TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ ĐẦU TƯ
-----*****-----
BÀI THẢO LUẬN
Đề tài:
Thất thoát và lãng phí trong đầu tư. Thực trạng và giải pháp.
Nhóm sinh viên : nhóm 8
Lớp tín chỉ : KTĐT – 2
Khóa : 48
Hệ : Chính quy
Hà nội, tháng 9 năm 2008
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
Danh sách thành viên nhóm 8
Họ và tên Lớp chuyên nghành
1. Lò Thị Mai Phương Kinh tế đầu tư 48A
2. Vũ Tố Quyên Kinh tế đầu tư 48A
3. Nguyễn Thị Hồng Nhung Kinh tế đầu tư 48A
4. Lê Thi Minh Thúy Kinh tế đầu tư 48A
5. Vũ Đức Linh Kinh tế đầu tư 48A
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
2
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
Danh mục các từ viết tắt
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
FDI
Foreign Direct Investment
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
WTO
World Trade Organisation
Tổ chức thương mại thế giới
DN Doanh nghiệp
trong thời kỳ hiện nay, giai đoạn 2000 - 2007. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn TS. Từ Quang
Phương, TS. Phạm Văn Hùng đã hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài này.
Hà Nội, 23/10/2008Nhóm sinh viên: Nhóm 8
4
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
Chương I:
Những vấn đề lý luận chung về thất thoát và lãng phí trong hoạt
động đầu tư
I. Những vấn đề lý luận chung về đầu tư.
1. Khái niệm đầu tư.
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào
đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt
được kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so
với những hi sinh về nguồn lực mà nguời đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Nguồn
lực hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả
đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản chính( tiền vốn), tài sản vật chất( nhà máy, đường
xá, bệnh viện, trường học…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lý, khoa học,
kỹ thuật…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong
nền sản xuất xã hội.
Đầu tư đó là quá trình bỏ vốn để tạo nên cũng như để vận hành một loại tài sản kinh
doanh nào đó như nhà xưởng, máy móc và vật tư (thường được gọi là đầu tư cho các đối
tượng vật chất) cũng như để mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc cho vay lấy lãi ( thường gọi là đầu
tư tài chính), mà ở đây những tài sản đầu tư này có thể sinh lợi dần hoặc thỏa mãn một nhu
cầu nào đó cho người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhất định trong tương
lai ( thường gọi là dự án đầu tư ).
Đầu tư đó là sử dụng vốn nhằm tạo nên các dự trữ và tiềm năng về tài sản để sinh lợi
dần trong thời gian tương lai. Ở đây cần hiểu đúng ý nghĩa của danh từ dự trữ. Ví dụ, một nhà
đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư.
- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng.
- Lập dự án đầu tư.
- Thẩm định dự án để quyết định đầu tư.
2.2. Giai đoạn thực hiện đầu tư.
Giai đoạn này bao gồm các công việc sau đây:
- Xin giấy phép đầu tư.
- Chọn thầu tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng của công trình.
- Tổ chức đấu thầu.
- Ký kết hợp đồng với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến dự án.
- Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện đầu tư.
2.3. Giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư, đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Vận hành các kết quả đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu của dự án đầu tư, vận hành
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
6