Đầu tư phát triển Khu kinh tế Dung Quất. Thực trạng và giải pháp - Pdf 31

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm qua, kể từ khi Khu chế xuất Tân Thuận – Khu chế
xuất đầu tiên ở nước ta được thành lập và phát triển vào cuối năm 1991 tại
thành phố Hồ Chí Minh, đến nay cả nước đã có 219 Khu công nghiệp; 13
KKT được thành lập (chưa kể những khu công nghệ cao) phân bố trên khắp
42 tỉnh thành.
Thực tiễn phát triển Khu công nghiệp, Khu kinh tế (KKT) đã khẳng
định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, chứng tỏ tính chủ động,
sáng tạo của địa phương trong việc phát huy lợi thế, lựa chọn khâu trọng
điểm, đột phá phát triển kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hoá hiện đại
hoá.
Khu kinh tế là mô hình mới có tính đột phá cho phát triển kinh tế
vùng nhằm khai thác các lợi thế về điều kiện tự nhiên, về vị trí địa kinh tế,
thí điểm áp dụng những thể chế và chính sách kinh tế mới để huy động tối
đa nguồn nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp phát triển kinh
tế với giữ vững an ninh, quốc phòng.
Phát triển có hiệu quả các Khu kinh tế gắn liền với việc thực thi cơ chế
chính sách mới đã góp phần ngày càng hoàn thiện môi trường đầu tư của
Việt Nam . Đây là giải pháp hữu hiệu nhất để thu hút mạnh vốn đầu tư và
công nghệ, nhất là nguồn vốn nước ngoài và công nghệ tiên tiến của các
nước phát triển, từng bước hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới.
Thật vậy, các Khu kinh tế ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình. Đến nay,
các Khu kinh tế đã thu hút được 238 dự án đầu tư trong nước và nước ngoài
với tổng vốn đầu tư đăng ký hiện đạt khoảng 9,9 tỷ USD (kể cả các dự án đã
được cấp giấy phép từ trước khi thành lập KKT), trong đó có 62 dự án đầu
tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư đăng ký 3,1 tỷ USD. Riêng Khu kinh
tế Dung Quất đã có 90 dự án đầu tư được cấp phép với tổng vốn đăng ký
khoảng 4,4 tỷ USD (kể cả nhà máy lọc dầu). Như vậy, tổng số vốn đầu tư
đăng ký tại Khu kinh tế Dung Quất chiếm tới 45% tổng vốn đầu tư đăng ký
vào các Khu kinh tế. Không chỉ vậy, Khu kinh tế Dung Quất còn là khu lọc

06/2008/QĐ-TTg cho phép thành lập KKT Đình Vũ – Cát Hải thành phố
Hải Phòng. Đồng thời trong năm 2008, thủ tướng chính phủ cũng xem xét
việc thành lập KKT Hòn La tỉnh Quảng Bình và KKT Nam Phú Yên tỉnh
Phú Yên. Như vậy đến nay thì tổng số KKT được thành lập trên phạm vi cả
nước là 13 KKT với tổng diện tích mặt đất và mặt nước biển khoảng
600.000 ha. Theo quy hoạch đến năm 2020 thì nước ta sẽ có 15 KKT, trong
đó có 2 KKT là Định An và Năm Căn đang được xem xét thành lập. Biểu 1.1: Quy hoạch các KKT tại Việt
Nam
T
T
KKT Địa phương
Diện tích
(ha)
Quyết định
thành lập
1 Chu Lai Quảng Nam 27.040
108/2003/QĐ-TTg
253/2006/QĐ-TTg
2 Dung Quất Quảng Ngãi 10.300 50/2005/QĐ-TTg
3 Nhơn Hội Bình Định 12.000 141/2005/QĐ-TTg
4 Chân Mây – Lăng Cô Thừa Thiên Huế 27.108 04/2006/QĐ-TTg

