Tính năng động nghệ thuật của văn học hiện đại Việt Nam và một cách nhìn từ thể loại - Pdf 19

Tính năng động nghệ thuật
của văn học hiện đại Việt Nam và
một cách nhìn từ thể loại
1. Tính năng động nghệ thuật là một thuộc tính bản chất, một đặc
trưng loại hình của văn học hiện đại. Chúng tôi đã có dịp nêu vấn đề này
như một trong năm tiêu chí để hiểu nội dung khái niệm văn học hiện
đại trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 9/2005 và sau đó, tháng 3/2006
trong Hội nghị Lý luận phê bình văn học nghệ thuật toàn quốc (Ban tư
tưởng văn hoá TW tổ chức tại Hà Nội). Bấy giờ, năm tiêu chí ấy mới chỉ là
những xác định mang tính chất một “tín chỉ” để “nhập cảnh” vào thế giới của
nền văn học hiện đại – một nền văn học được khu biệt về loại hình với nền
văn học trung đại.
Tính năng động nghệ thuật vừa là một đặc trưng loại hình, vừa là một
quy luật tồn tại và phát triển của văn học hiện đại. Điều hiển nhiên, tính
năng động là đặc điểm của mọi nghệ thuật và mọi loại hình văn học. Bởi vì
nói đến văn học nghệ thuật là nói đến sự sáng tạo cái mới, cái độc đáo.
Không có tính năng động nghệ thuật thì làm sao văn học các thời đại có thể
để lại những giá trị nghệ thuật đặc sắc, không trùng lặp, làm sao toàn bộ
nền văn học có thể vận động phát triển từ phạm trù này, trình độ này đến
phạm trù khác, trình độ khác được? Nhưng mặt khác, xét ở quan điểm
chính thống, quan phương của văn học từng thời đại, tính năng động nghệ
thuật không phải bao giờ cũng được đặt ở bình diện thứ nhất như là hệ
thống chiếm ưu thế trong tương quan với tính quy phạm, khuôn mẫu được
giới định bởi hệ thống các quy tắc nghệ thuật, các công thức thẩm mỹ. Ở
loại hình văn học trung đại, không phải không xuất hiện tính năng động
nghệ thuật trong sáng tác. Nhưng điều chắc chắn, tính năng động đó chủ
yếu được biểu hiện trong thực tiễn sáng tạo của nhà văn khi nó có nhu cầu
và có khả năng vượt thoát ở những vị trí nhất định trên biên giới nghiêm
khắc của “luật pháp” nghệ thuật thời trung đại. Nó không có được đặc
quyền đứng ở bình diện số một, chiếm ưu thế. Đặc quyền ấy thuộc về các
phép tắc, các quy chuẩn nghệ thuật của thời đại. Đảo ngược vị thế giữa hai

đang và sẽ xuất hiện nếu không quan tâm đến tính năng động nghệ thuật -
như một đặc trưng loại hình của văn học hiện đại.
*
3. Tính năng động nghệ thuật của văn học hiện đại, do đó đã trở
thành một trong những cái nhìn phương pháp luận phổ biến trong nhiều
công trình nghiên cứu, khảo sát phê bình các hiện tượng văn học hiện đại
cả một thế kỷ vừa qua. Nhưng chính bản thân nó với tư cách một đặc trưng
loại hình của văn học hiện đại, hầu như chưa được khái quát một cách đích
thực, rõ ràng, chưa được lý giải và thực chứng thỏa đáng để nhận ra một
quy luật tồn tại và phát triển của nền văn học hiện đại. Chính không ý thức
đầy đủ tính năng động nghệ thuật như là một bản chất, một quy luật của
văn học hiện đại nên từ đầu nửa cuối thế kỷ XX, khi xuất hiện trào lưu văn
học hậu hiện đại, lập tức trào lưu này mở cuộc tuyên chiến đối lập với văn
học hiện đại. Theo họ, văn học hiện đại đã lỗi thời phải thay thế bằng văn
học hậu hiện đại. Xung đột nói trên xoay quanh câu chuyện “quyền uy” của
văn học hiện đại. Tinh thần hậu hiện đại chống lại “quyền uy” này như là
chống lại những quy phạm nghệ thuật mới, hay là tính “cổ điển mới” của
văn học hiện đại. Theo đó, chủ nghĩa hậu hiện đại chống lại việc văn học
hiện đại từng phủ nhận tính khuôn mẫu khắt khe trong tư duy nghệ thuật
trung đại, nhưng đến lượt nó, văn học hiện đại lại đẻ ra những khuôn mẫu
nghệ thuật của nó, trong khi thực tiễn cuộc sống xã hội hậu công nghiệp
từng giây, từng phút phá vỡ những giới hạn lý thuyết đã có trên mọi hoạt
động của con người. Trào lưu hậu hiện đại ra đời còn muộn mằn hơn,
nhưng cũng như một số trào lưu khác trong văn học thế kỷ XX, nó mong
muốn cắt đứt mối liên lạc giữa nghệ thuật với hiện thực. Ý đồ ly khai với
hiện thực đời sống của một số khuynh hướng nghệ thuật nào đó, thực chất
là việc phủ nhận một cách chủ quan quy luật về tính năng động nghệ thuật
của văn học hiện đại.
Hiện thực của cuộc sống hiện đại là một hiện thực luôn luôn vận động
về phía trước, về tương lai. Đó là sức sống của thực tiễn không ai phủ nhận

