên mạng Internet; với sự hồi phục của một số tác phẩm được khai
sinh bởi những tên tuổi lớn một thời bị lãng quên (như trường ca của Trần Dần,
Văn Cao…) và sự ra đời một số dạng trường ca mới. Điều đó cho thấy thể loại này
ở Việt Nam vẫn tiềm tàng một lực hấp dẫn lâu bền.
Với lịch sử vấn đề như trên, chúng ta cũng thấy được thể loại trường ca là
mảnh đất đã thu hút nhiều sự quan tâm. Tuy nhiên trên thực tế, một phần có thể do
sáng tác quyết định, những kết luận về thể loại này qua các diễn đàn, các cuộc hội
thảo hầu như vẫn đang được bỏ ngỏ, vẫn chưa có một cách hiểu thống nhất về thể
loại (Tất nhiên đây có thể là vấn đề muôn thuở của văn học). Nhìn chung những
bài viết còn mang tính khái lược, điều ấy thể hiện ngay trong đầu đề “Mấy suy
nghĩ...”, “Thử bàn về...”, “Góp thêm một vài ý kiến...”, “Tản mạn…”. Nó chưa tạo
nên một hệ thống hoàn chỉnh, chặt chẽ mang tính tiêu chí của thể loại. Hơn nữa,
do nhiều nguyên nhân, một số khoảng trống vẫn chưa được lấp đầy, đó là:
8
- Các nhà nghiên cứu mới chỉ quan tâm đến dạng trường ca mang tính chất
sử thi, anh hùng ca; các trường ca mang tính chiêm nghiệm, cảm thức cá nhân;
mang màu sắc siêu thực, nặng suy tư hầu như chưa được đề cập đến. Điều đó dễ
hiểu vì sao Những người trên cửa biển (Văn Cao), Đi! Đây Việt Bắc (Trần Dần),
Ngụ ngôn của người đãng trí (Ngô Kha)… còn vắng bóng trong các công trình
lớn.
- Việc tập hợp tư liệu chưa được đầy đủ khiến cho những nhận xét khái
là một thể loại có nội hàm rộng vì vậy chắc chắn không thể giải quyết hết hoàn
toàn. Trong các vấn đề cụ thể chúng tôi cố gắng nêu ra những đặc điểm mang tính
qui định thể loại và qui định tư duy phản ánh trong tác phẩm. Từ đó để chỉ ra sự
vận động của thể loại trường ca - một thể loại lớn của văn học thế giới, đồng thời
thấy được một số đặc trưng của trường ca hiện đại và sự xuất hiện phù hợp với
một thời đại anh hùng của trường ca trong giai đoạn chiến tranh. Ngoài ra, qua
công trình này chúng tôi mong muốn một số phương diện sau đây sẽ được giải
đáp:
-
Diễn trình của thể loại trường ca trong văn học hiện đại Việt Nam. Sức sống
của thể loại này như thế nào. Trường ca phi chuẩn mực – trường ca hay là
phản trường ca.
-
Chiều kích lịch sử, chiều kích xã hội và cấu trúc thẩm mỹ của trường ca
hiện đại.
-
Vị trí của trường ca trong đời sống văn học. Mối liên hệ giữa nó với các thể
loại khác.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chúng tôi chọn là “Thể loại trường ca trong văn học hiện đại Việt Nam”.
Vì thế, có lẽ nên khu biệt thêm vấn đề: thế nào là hiện đại? Khái niệm hiện đại ở
đây trước hết là một phạm trù, không phải là một giai đoạn lịch sử. Đây thực sự là
vấn đề lớn, mênh mông, chúng tôi chỉ mong muốn xác lập một điểm mấu chốt
trong lĩnh vực văn học nghệ thuật để có thể khu biệt khái niệm đã quen thuộc “văn
Ngọc Phách), dòng tiểu thuyết hiện đại đã bắt đầu phát triển. Trong giai đoạn
1930- 1945, có một tác phẩm được chúng tôi xem như là bản trường ca hiện đại
đầu tiên của Việt Nam, đó là Tiếng địch sông Ô của Huy Thông. Giai đoạn này
trường ca chưa phát triển, nhưng lác đác thì đã có.
