TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
**************
VƢƠNG THỊ BÍCH NGUYỆT
VẤN ĐỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở
HUYỆN MƢỜNG KHƢƠNG TỈNH LÀO CAI
HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.sĩ: Hoàng Thanh Sơn
HÀ NỘI – 2012
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa
Giáo dục chính trị trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã dạy dỗ, chỉ bảo và
truyền đạt kiến thức cho em trong suốt thời gian học tập tại trƣờng cũng nhƣ
trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Hoàng Thanh Sơn đã tận
tình hƣớng dẫn, giúp đỡ em trong trong quá trình làm khóa luận này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những ngƣời thân
đã tạo điều kiện, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Vƣơng Thị Bích Nguyệt
Mƣờng Khƣơng – tỉnh Lào Cai. ...................................................................... 23
1.3. Những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo................................................... 25
Chƣơng 2: Thực trạng và giải pháp nhằm xóa đói giảm ngèo ở
huyện Mƣờng Khƣơng.................................................................................. 28
2.1. Vài nét về huyện Mƣờng Khƣơng. .......................................................... 28
2.1.1. Điều kiện tự nhiên. ................................................................................ 28
2.1.2. Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội......................................................... 30
2.2. Thực trạng đói nghèo ở huyện Mƣờng Khƣơng. ..................................... 32
2.2.1. Thời kỳ đầu chuyển trung tâm huyện lỵ (1991 - 1995). ....................... 32
2.2.2. Thời kỳ 1995 - 2005. ............................................................................. 35
2.2.3. Thời kỳ 2005 - 2009 (sau 4 năm thực hiện tiêu chí mới). .................... 47
2.2.4. Từ 2009 đến nay. ................................................................................... 49
2.2.5. Những khó khăn, thách thức. ................................................................ 58
2.3. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác xóa đói
giảm nghèo ở huyện Mƣờng Khƣơng trong thời gian tới. .............................. 59
KẾT LUẬN .................................................................................................... 63
Tài liệu tham khảo. .......................................................................................... 65
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục
với những mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát
triển của từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc, từng địa phƣơng. Sự nghèo đói
và gia tăng giàu nghèo đã trở thành một trong những nguyên nhân gây nên
những bất ổn xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Chúng ta biết rằng, đói nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần,
mà còn là vấn đề chính trị, xã hội và là một trong những nội dung cơ bản
tỉnh có số hộ nghèo trên 50% [4]. Đây là vấn đề thách thức đối với sự phát
triển và trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội.
Lào Cai là tỉnh vùng cao, biên giới, nhiều dân tộc anh em sinh sống,
đƣợc tái lập từ năm 1991. Nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa tầm quan trọng của
công tác xoá đói giảm nghèo, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Lào Cai đã đề ra các
chủ trƣơng, chính sách xóa đói giảm nghèo và tổ chức thực hiện phù hợp với
điều kiện thực tế của địa phƣơng, nhờ đó đời sống của nhân dân không ngừng
đƣợc cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ gần 43,01% năm 2005 xuống
còn 23,43% năm 2008, nhân dân các dân tộc tin tƣởng vào sự lãnh đạo của
Đảng bộ, chính quyền địa phƣơng, góp phần quan trọng giữ vững và củng cố
quốc phòng, an ninh trên địa bàn [20]. Tuy vậy, so với cả nƣớc Lào Cai vẫn là
một tỉnh nghèo, điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều thấp kém, công tác xóa đói
giảm nghèo tuy đạt nhiều thành tựu quan trọng nhƣng kết quả giảm nghèo
chƣa bền vững, đời sống của nhân dân vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn,
một bộ phận chƣa đạt mức sống tối thiểu, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới còn
cao so với khu vực và cả nƣớc (23,43% vào cuối năm 2008).