thể hiểu rõ hơn thực chất ba bước chuyển lớn của văn học Việt Nam thế kỷ
XX.
Bước thứ nhất: thời điểm 1932: khi những trào lưu văn học hiện đại
chính thức trình diễn sau hơn một phần tư thế kỷ quằn quại, vật lộn trong
cuộc đấu tranh mới - cũ, Đông - Tây để đổi mới. Những thể nghiệm đầu tiên
đã xứng với vị trí mở đầu của nó: văn xuôi hiện thực từ Hồ Biểu Chánh qua
Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, tiểu thuyết lãng mạn với Tố Tâm của
Hoàng Ngọc Phách và thơ lãng mạn Tản Đà được coi như những tiếng nổ
“đề pa”, những bản nhạc dạo đầu cho cuộc hoà tấu hiện đại bắt đầu náo
nhiệt. Tính năng động nghệ thuật được giải phóng, đẩy văn học đi lên với
tốc độ “một ngày của ta bằng ba mươi năm của người”. Đến một ngày nào
đó, tính năng động nghệ thuật qua thị hiếu cảm thụ của công chúng cũng
đẩy những khúc dạo đầu vào quá khứ. Từ sau 1932, Tố Tâm không còn
bán chạy như 7 năm trước, ít ai còn đọc thơ Tản Đà, người ta lạ lẫm với
giọng đạo lý răn đời trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, người ta tìm đến Tự
lực văn đoàn, thơ Mới và văn xuôi hiện thực phê phán. Và hơn 10 năm, đến
trước 1945 cả ba tư trào này sau khi đạt đến độ chín với những thành tựu
nghệ thuật ngang tầm văn học hiện đại thế giới cùng thời kỳ lại rơi vào bế
tắc. Do tính năng động nghệ thuật của nó, đến đây văn học hiện đại cần
tiếp tục đổi mới. Có lẽ không cần đặt một giả định khác khi cuộc Cách mạng
tháng Tám - 1945 thực sự đã tạo ra một thế giới hiện thực mới cho văn học
hiện đại. Hiện thực đã năng động đổi mới, văn học cũng tìm được lối thoát
mới cho những bế tắc của mình. Bước chuyển của văn học từ sau 1945
trước hết biểu hiện tính năng động của nền văn học ở phương diện sứ
mệnh lịch sử cải tạo thế giới của nó. Ở phương diện này, văn học cách
mạng và kháng chiến từ 1945 đến 1975 trong chừng mực nhất định đã có
nhiều thành tựu. Nó đã tạo ra được thi pháp đặc thù của thời đại mà không
thể nói là cao hơn hay thấp hơn so với trước và sau nó, vì nó giải quyết
những bài toán cuộc sống đặc trưng cho thời đại của nó.
Nhưng, như bất cứ thời kỳ nào của văn học hiện đại, tự thân nền văn