Vốn đầu tư phát triển do địa phương quản

34.758.930 96,85
1
Vốn ngân sách nhà nước (trung ương và địa
phương)
3.195.264 8,90
2
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước
(kể cả đầu tư hạ tầng của nhà máy lọc dầu
Dung Quất)
26.040.270 72,55
3
Vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp
ngoài quốc doanh
3.287.196 9,16
4 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 1.944.600 5,42
5 Các nguồn vốn khác 291.600 0,81
II
Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn do Bộ,
Ngành Trung ương quản lý
1.093.206 3,05
Nguồn: Vụ quản lý các Khu kinh tế – Bộ Kế hoạch và Đầu tư,2009.
Kể từ kế hoạch năm 2004, các KKT được hỗ trợ vốn từ ngân sách trung
ương để đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật – xã hội và các công
trình dịch vụ tiện ích công cộng quan trọng phục vụ chung cho KKT; đầu tư
hạ tầng ngoài các khu chức năng, đền bù giải phóng mặt bằng các khu chức
năng, xây dựng công trình xử lý nước thải và chất rắn.
Về tình hình hỗ trợ vốn ngân sách trung ương cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng các KKT được phân bổ cụ thể qua các năm như sau:

xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là những nguồn vốn đặc biệt quan
trọng cho đầu tư xây dựng và phát triển các công trình kết cấu hạ tầng kỹ
thuật của các KKT.
1.1.3 Kết quả xây dựng và phát triển hạ tầng các KKT.
Do mới được thành lập nên các KKT đang trong giai đoạn đầu của
quá trình triển khai các công tác quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết các
phân khu chức năng, chuẩn bị lập và thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện các dự án quy mô lớn.
Đến nay các KKT Nghi Sơn, Vũng Áng, Chân Mây – Lăng Cô, Chu
Lai, Dung Quất, Nhơn Hội và Vân Phong đã hoàn thành công tác quy hoạch
chung xây dựng KKT đến năm 2020 hoặc 2025 và đang triển khai công tác
quy hoạch chi tiết các phân khu chức năng đồng thời tiến hành đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội; các KKT Vân Đồn, Đông Nam Nghệ
An và KKT đảo Phú Quốc và cụm đảo Nam An Thới hiện đang trong giai
đoạn xây dựng quy hoạch chung, hoàn thiện bộ máy và nhân sự, chuẩn bị
các điều kiện tiền đề cho việc lập dự án và huy động vốn đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng.
Một số công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội tại các KKT
được đầu tư trong thời gian qua đã hoàn thành và đưa vào sử dụng gồm:
KKT Dung Quất:
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật – xã hội giai đoạn I của KKT Dung Quất
đã cơ bản hoàn thành và đưa vào sử dụng đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu
tư gồm:
- Hệ thống giao thông trục chính như tuyến đường Dốc Sỏi - cảng
Dung Quất, ngã ba Bình Long – nhà máy lọc dầu - cảng Dung Quất, các
tuyến đường trục Khu công nghiệp (KCN) phía Đông, phía Tây và đô thị
Vạn Tường.
- Hệ thống cấp điện, thông tin liên lạc, cấp nước, cảng chuyên dùng
(đáp ứng nhu cầu vận chuyển thiết bụ siêu trường, siêu trọng của nhà máy
lọc dầu và đóng tàu 3 vạn DWT).

lộ 12 đoạn từ Quốc lộ 1A xuống cảng Vũng áng, đang triển khai đầu tư xây
dựng hệ thống cấp điện, thông tin liên lạc, cảng dầu khí, hạ tầng KCN Vũng
áng, hạ tầng nhà máy nhiệt điện,...
KKT Nghi Sơn:
Một số công trình hạ tầng đang thực hiện gồm:
- Đường Đông Tây 2 và 3, đường vào nhà máy xi măng Công Thanh,
đường Bắc – Nam 1B, đường Đông Tây 2 (giai đoạn 2); cầu Đò Dừa 2.
- Hệ thống cấp nước thô, đê chắn sóng cảng Nghi Sơn, hạ tầng các
khu tái định cư Hải Bình, Trúc Lâm, Bình Minh, Tĩnh Hải, nạo vét luồng tày
giai đoạn 2 cảng Nghi Sơn.
Cảng Nghi Sơn đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, có thể đóng tàu 1
vạN DWT.
KKT Vân Phong:
Chủ yếu tập trung công tác lập quy hoạch chi tiết xây dựng, chuẩn bị
xây dựng hệ thống đường bộ, hệ thống cấp nước, rà phá bom mìn, thực hiện
đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng khu tái định cư.
1.1.4 Tình hình thu hút đầu tư vào các KKT.
1.1.4.1 Tình hình chung.
Các KKT đã thu hút được 238 dự án đầu tư trong nước và nước ngoài
với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng 9,9 tỷ USD (kể cả các dự án được
cấp phép từ trước khi thành lập KKT), trong đó có 62 dự án đầu tư nước
ngoài với tổng số vốn đầu tư đăng ký 3,1 tỷ USD.
1.1.4.2 Tình hình thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài tại các
KKT.
KKT Dung Quất đã có 90 dự án đầu tư được cấp phép với tổng số
vốn đăng ký khoảng 4,4 tỷ USD (kể cả nhà máy lọc dầu) trên các lĩnh vực
như: lọc, hoá dầu, cơ khí nặng, đóng tàu, luyện cán thép, cảng biển, dịch vụ
… Như vậy, tổng số vốn đầu tư đăng ký tại KKT Dung Quất chiếm tới 45 %
tổng vốn đầu tư đăng ký vào các KKT. Trong số các dự án đầu tư tại KKT
Dung Quất có 7 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư đăng ký 838