Do hạn chế về mặt tư liệu, đặc biệt các tư liệu bằng tiếng nước ngoài, hơn nữa
dung lượng của luận án không thể cho phép chúng tôi bàn đến một phạm vi quá
rộng, vậy nên chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
* Về những trường ca cổ đại, chúng tôi chú trọng đến các trường ca của Homer
và các trường ca của Ấn Độ cổ đại. Đây là những dạng mang tính chất anh hùng ca
gần gũi với trường ca hiện đại Việt Nam. Chúng tôi xem xét những vấn đề này dựa
trên các quan điểm của Hegel.
* Chúng tôi tạm thời chia trường ca hiện đại thành hai loại: chuẩn mực và phi
chuẩn mực. Chuẩn mực là đảm bảo một số đặc trưng cơ bản mà chúng tôi sẽ nêu
trong phần khái niệm. Phi chuẩn mực là có ít và có nhiều nội dung vượt ra khỏi
11
cách nhìn thông thường ấy. (Bảng phân chia được đặt ở phần phụ lục) Do dung
lượng hạn chế và một phần để đảm bảo tính hệ thống cho sự trình bày vấn đề, các
luận điểm cốt lõi chủ yếu dựa trên sự khảo sát loại trường ca chuẩn mực là chính.
Đối với loại phi chuẩn mực, chúng tôi sẽ có những phần riêng (đương nhiên vẫn
trong hệ thống) như sự đối sánh có lúc mâu thuẫn, để thấy được sự phức tạp của
thể loại và của vấn đề nghiên cứu, cũng là của văn học nói chung. Những phần
riêng này như những trường hợp đặc biệt, có lúc tạo nên sự độc đáo, là những gam
màu lạ trên nền phông văn học sử và trên sự đen trắng của lí thuyết.
Số lượng tác phẩm trường ca rất lớn, tuy nhiên trong phạm vi luận án chúng
tôi không có khả năng khảo sát toàn bộ mà chỉ chọn lọc những tác phẩm được
đánh giá là thành công và tiêu biểu như: Bài ca chim Chơ rao (Thu Bồn), Mặt
đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm), Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh), Những
- Từ góc độ phương pháp luận, chúng tôi áp dụng các phương pháp như:
+ Phương pháp hệ thống: tư duy hệ thống, với bất cứ một công trình khoa học
nào cũng là điều tối quan trọng. Phương pháp này được áp dụng để triển khai toàn
bộ vấn đề nghiên cứu. Khác với các phương pháp khác – cách làm có thể hiển thị
trên bề mặt, phương pháp này phần lớn ẩn chìm bên trong tổng thể; góp phần trình
bày vấn đề mạch lạc, đồng thời chỉ ra các mối liên hệ, các thành tố thống nhất của
vấn đề nghiên cứu.
+ Phương pháp loại hình: khi nghiên cứu những đặc điểm chung thuộc về nội
dung và nghệ thuật của thể loại trường ca.
+ Phương pháp lịch sử- xã hội: khi nghiên cứu mối quan hệ giữa đời sống thể
loại với cơ sở xã hội mà nó phát sinh và phát triển.
+ Phương pháp so sánh: khi cần tìm kiếm những đặc điểm riêng của trường ca
hiện đại với các dạng trường ca khác, với các thể loại khác, và với các sáng tác
nước ngoài. Phương pháp so sánh nhằm tìm ra đặc điểm riêng biệt của trường ca
Việt Nam
- Từ góc độ các thao tác khoa học, chúng tôi vận dụng các thao tác thông
thường như: phân tích; so sánh, đối chiếu; thống kê, phân loại; mô hình hóa, khảo
sát văn bản.