Cá tính sáng tạo tự do của nhà văn ngày càng tìm được sự đồng
thuận, bình đẳng với yêu cầu chính trị. Một tác phẩm văn học hiện đại đích
thực ngày nay phải được một sự bảo đảm đầy đủ cho cá tính sáng tạo của
nhà văn, thể hiện rõ rệt nhất phương thức cảm thụ thế giới của chủ thể. Có
như vậy, văn học hiện đại mới tạo ra được những thế giới nghệ thuật sống
động, đỉnh cao, gắn bó máu thịt với sự vận động của thế giới hiện thực hiện
đại đang diễn ra chóng mặt. Cá tính sáng tạo được giải phóng tự do, có
nghĩa là tính năng động nghệ thuật tìm được môi sinh của nó, truyền cho
sáng tác văn học hiện đại một ý nghĩa xã hội, một sức mạnh thẩm mỹ to
lớn. Vì vậy, ý nghĩa đích thực của sự giải phóng cá tính sáng tạo không thể
tách rời sự vận động của thế giới hiện thực. Ý đồ muốn khẳng định cái “tôi”
chủ quan một cách cực đoan, siêu hình, dìm mình vào một thế giới đơn thể,
quay lưng, đối lập với thế giới phức điệu của hiện thực cuộc sống đương
đại, của dân tộc và nhân loại, của số phận và tương lai của con người sẽ
đẩy nhà văn và nghệ thuật đến chỗ đánh mất cái sức mạnh thực sự của
nghệ thuật, cái sức mạnh được nảy sinh trên cơ sở sự gắn bó mật thiết với
hiện thực.
*
5. Tính năng động nghệ thuật của văn học hiện đại chi phối mọi
phương diện của nền văn học này. Nó là một thứ năng lực đặc thù, một khả
năng đặc biệt để văn học hiện đại vận hành theo một lối riêng tạo ra thế giới
nghệ thuật phong phú, phức tạp chưa từng có xét ở cả hai chiều đồng đại
và lịch đại. Dưới đây là bước đầu nghiệm thu hiệu quả của thứ năng lực
đặc thù đó qua hành trình vận động đổi mới thể loại hiện đại.
Thể loại trong văn học nói chung thường là điểm gặp, là phạm trù
nghệ thuật hội ngộ các phạm trù khác. Khi ở ngoài tác phẩm, thể loại là cái
khuôn vô hồn. Khi nhà văn lựa chọn một thể loại để viết tác phẩm, thì thể
loại thành một yếu tố nghệ thuật mang ý thức văn hoá của nhà văn trong
tác phẩm. Cũng như các yếu tố hình thức khác, thể loại của tác phẩm là
một kiểu khúc xạ các dạng thức, hình thái của hiện thực qua tâm lý sáng

hoá, như là các thể loại đã được an bài mà nên hiểu “định hình” theo nghĩa
khẳng định xu hướng và quan điểm thể loại mới chuẩn bị cho một cuộc
cách mạng thật sự về thể loại sắp mở màn. Xưa, cha ông ta tập theo thể
loại của văn học cổ Trung Hoa và hầu như chủ yếu là rập khuôn theo mẫu
gốc suốt 10 thế kỷ văn học trung đại. Những cải biến thể loại không nhiều
do tính năng động, sáng tạo của nhà văn không được phát động. Bước
sang văn học hiện đại, thế hệ nhà văn đầu tiên cũng bắt chước học tập thể
loại văn học hiện đại phương Tây (trực tiếp là văn học Pháp). Hiện tượng
đó là tự nhiên, cần thiết, nhưng chỉ diễn ra chủ yếu trước 1920, từ 1920 về
sau nhất là từ đầu những năm 30 trở đi, các “mẫu gốc” thể loại hiện đại
phương Tây sẽ đi qua ý thức sáng tạo của nhà văn Việt Nam không ngừng
vận động, đổi mới làm cho năng lực chiếm lĩnh nghệ thuật đối với hiện thực
của thể loại ngày càng tăng trưởng cả chiều sâu lẫn chiều rộng.
Tính năng động của thể loại hiện đại đã phát động đầu tiên cuộc cách
mạng về thơ. Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đã nói đến cuộc đổi thay
này như “những năm đại náo trong làng thơ”, đó là một “cơn gió dữ dội” tạo
ra “cuộc biến thiên vĩ đại”, “cuộc cách mệnh về thi ca”. Nền tảng thơ xưa “bị
một phen điên đảo” do cuộc thâm nhập táo tợn của văn xuôi “tràn vào thơ,
phá phách tan tành” thơ cũ để tạo dựng mô hình thơ mới. Cuộc thâm nhập
này làm chuyển hoá căn bản kiểu câu thơ điệu ngâm trung đại sang câu
thơ điệu nói hiện đại. Chất văn xuôi tạo câu thơ vắt dòng, ngắt dòng kiểu
mới không chỉ trong thơ Mới mà cả trong Từ ấy của Tố Hữu. Hiện
tượng câu thơ không tương ứng với dòng thơ đã thành phổ biến (trong khi
thơ trung đại câu thơ thường trùng khớp với dòng thơ): do yêu cầu diễn tả
đa dạng các kiểu thức lời nói có logíc, có sự mạch lạc, khúc chiết nhằm
truyền đạt những ý tưởng khác nhau: nhân quả, tương hỗ, hô ứng, khẳng
định - phủ định, đồng tình - tranh biện, và để trình bày những lý lẽ ấy, thơ
hiện đại sử dụng nhiều hư từ, quan hệ từ vốn không thông dụng trong thơ
trung đại: vẫn, để, như, nhưng, hãy, cứ, chẳng, sẽ, với, nếu, hay, Đoạn
thơ tám dòng sau đây thực ra là diễn đạt một câu – lời nói dài với một chủ