2
Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc
huyện Mƣờng Khƣơng đã có nhiều hoạt động thúc đẩy kinh tế phát triển xóa
đói giảm nghèo. Tốc độ tăng trƣởng kinh tế trung bình từ năm 2010 đến nay
là trên 10,0%, thu nhập bình quân đầu ngƣời là 6.000.000đ/ngƣời/năm. Trong
lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp đã hình thành khá rõ rệt, dựa trên hƣớng
phát triển hàng hóa. Huyện mạnh dạn đầu tƣ cho nhân dân sản xuất từng vùng
chuyên canh, năm 2011 đã có 730 ha chuyên trồng dứa trái vụ, 906 ha trồng
chè, 95% diện tích trồng ngô bằng các giống mới, 700 ha trồng lúa đặc sản
Séng Cù. Những năm gần đây đã khởi động trồng thuốc lá là cây trồng có giá
trị thu nhập cao (800 ha vào năm 2011). Đồng thời huyện còn chỉ đạo các xã
đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Mƣờng Khƣơng thu đƣợc những kết quả
nhất định.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nhận thức lý luận và thực tiễn về nghèo đói và xóa đói giảm
nghèo, mục đích nghiên cứu của luận văn là:
- Đánh giá thực trạng nghèo đói, kết quả xóa đói giảm nghèo và nguyên
nhân nghèo đói ở huyện biên giới Mƣờng Khƣơng từ năm 1991 đến nay.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu và phù hợp với điều kiện, đặc điểm
kinh tế - xã hội của địa phƣơng, nhằm đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo
ở huyện Mƣờng Khƣơng tỉnh Lào Cai đến năm 2010 – 2015 và các năm tiếp
theo.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghèo đói và xóa
đói giảm nghèo.
4
- Phân tích thực trạng nghèo đói, nguyên nhân nghèo đói, đánh giá
những kết quả công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Mƣờng Khƣơng, tỉnh
Lào Cai những năm qua.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nhằm đẩy nhanh việc thực hiện
xóa đói, giảm nghèo ở các xã thuộc huyện Mƣờng Khƣơng, tỉnh Lào Cai.
4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Chú trọng phân tích, đánh giá đặc điểm kinh tế xã hội và tình hình đói nghèo ở huyện Mƣờng Khƣơng, tỉnh Lào Cai.
- Giới hạn nghiên cứu: Đánh giá phân tích thực trạng nghèo đói và
công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 1991 – 2011 cho phù hợp với chiến lƣợc
phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Để xem xét vấn đề nghèo đói và xóa đói giảm nghèo một cách khách
độ, khía cạnh khác nhau nhƣ nghèo về vật chất, nghèo về tri thức, nghèo về
văn hóa… Mặt khác, bên cạnh khái niệm nghèo, còn sử dụng khái niệm đói
để phân biệt mức độ rất nghèo của một bộ phận dân cƣ. Chính vì vậy hiện nay
chúng ta thƣờng thấy khái niệm kép: đói nghèo hoặc nghèo đói.
Đói nghèo là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời
gian. Đến nay nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đƣa ra nhiều
khái niệm khác nhau, trong đó có khái niệm khái quát hơn cả đƣợc nêu ra tại
Hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo ở khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng do
ESCAP tổ chức tại Băng cốc (Thái Lan) tháng 09/1993, các quốc gia trong
khu vực đã thống nhất cho rằng đói nghèo là tình trạng của một bộ phận dân
6
cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời đã
đƣợc xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục
tập quán của từng địa phƣơng. Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo,
đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng, trong đó có Việt Nam.
Để đánh giá đúng mức độ nghèo, ngƣời ta chia nghèo thành hai loại:
Nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối.
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng
và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về
ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục…).
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phƣơng, ở một thời kỳ nhất định.
Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ
yếu của ngƣời nghèo là: không đƣợc thụ hƣởng những nhu cầu cơ bản ở mức
tối thiểu dành cho con ngƣời; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng,
thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Dựa vào những khía niệm chung do các tổ chức quốc tế đƣa ra và căn
cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lƣợc toàn diện về
các tiêu chí về kinh tế. Vì vậy, khi nghiên cứu những tác động ảnh hƣởng đến
thực trạng, xu hƣớng, cách thức giải quyết vấn đề đói nghèo cần phải đánh giá
những tác động của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng có
nhƣ vậy mới đề ra đƣợc các giải pháp đồng bộ cho công tác xóa đói giảm
nghèo ở nƣớc ta, đặc biệt là ở vùng miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân
tộc ít ngƣời.