6. Đóng góp của luận án
- Luận án trước hết sẽ cung cấp một cơ sở mang tính hệ thống về những vấn đề
lý luận và sự phát triển của thể loại trường ca trong văn học thế giới nói chung và
văn học hiện đại Việt Nam nói riêng.
13
- Luận án chỉ ra các đặc trưng thi pháp cụ thể của trường ca hiện đại Việt
Nam; chỉ ra vai trò, tính lịch sử và tính xã hội của thể loại này trong dòng chảy
văn hóa.
- Luận án “miêu tả” các giai đoạn phát triển của trường ca, đặt trường ca
Trước hết, về bản thân tên gọi, không ít người còn băn khoăn: “Để ứng thí và để
chọn làm thuật ngữ tổng quát chỉ thể loại thơ ca hùng tráng, danh từ Trường ca có
điểm yếu là vỏ ngôn ngữ của từ chỉ bao hàm được độ dài của sáng tác. Thế nhưng
chính độ dài của thể loại lại là một điểm có thể tranh cãi”[93]. Về điểm này, thậm
chí có nhà nghiên cứu cho rằng “khái niệm Trường ca không phải là một thuật ngữ
chính xác và khoa học. Bởi lẽ, khái niệm này không nói lên được đặc trưng cơ bản
của một thể loại thơ nào cả. Hơn nữa, nó còn có thể gây nên một tình trạng mơ hồ,
lẫn lộn”[50]. Có thể, đây là những ý kiến mang tính chủ quan, nhưng một phần nó
cũng nói lên sự “bất ổn” của thuật ngữ. Theo ông Hoàng Ngọc Hiến trong Năm bài
giảng về thể loại thì “Thể loại ta vẫn quen gọi là Trường ca trong thuật ngữ nghiên
cứu văn học Liên Xô(cũ) được gọi là Poema (trong bài này từ Poema tạm dịch là
Trường ca) có thể hiểu với một nghĩa rất rộng, thậm chí mông lung”[41,41]. Còn
trong cuốn Thuật ngữ lí luận văn học của trường Đại học Sư phạm Vinh tổ chức
biên soạn năm 1974 có viết: “Thuật ngữ Trường ca xuất hiện như là để dịch một
danh từ nước ngoài. Danh từ Poema trong tiếng Nga chỉ một thể loại văn học dân
gian Nga truyền thống với đặc trưng là tác phẩm thơ thể hiện một nội dung lớn có ý
nghĩa trọng đại đối với dân tộc. Nhiều khi Trường ca được dùng một cách rộng rãi
để chỉ một tác phẩm thơ dài hơi không nhất thiết phải có nội dung lớn. Trong
trường hợp này Trường ca chỉ có ý nghĩa là bài ca, bài thơ dài”[35,255 ]. Như vậy,
thuật ngữ trường ca được hiểu theo một nghĩa rất rộng. Trong cuốn Từ điển Thuật
ngữ văn học (Lê Bá Hán chủ biên) trường ca được hiểu là “tác phẩm thơ có dung
lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình. Trường ca (poème) cũng được
dùng để gọi các tác phẩm sử thi (épopee) thời cổ và thời Trung đại, khuyết danh
hoặc có tác giả”[34,309]. Thực tế, trong ngôn ngữ châu Âu, người ta không dùng
nhiều thuật ngữ để định danh các dạng khác nhau của thể loại văn vần dài này.