lưu ký)… Rồi chất thơ đi vào vương quốc của kịch, tạo ra thể kịch thơ có
lịch sử riêng của nó. Phóng sự và tiểu thuyết hoán vị cho nhau một phần
hồn cốt của mình tạo ra những khả năng vô tận trong việc lột trần hiện thực
qua tác phẩm Vũ Trọng Phụng và nhiều nhà văn khác. Chúng tôi đồng ý với
Vũ Tuấn Anh khi sử dụng thuật ngữ “cộng sinh”
(3)
thể loại để nói hiện tượng
trên, nhưng muốn chỉ rõ cả hai bình diện sinh thành và chức năng của hiện
tượng đó nhằm phân biệt với hiện tượng có vẻ tương đồng của văn học
trung đại: dòng truyện thơ nôm. Theo chúng tôi, khác với hiện tượng cộng
sinh thể loại hiện đại, truyện thơ nôm là một hiện tượng ký sinh: cốt truyện
tự sự tìm đến gửi thân phận vào hình thức thơ, do cha ông mình xưa thiên
tính thơ trội hơn “gien” văn xuôi. Ở bình diện sinh thành, có thể nói đó là
hành vi năng động sáng tạo bất đắc dĩ, khác với hiện tượng cộng sinh thể
loại hiện đại do nhu cầu tự thân, quy luật vận động nội tại của mỗi thể loại
như đã nói trên. Còn ở bình diện chức năng: các yếu tố thể loại do cộng
sinh hay ký sinh khi đã hiện diện trong tác phẩm, đều có sự cộng hưởng với
nhau để biểu hiện thế giới một cách độc đáo.
Từ sau 1945, tính năng động nghệ thuật của thể loại vẫn tiếp tục vận
hành trong những sứ mệnh nghệ thuật mới của từng thể loại. Từ sau đổi
mới đến cuối thế kỷ XX, sang đầu thế kỷ này, tính năng động nghệ thuật
của thể loại dường như đang tạo ra những đột phá mới. Ở đây chỉ nói tiếp
về thơ như một dẫn chứng nhất thể.
Hoài Thanh từng ghi nhận thơ Mới 1932-1945 như Một thời đại trong
thi ca, hiển nhiên ta hiểu là một thời đại mới sau nghìn năm thi ca trung đại.
Nếu ta xét “thơ Mới” với ý nghĩa một tư trào nghệ thuật, một sự kiện văn
học sử, thì giá trị mà thơ Mới để lại là vô tiền khoáng hậu, một giá trị không
gì thay thế được. Còn nếu nhìn “thơ Mới” như là một loại hình thơ Việt Nam
hiện đại, thì cũng như với bất cứ một thể loại nào khác khi đã phát triển đến
rực rỡ, hoàn chỉnh ở một thời kỳ, không có nghĩa thể loại đó đã định hình,

ngay từ trong cuộc cách mạng về thơ 1932-1945, thơ Việt Nam (thơ Mới và
các xu hướng khác) đã ngấm ngầm một sức năng động mới để mở rộng
biên giới của thơ. Thơ mới đương đại vừa tiếp tục những năng lượng ấy,
vừa được bồi dưỡng những năng lượng mới mẻ từ sức sống mới của thời
đại, dân tộc, từ cuộc tiếp giao văn hoá đa phương với thế giới hiện đại.
Hướng tới “một thời đại văn học thực sự mới” như niềm khao khát của nhà
thơ Trần Dần thật là chân thành, cảm động. Nhưng cũng như quan niệm
của bạn ông - nhà thơ Lê Đạt - về tính không đầy đủ, không toàn vẹn của
mọi hệ kiến giải mà ông diễn từ nguyên lý bất toàn của Godel (Văn nghệ, số
42-2006) thì “thời đại văn học thực sự mới” theo ý Trần Dần thực ra cũng
chỉ là tương đối, không thể toàn hình, toàn cốt được vì hiện thực vẫn đang
vận động qua biên giới của một kiến giải và quy luật về tính năng động
nghệ thuật của văn học hiện đại sẽ tạo ra tiếp tục trong “thời đại văn học
thực sự mới” đó những sức sống ngầm, rồi sẽ đến lúc “thực sự mới” lại trở
thành cái cũ để cho cái mới khác lại ra đời và mãi mãi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status