1.1.2. Tiêu chí xác định chuẩn đói nghèo
Để đánh giá đƣợc mức độ đói nghèo, cần phải đƣa ra các tiêu chí xác
định mức độ đói nghèo. Tuy nhiên, những tiêu chí xác định không cố định mà
8
luôn có sự biến động và khác nhau không những giữa các nƣớc và ngay trong
cùng một nƣớc và cũng khác nhau qua những giai đoạn lịch sử.
Ngân hàng thế giới (WB) đƣa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu
nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quân tính theo
đầu ngƣời trong một năm và mức ki lô calo tối thiểu cần thiết cho một ngƣời
sống trong ngày với hai cách tính.
- Phƣơng pháp Atlas là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD. Theo
phƣơng pháp này, ngƣời ta chia thành 6 loại nƣớc (lấy mức thu nhập bình
quân năm 1990):
Trên 25.000 USD/ngƣời/năm: Nƣớc cực giàu
Từ 20.000 USD đến dƣới 25.000 USD/ngƣời/năm: Nƣớc giàu
Từ 10.000 đến dƣới 10.000 USD/ngƣời/năm: Khá giàu
Từ 2.500 đến dƣới 10.000 USD/ngƣời/năm: Nƣớc trung bình
Từ 500 đến 2.500 USD/ngƣời/năm: Nƣớc nghèo
Dƣới 500 USD/ngƣời/năm: Nƣớc cực nghèo
- Phƣơng pháp tính theo sức mua tối thiểu của một ngƣời khoảng 1
USD: Tổ chức Liên Hiệp Quốc dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối thu
nghèo, bộ Lao động – Thƣơng binh và xã hội đã đƣa ra chuẩn đói nghèo của
nƣớc ta nhƣ sau:
- Hộ đói ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời
quy ra gạo là dƣới 8kg/ngƣời/tháng;
- Hộ đói ở khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời quy
ra gạo là dƣới 13kg/ngƣời/tháng;
- Hộ đói ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời
quy ra gạo là dƣới 15kg/ngƣời/tháng;
- Hộ đói ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời
quy ra gạo là dƣới 20kg/ngƣời/tháng.
10
Giai đoạn 1996 - 1997:
- Hộ đói nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu ngƣời quy ra gạo là
dƣới 13kg/ngƣời/tháng cho mọi vùng;
- Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu ngƣời quy ra gạo là dƣới
20kg/ngƣời/tháng đối với khu vực thành thị, dƣới 20 kg đối với khu vực nông
thôn đồng bằng và dƣới 15kg đối với khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo. [3].
Giai đoạn 1998 - 2000: Theo thông báo số 1751/LĐ-TBXH ngày
20/05/1997 của Bộ LĐ-TB&XH đƣợc quy định nhƣ sau:
- Hộ đói tính cho mọi khu vực có mức thu nhập dƣới 13kg gạo tƣơng
ứng với 45.000 đồng/ngƣời/tháng;
- Hộ nghèo khu vực nông thôn miền núi, hải đảo có mức thu nhập dƣới
20kg, tƣơng ứng với 70.000đ/ngƣời/tháng;
- Hộ nghèo khu vực thành thị có mức thu nhập dƣới 25kg gạo, tƣơng
ứng với 90.000đ/ngƣời/tháng. [3].
Theo tiêu chí này, đến hết năm 1997 cả nƣớc còn khoảng 2,65 triệu hộ
nghèo đói chiếm 17,7%; trong đó có 300.000 hộ thƣờng xuyên đói, 1.498 xã
có tỷ lệ nghèo đói từ 40% trở lên. Đến cuối năm 2000 tình trạng đói cơ bản
- Vùng thành thị: 500.000 đồng/ngƣời/tháng. [5].
Phƣơng pháp xác định đói nghèo theo chuẩn Quốc tế do Tổng cục
Thống kê và WB đƣa ra, đã đƣợc thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống
dân cƣ ở Việt Nam.