Người ta chỉ phân biệt hai thuật ngữ chính mang tính loại hình là epic/ poem
15
Có thể nói, epic hay poem là những thuật ngữ chỉ loại hình, mang tính khái quát cao
nhưng không chỉ ra được các đặc điểm loại biệt của thực tiễn sáng tác vốn phong
phú và đa dạng (nhất là trong nền văn học viết), không nói lên được sự độc đáo
trong sáng tác của các dân tộc khác nhau. Vậy nên, dễ hiểu tại sao Truyện Kiều
(Nguyễn Du) của Việt Nam lại được các từ điển mở như wikipedia xếp vào loại epic
poetry. Dựa trên “cách nhìn” của châu Âu, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam người
Nga N.I. Nikulin trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam đã dùng cùng một thuật ngữ
cho tất cả các thể loại văn vần dài hơi có trong lịch sử - đặc biệt là văn học trung đại
Việt Nam, được người dịch dịch sang tiếng Việt là “trường ca”. Điều này tương ứng
với cách gọi ít phân biệt trên thế giới. Ưu thế lớn nhất khi gom nhiều thể thơ dài của
Việt Nam vào một thuật ngữ như vậy, là cho chúng ta thấy rằng, trong văn học Việt
Nam cũng tồn tại một loại hình tương ứng với thế giới – có điểm chung với văn học
thế giới, và “trường ca” của chúng ta có lịch sử phát triển lâu đời. Tuy nhiên, điều
ấy có điểm hạn chế là không thể hiện được sự đặc sắc trong hệ thống thể loại thơ ca
Việt Nam so với thế giới – là điều mà Nikulin đã khẳng định; và cho thấy Nikulin
không tính đến đặc thù của nền văn học này là văn xuôi phát triển rất muộn, và
trong giai đoạn đầu của lịch sử văn học, người ta không có phương tiện phản ánh
nào khác là văn vần. Trong các sách lí luận văn học ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu
thường hay dùng thuật ngữ “Thơ trường thiên” để chỉ các dạng thơ dài trong lịch sử
văn học. Phải nhấn mạnh rằng đây là một thuật ngữ chỉ loại hình, không phải là một
thể thơ. Sự phân biệt đặc trưng các thể loại thuộc thơ trường thiên Việt Nam (Diễn
ca, Truyện thơ/ Truyện Nôm, Ngâm khúc, Thơ dài) do dung lượng hạn chế của luận
án, được chúng tôi đặt ở phần Phụ lục.
16
Như vậy, trường ca theo cách hiểu rộng – hay với tư cách là một loại hình trên
thế giới, bao gồm cả các sáng tác cổ điển và các sáng tác hiện đại, cả dân gian và
văn học viết, cả tự sự và trữ tình... Tuy nhiên, bên cạnh những định nghĩa rộng cũng
“Medieval epics” thời Trung cổ 500-1500). Ở các sách giáo khoa và tự điển quen thuộc (như Wikipedia)
cũng dùng các thuật ngữ này. />
17
đang cố gắ ng lập trình hóa càng rõ ràng càng tố t sao cho nó có thể được kiể m
nghiê ̣m - và nếu cần thiết phản bác
- một cách dễ dàng hơn [168,2]. Còn A.
T.Hatto trong bài viết Hướng về sự giải phẫu anh hùng ca/ trường ca (trong cuốn:
Traditions of heroic and epic poetry 1) cũng cho rằng: “Epic‟ ở một khía cạnh
khác luôn là một thuật ngữ rối rắm, ít nhất là với người làm so sánh”[169,148].
Còn về thuật ngữ “long poems” trong tiếng Anh cũng không đơn thuần là Thơ dài
như ở Việt Nam, mà nó bao trùm lên cả “epic poetry”. Tức là trong các thể loại
của “long poem” có cả “epic” như là một subgenres (nhánh).
Như vậy, để chúng ta thấy rằng, sự lưỡng lự và thận trọng trong cách hiểu về
khái niệm này là hiện tượng phổ biến của nghiên cứu văn học nói chung, không
riêng gì Việt Nam.
Với những cách hiểu khác nhau, rõ ràng bản thân tên gọi đã trở nên phức tạp.