khoảng 500 triệu USD, trong đó có 14 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn
đầu tư đăng ký 305 triệu USD. Hiện tại đã có 19 dự án sản xuất kinh doanh,
3 dự án đang triển khai đầu tư xây dựng cơ bản và các dự án khác đang
chuẩn bị triểnt khai.
KKT Vũng áng: đã thu hút được 16 dự án đầu tư được cấp phép với
tổng vốn đăng ký gần 1.363 triệu USD trong các lĩnh vực nhiệt điện, luyện
cán thép, kho xăng dầu, cảng biển, trong đó có 3 dự án đầu tư nước ngoài
với tổng số vốn đầu tư đăng ký 15,6 triệu USD. Hiện tại 8 dự án đã đi vào
hoạt động sản xuất kinh doanh, 6 dự án đang triển khai đầu tư xây dựng cơ
bản và các dự án khác đang chuẩn bị triển khai. Dự án nhiệt điện Vũng áng
(1.200 MW với tổng vốn đầu tư 1,2 tỷ USD) đang san lấp mặt bằng để triển
khai xây dựng nhà máy.
KKT Nghi Sơn: đã thu hút được 12 dự án được cấp phép với tổng vốn
đăng ký khoảng 1,2 tỷ USD trong các lĩnh vực như: xi măng, hạ tầng KCN,
đóng và sửa chữa tàu biển, nhiệt điện,… trong đó có 3 dự án đầu tư nước
ngoài với tổng số vốn đầu tư đăng ký 636 triệu USD. Hiện tại 4 dự án đã đi
vào sản xuất kinh doanh, 7 dự án đang triển khai đầu tư xây dựng cơ bản và
1 dự án đang chuẩn bị triển khai. Ngoài ra, chưa kể tới dự án nhà máy nhiệt
điện Nghi Sơn giai đoạn 1(công suất 800 MW / năm với tổng số vốn 725
triệu USD) được triển khai trong năm 2008. Một số dự án lớn như: nhà máy
xi măng Nghi Sơn. cảng Nghi Sơn đã đi vào hoạt động.
Các KKT khác như: Vân Đồn, Đông Nam Nghệ An, Phú Quốc …
mới được quyết định thành lập nên đang trong quá trình quy hoạch, chuẩn bị
đầu tư nên chưa thu hút được các dự án đầu tư.
1.2 Vị trí địa lý, quy hoạch và quá trình hình thành,của
khu kinh tế Dung Quất có ảnh hưởng tới hoạt động
đầu tư phát triển.
1.2.1 Vị trí địa lý của khu kinh tế Dung Quất.
Khu kinh tế Dung Quất nằm trên địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi,
có diện tích 10.300 ha bao gồm các xã Bình Chánh, Bình Thạnh, Bình Đông,