1.2. Lý luận về xóa đói giảm nghèo
1.2.1. Quan điểm chủ yếu về chính sách xóa đói giảm nghèo của
Đảng và Nhà nƣớc ta
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
Khi nghiên cứu phân tích xã hội tƣ bản để chỉ ra những quy định vận
động và phát triển của nó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập một cách khá toàn
12
diện và sâu sắc tình cảnh nghèo đói và bị bóc lột đến cùng cực của giai cấp vô
sản và những ngƣời làm thuê trong chủ nghĩa tƣ bản. Trong các tác phẩm của
mình Mác và Ăngghen đã mô tả cặn kẽ, xác thực tình cảnh nghèo đói của
những ngƣời vô sản, bán sức lao động cho chủ tƣ bản để kiếm sống. Phụ nữ
và trẻ em phải làm việc đến kiệt sức trong các xƣởng thợ; nông dân bị cƣỡng
đoạt ruộng đất, mất hết tƣ liệu sản xuất... Họ trở thành nạn nhân của tình trạng
bị bóc lột giá trị thặng dƣ tƣơng đối và tuyệt đối của các chủ tƣ bản trong thời
kỳ tích lũy nguyên thủy và thời kỳ cạnh tranh tự do cho chủ nghĩa tƣ bản.
Tiếp tục những nghiên cứu phân tích về chủ nghĩa tƣ bản của Mác và
Ăngghen, Lênin đã phân tích những mâu thuẫn về kinh tế xã hội trong thời kỳ
chủ nghĩa tƣ bản độc quyền, lũng đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Lênin
cho rằng muốn giải phóng toàn bộ giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức
khỏi ách thống trị của chủ nghĩa tƣ bản phải tiến hành cách mạng vô sản do
Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.
Trong quá trình đi tìm đƣờng cứu nƣớc, cứu dân, Hồ Chí Minh đã tiếp
thu đƣợc những tinh hoa của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo vào
điều kiện cụ thể của nƣớc ta. Ngƣời chủ trƣơng làm cách mạng để giành độc
trong thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới đất nƣớc.
Trong 80 năm qua, Đảng ta luôn xác định chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là kim chỉ nam cho mọi hành
động. Đảng và Nhà nƣớc đã đề ra nhiều chủ trƣơng, chính sách về xóa đói
giảm nghèo, phong trào xóa đói giảm nghèo đƣợc phát động rộng khắp và thu
hút sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân. Kết quả xóa đói giảm nghèo
trong những năm vừa qua, khẳng định thêm những chủ trƣơng, chính sách của
Đảng và Nhà nƣớc ta là hoàn toàn đúng đắn với tƣ tƣởng về xóa đói giảm
nghèo của Hồ Chí Minh, vừa hợp với lòng dân.
14
- Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xóa đói giảm
nghèo:
Từ khi hòa bình đƣợc lập lại ở miền bắc (1945) và đất nƣớc hoàn toàn
thống nhất (1975), Đảng và Nhà nƣớc ta đã có nhiều quyết sách để xóa dần
nghèo đói nhƣ: cải cách ruộng đất, xây dựng các công trình thủy lợi miễn
giảm thuế... Làm cho dân bớt nghèo, vƣơn lên giàu không phải là chính sách
nhất thời có tính chất đối phó, mà là chủ trƣơng chiến lƣợc, là mục tiêu hoạt
động của Đảng và Nhà nƣớc ta. Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
VI đến nay, đất nƣớc ta bƣớc vào công cuộc đổi mới toàn diện; xóa bỏ cơ chế
tập trung, quan liêu, bao cấp chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, sau này là nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Việc giải
phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế đã làm cho thu nhập, đời sống của đại
đa số nhân dân từng bƣớc đƣợc cải thiện. Nhƣng do điểm xuất phát của nền
kinh tế thấp, lại chịu hậu quả to lớn của thiên tai và chiến tranh, kèm theo tác
động mạnh mẽ của cơ chế thị trƣờng, nên sự phân hóa thu nhập, đời sống giữa
nông thôn và thành thị, giữa các vùng ngày càng tăng nhanh. Trong quá trình
đổi mới, hội nhập và phát triển, bộ phận dân nghèo kể cả những gia đình có
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI một lần nữa Đảng ta chủ trƣơng:
Tập trung triển khai có hiệu quả các chƣơng trình xóa đói, giảm nghèo ở vùng
sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đa dạng hóa các ngồn lực và phƣơng
thức xóa đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát
triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xóa đói, giảm nghèo bền
vững; tạo điều kiện và khuyến khích ngƣời đã thoát nghèo.