Tuy nhiên, nội hàm khái niệm là do chúng ta hiểu về nó, khu biệt nó như thế nào
chứ khái niệm không chỉ nằm ở bản thân lớp vỏ ngôn ngữ, ở nghĩa đen của từ
vựng. Hơn nữa, về mặt lí luận, như Trần Ngọc Vương viết: “Lí luận về Trường ca
- một bộ phận của thơ - lí luận về các tác phẩm văn vần dài hơi nói chung, lại
càng hiếm. Chưa thể coi lí luận về các thể loại khác là ổn, chỉ có thể nói rằng
Trường ca do tần số xuất hiện của nó hiện thời, trở nên không ổn nhất mà
thôi”[100]. Lí luận về trường ca của chúng ta chủ yếu tiếp thu từ lí luận của Liên
Xô (cũ), phần lớn chỉ dừng lại ở những ý kiến của Bêlinxki, đến nay vẫn chưa tìm
được một định nghĩa hoàn chỉnh và chính xác chứ chưa nói đến việc hệ thống hoá.
Có thể do sáng tác chưa lên được đến đỉnh cao hoặc ngược lại vì lí luận về trường
âm hưởng anh hùng ca thời xưa không chỉ là yếu tố thời đại mà phần nhiều do sự
tưởng tượng thêm, do khát vọng chiếm lĩnh tự nhiên và xã hội ...của con người
quyết định) nhưng nó lại thể hiện ra thành những điểm tương tự nhau. Mặt khác,
trong một môi trường văn học bình thường, người sáng tác chân chính luôn có khát
vọng làm mới mình, luôn khao khát vượt qua những rào cản và những định chế có
sẵn, để tạo nên một tác phẩm gây thích thú cho người đọc.
Mặt khác, quan sát lịch sử phát triển của epic ở Việt Nam chúng ta có thể
thấy nó không được phong phú như nhiều nước trên thế giới. Chúng ta chỉ có một
số tác phẩm thuộc Oral epics (sử thi truyền miệng, như ở Tây Nguyên), còn các
giai đoạn khác đều rất mờ nhạt. Và đến thời hiện đại, thì từ Tiếng địch sông Ô của
Phạm Huy Thông trường ca mới bắt đầu được sáng tác nhiều. Vì thế, trong luận án
này, chúng tôi đề xuất sử dụng thuật ngữ tiếng Anh của Trường ca hiện đại là
Modern epic (dành cho các tác phẩm chuẩn mực, ít nhiều có tính sử thi, là phạm
vi khảo sát chính của luận án), trên cả ý nghĩa phân kì văn học như ở phương Tây
19
và trên cả ý nghĩa để phân biệt với loại hình sử thi truyền thống trước đây. Bên
cạnh đó, những trường ca mang tính suy tưởng, trữ tình, không mang tính sử thi,
có thể dịch là epic lyrical poem.
Về khía cạnh tiếp nhận mà nói, thì “văn bản ưu tú lại không dễ dàng bị đồng
hóa, nó đã sớm định trước cơ chế chống đồng hóa rất đa dạng, và lấy điều đó để
không ngừng giữ được sự kích thích mới đối với chủ thể tiếp nhận, nếu không, tất
cả đều ở trong dự đoán, người tiếp nhận sẽ mất đi ngạc nhiên, cuối cùng mất đi
động cơ tiếp nhận và sẽ từ bỏ tiếp nhận”[170,144]. Phá vỡ Tầm đón đợi của độc
giả chính là một trong những thành công của tác phẩm. Cho nên, thực tế, đối với
nhiều thể loại, không riêng gì trường ca, tìm một đồng thuận tuyệt đối có lẽ là điều
không tưởng; chính bởi sự đa dạng phức tạp trong sáng tác của nó. Đặc biệt với
trường ca – thể loại có một diễn trình lịch sử đa dạng và thăng trầm, một diễn ngôn
thời giới hạn thuật ngữ trường ca hiện đại (Modern epic) như sau: Trường ca là
những tác phẩm được viết bằng văn vần có kết cấu chặt chẽ, có nội dung cảm
hứng lớn thường là những chiêm nghiệm gắn với các sự kiện thuộc về cái
chung, của quê hương, đất nước, dân tộc, con người. Có thể nói, định nghĩa này
chỉ mới nói lên được cái cốt lõi của trường ca. Thực tế, mỗi tác phẩm là một định
nghĩa về thể loại, nghĩa là trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, chúng ta cần áp dụng
khái niệm một cách linh động. Hiện nay, có thể thấy rằng, linh hồn của trường ca
đang có nhiều thay đổi, cách viết và diễn ngôn về hiện thực đã có nhiều điểm khác
trước, tuy vậy, dù dưới hình thức nào, cốt lõi của nó vẫn là những chiêm nghiệm
gắn liền với cái chung, với cộng động; vượt lên câu chuyện của cá thể, cá nhân để
hướng đến những vấn đề to lớn của thời đại.
1.2. Cơ sở xã hội của trƣờng ca
1.2.1. Ý kiến của Hegel về "Trạng thái của thế giới sử thi"
Một thể loại bao giờ cũng phát sinh và phát triển trên một tiền đề xã hội nhất
định. Không có thời đại Phục Hưng, không có sự đòi hỏi được tôn vinh của cá
nhân con người thì sẽ không có tiểu thuyết như hiện nay. Không có sự ai oán, sầu
bi của những kiếp phụ nữ dưới chế độ phong kiến thì sẽ không có những khúc
ngâm thấm đẫm nước mắt. Thể loại, hiện tượng văn học thường ra đời trong cơ sở
xã hội đặc thù của nó. Trường ca không nằm ngoài quy luật ấy. Vậy, cái gì đã tạo
nên cảm hứng của trường ca? Cái gì là nguyên nhân sâu xa thúc đẩy một thể loại
thơ phù hợp với tiếng nói hào hùng của thời đại?
Khi nghiên cứu văn học Việt Nam, chúng tôi thấy tính lãng mạn, chất sử thi
là những đặc điểm nổi bật của văn học cách mạng. Điều ấy càng được thể hiện rõ
trong các bản trường ca viết về chiến tranh. Những bản trường ca này đều có nhiều
21
yếu tố thống nhất với các Trường ca sử thi -những tác phẩm mà Hegel đã lấy làm
cơ sở cho một phần lý luận về “Các nghệ thuật lãng mạn”. Vì vậy, khi xét về
22
dân tộc trong cái ý nghĩa ban đầu, ý nghĩa sơ khai của nó. Qua những chứng cứ
khảo cổ học, người ta thấy nền văn minh Cret và Mixen thuộc về thời đại đồ đồng,
kim loại sắt đã có nhưng còn hiếm. Người Đôriêng từ phía Bắc tràn xuống chinh
phục Hi Lạp đã đem theo những dụng cụ bằng sắt thường dùng. Người Akêen đã
bị kẻ xâm lược mới này đánh đuổi, chạy sang vùng bờ biển Tiểu Á. Nơi ấy các
thành bang Iôni và Êôlit còn giữ được, qua hàng thế kỷ, câu chuyện về những anh
hùng Akêen và những chiến công lừng lẫy của họ. Những người hát rong đã biến
những câu chuyện kể này thành những khúc ca chiến trận và vinh quang. Nguồn
gốc hình thành nên những thiên anh hùng ca Hi Lạp cổ đại chắc chắn phải là thời
kỳ có những phát triển đột biến, vượt bậc về ý thức dân tộc, về văn minh và trí tuệ
của loài người. Những Trường ca Iliat, Ođitxe của Homer là những viên gạch đầu
tiên của một nền văn minh HiLạp cổ đại phát triển rực rỡ (khoảng thế kỷ VIII - đến
thế kỷ VII trước CN )
Tuy vậy, Hegel cho rằng không nên kết luận “từ cái thời đại anh hùng với ý
nghĩa thực sự của nó, là thời đại sinh ra sử thi - nhân dân đã có cái nghệ thuật tự
mình vẽ nên một bức tranh nên thơ” [37,577]. Thực chất thì “nghệ thuật nảy sinh
chậm hơn nhiều, khi cuộc sống và tinh thần từ lâu đã diễn biến trong một bầu
không khí nên thơ” [37,577]. Các trường ca của Homer xuất hiện sau khi cuộc
chiến tranh Troa xảy ra nhiều thế kỷ. Còn Otxian đã ca ngợi một quá khứ anh hùng
mà cái hồi quang đã mất khiến người ta cảm thấy cần nhớ lại và xây dựng lại nó.