Có thể nói, chủ trƣơng xóa đói giảm nghèo của Đảng ta ngày càng thể
hiện rõ quan điểm xóa đói giảm nghèo gắn với phát triển bền vững, gắn với
phƣơng trâm tăng trƣởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã
16
hội ngay trong từng bƣớc và từng chính sách phát triển, góp phần thực hiện
mục tiêu “Dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
Nghiên cứu đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc ta về xóa đói
giảm nghèo có thể rút ra các quan điểm cơ bản sau:
Quan điểm thứ nhất: Xóa đói, giảm nghèo phải đƣợc giải quyết trong
tổng thể chiến lƣợc phát triển của đất nƣớc. Kết hợp hài hòa giữa tăng trƣởng
kinh tế với công bằng xã hội ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển,
ngay trong từng giai đoạn của quá trình phát triển.
Xóa đói giảm nghèo, khuyến khích làm giàu chính đáng, lành mạnh xã
hội là những nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế bền vững, là cơ sở
kinh tế để thực hiện quá trình xóa đói giảm nghèo. Việt Nam là một nƣớc
đang phát triển ở trình độ thấp, nguồn lực của nhà nƣớc, của cộng đồng còn
rất hạn chế và bản thân ngƣời nghèo còn hết sức khó khăn. Trong những năm
thực hiện đƣờng lối đổi mới, kinh tế ngày một tăng trƣởng, bƣớc đầu tạo công
ăn việc làm, nguồn vốn và cơ hội vƣơn lên cho ngƣời nghèo. Trong 20 năm
đổi mới, nền kinh tế nƣớc ta có nhiều bƣớc phát triển vƣợt bậc. Từ năm 1991
đến năm 1995 bình quân hàng năm tốc độ tăng trƣởng theo GDP là 8,3%,
Quan điểm thứ ba: Thực hiện chƣơng trình xóa đói giảm nghèo gắn với
khuyến khích làm giàu chính đáng, thƣờng xuyên củng cố thành quả xóa đói
giảm nghèo.
Đói nghèo vừa thể hiện thiếu thốn vật chất và mức độ hƣởng thụ văn
hóa, tinh thần với hoàn cảnh, điều kiện rất đa dạng của từng hộ, từng vùng.
Do đó đòi hỏi chủ trƣơng, chính sách phải sát hợp với thực tiễn mới có tính
thuyết phục, vừa gợi mở vấn đề, nâng cao tính sáng tạo của cá nhân và cộng
đồng, thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “giúp ngƣời nghèo
vƣơn lên giàu, ai giàu vƣơn lên giàu thêm” nhằm làm cho dân giàu nƣớc
mạnh. Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã
18
khẳng định: “Nhà nƣớc đã tạo môi trƣờng và điều kiện cho mọi ngƣời lao
động có việc làm, chăm lo cải thiện điều kiện lao động, khuyến khích tăng thu
nhập và làm giàu dựa trên kết quả lao động” [9].
Nhƣ vậy thực hiện chủ trƣơng xóa đói giảm nghèo không triệt tiêu đi
động lực làm giàu, ở vùng nghèo có ngƣời giàu càng cổ vũ, hỗ trợ ngƣời
nghèo vƣơn lên xóa đói giảm nghèo. Làm giàu chính đáng bằng tài năng, học
vấn, khoa học, kinh tế, sản xuất kinh doanh, trên nền tảng đạo đức và pháp
luật, từ đó mới có điều kiện giúp đỡ ngƣời nghèo, nhất là giải quyết việc làm,
nâng cao đời sống. Hơn nữa, thực tế ở Việt Nam rất nhiều gia đình giàu, nhất
là ở nông thôn, rất tích cực thực hiện chƣơng trình xóa đói giảm nghèo. Họ
giúp ngƣời nghèo giải quyết việc làm, kinh nghiệm làm ăn, cách thức chi
tiêu… Nhiều nông dân nghèo ở các địa phƣơng đã tâm sự: Chính cuộc sống
ổn định, khá giả ngay trong thôn xóm là những ngƣời thực, việc thực thúc đẩy
họ vƣơn lên xóa đói giảm nghèo.
Trong cơ chế thị trƣờng hiện nay, dù muốn hay không tình trạng có bộ
phận dân cƣ giàu lên và một bộ phận dân cƣ khác nghèo đói, có vùng giàu có
và vùng nghèo đói vẫn diễn ra là tất yếu. Vấn đề đặt ra là kiên trì chủ trƣơng