Những bản trường ca viết về chiến tranh của chúng ta phần lớn cũng được viết sau
khi chiến thắng, khi người ta có “bước lùi” để hồi tưởng và đánh giá lại toàn bộ
cuộc chiến và ý chí quật cường của nhân dân.
Xuất phát từ “sự thức tỉnh của ý thức dân tộc”, Hegel cho rằng trạng thái
chung của thế giới sử thi là “một hành động trong đó các chi nhánh của nó gắn
liền với cái toàn thể của thời đại và của đời sống dân tộc” [37,583]. Đó là một
hành động mà ta chỉ có thể quan niệm là đã chìm trong lòng một thế giới rộng rãi
niệm “Chỉ có những cuộc chiến tranh giữa các dân tộc xa lạ đối với nhau thì mới
có tính sử thi, trái lại các cuộc chiến tranh giành vương triều, các cuộc nội chiến,
các cuộc khởi nghĩa tư sản lại thích hợp với lối trình bày của kịch hơn” [37,595].
Và không chỉ là những cuộc chiến tranh giữa các dân tộc xa lạ, Hegel còn nhấn
mạnh: “Điều này không có nghĩa là mọi cuộc chiến tranh bình thường giữa hai
dân tộc đối địch nhau đều là sự kiện sử thi ... Cuộc chiến tranh còn phải diễn ra
nhân danh một đòi hỏi có tính toàn nhân loại và có tính lịch sử mà một dân tộc
đưa ra với một dân tộc khác” [37,597]. Những cuộc chiến tranh vệ quốc nhân danh
chính nghĩa như chiến tranh chống Napoleon năm 1812, chống Phát xít 1941- 1945
24
của dân tộc Nga, chiến tranh chống Nguyên Mông, Minh Thanh, chống Pháp,
chống Mỹ ... của nước ta đều là những cuộc kháng chiến mang tầm vóc sử thi.
1.2.2. Âm vang của những thời đại anh hùng trong lịch sử Việt Nam
Việt Nam là một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, khí hậu
khắc nghiệt, lúc khô hạn lúc lũ lụt lớn, đặc biệt chiến tranh chống xâm lược liên
miên đã thúc đẩy sự hình thành một tinh thần đoàn kết, một sự cố kết bền chặt mà
chưa từng có một thế lực ngoại xâm nào phá vỡ được. Việt Nam đã từng chiến
thắng nhiều kẻ thù hùng mạnh đến từ các nước lớn như Trung Hoa, Mông Cổ,
Pháp, Mỹ ... Có thể khẳng định rằng phải có một tinh thần dân tộc vĩ đại, tất cả vì
cộng đồng thì chúng ta mới có thể làm nên những chiến thắng như thế. Đó là
những sự kiện mang tầm vóc sử thi mà nếu có một cá nhân tài năng thì có thể làm
nên những quyển “Thánh thư của dân tộc”, những bản trường ca bất hủ về đất
nước anh hùng. Tuy nhiên, nếu xã hội Hi Lạp, La Mã cổ xưa đã để lại những áng
anh hùng ca, những Trường ca sử thi thì ở ta, đó là một hệ thống cổ tích thần thoại
có gắn bó với lịch sử, toát ra từ quá khứ xa xưa gian lao và oai hùng của cộng đồng
dân tộc. Sử thi Tây Nguyên với Đam San, Xinh Nhã cũng là những tác phẩm mang
đậm chất sử thi. Bên cạnh đó chúng ta còn có một truyền thống văn học với sự