Quốc lộ 1A, Đường sắt Bắc - Nam, Quốc lộ 24 nối với Tây Nguyên và các
nước thuộc Tiểu Vùng sông Mê Kông. Khu kinh tế Dung Quất là điểm đầu
của con đường xuyên Á, nối Lào, Cam-pu-chia và đông - bắc Thái-lan do
đó KKT Dung Quất có sức hút với toàn khu vực (một trong 5 tuyến đường
ngang của hệ thống đường xuyên Á chạy qua Việt Nam: tuyến Dung Quất-
Ngọc Hồi-Paksé-Upon). Về mặt địa lý, Dung Quất có thể được xem là vị trí
trung tâm điểm của Việt Nam và của Đông Nam Á. KKT Dung Quất có đô
thị mới được quy hoạch phát triển là thành phố công nghiệp, dịch vụ, phát
triển theo tiêu chuẩn của một đô thị hiện đại, văn minh. Có chiều dài bờ biển
trên 50 km hướng ra biển Đông với nhiều tiềm năng phát triển du lịch, dịch
vụ …
Thứ hai: Lợi thế về phát triển cảng biển và các ngành kinh tế gắn cảng:
KKT Dung Quất hội tụ các điều kiện lý tưởng để hình thành và phát triển
một cảng biển nước sâu lớn: Vịnh Dung Quất, với diện tích mặt nước hữu
ích khoảng 4km2, có độ sâu 10-19m. Theo qui hoạch đã được Chính phủ
phê duyệt, Cảng Dung Quất sẽ được xây dựng thành cảng nước sâu và đa
chức năng (gồm các cụm cảng dầu khí, cảng tổng hợp và cảng chuyên
dùng), có năng lực hàng hoá qua cảng lớn nhất Việt Nam-đến năm 2020 là
30 triệu tấn/năm (chỉ riêng khối lượng hàng hoá qua Cảng của Nhà máy lọc
dầu số 1 là 13 triệu tấn/năm giai đoạn I).KKT Dung Quất có điều kiện thuận
lợi hình thành Khu bảo thuế và các ngành dịch vụ cảng biển. Đây là yếu tố
có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển khu kinh tế này.
Thứ ba: Lợi thế về sự hình thành và tác động của các ngành công nghiệp
mũi nhọn, quan trọng của nền kinh tế: KKT Dung Quất được xác định là
trung tâm phát triển các ngành công nghiệp lọc dầu, hóa dầu – hóa chất, các
ngành công nghiệp quy mô lớn như công nghiệp luyện cán thép, cơ khí đóng
tàu biển, sản xuất container, ciment, các loại thiết bị nặng …
Thứ tư: Lợi thế về điều kiện hạ tầng được nhà nước quan tâm đầu tư đồng
bộ như giao thông, cấp điện, cấp nước, bưu chính viễn thông, các công trình
tiện ích xã hội cùng với một số dự án về các ngành kinh tế khác đã được

như đường sắt, đường bộ, sân bay... các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư
được áp dụng tại KKT Dung Quất là đặc biệt thông thoáng như với KKT
mở. Với phương thức quản lý tập trung và thẩm quyền trực tiếp cho phép
KKT Dung Quất có thể thực thi tốt hơn cơ chế “một cửa” trong giải quyết
các thủ tục đầu tư. Tại đây sẽ tập trung phát triển các ngành công nghiệp
nặng như lọc hoá dầu, luyện cán thép, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất
và lắp ráp ô tô,vật liệu xây dựng...
Việc chuyển đổi từ Khu công nghiệp Dung Quất thành KKT không chỉ đơn
thuần là thay đổi về hình thức mà về bản chất hoạt động cũng thay đổi. KKT
Dung Quất sẽ hoạt động theo hướng đa ngành, thu hút tất cả dự án đầu tư có
nhiều tiềm năng.
KKT Dung Quất là KKT tổng hợp, phát triển đa ngành, đa lĩnh vực với
trọng tâm là công nghiệp lọc hóa dầu – hóa chất, các ngành công nghiệp
nặng quy mô lớn, các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu... Đến
đầu tháng 7-2007, tại KKT Dung Quất có 119 dự án được cấp Chứng nhận
đầu tư và chấp thuận chủ trương đầu tư với tổng vốn đầu tư lên tới 5,48 tỷ
USD.
Trong đó có 24 dự án đang đền bù và triển khai xây dựng, 34 dự án đưa vào
hoạt động sản xuất kinh doanh, cấp phép... Một số dự án có quy mô lớn như
Nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất (vốn đầu tư 2,5 tỷ USD), nhà máy
liên hợp công nghiệp tàu thủy 700 triệu USD, bến cảng tổng hợp số 1... Với
kết quả này, Quảng Ngãi đã vươn lên vị trí thứ 11 của cả nước về thu hút
đầu tư nước ngoài, trở thành trung tâm kinh tế lớn nhất miền Trung.
Hiện tại KKT Dung Quất đã cơ bản hoàn thiện hệ thống hạ tầng thiết yếu
(100km đường trục chính, trường đào tạo nghề, trung tâm quan trắc…),
tiếp tục phát triển hạ tầng, tiện ích chi tiết nhằm đáp ứng đồng bộ và tốt hơn
yêu cầu của các dự án đầu tư.
1.2.3 Quy hoạch của khu kinh tế Dung Quất.
1.2.3.1 Quy hoạch chung.
Chức năng: Dung Quất là Khu Kinh tế Tổng hợp, phát triển đa ngành – đa

NM Cán thép, NM Nghiền clinker, các NM dệt may, giày da, chế biến hàng
tiêu dùng, hàng xuất khẩu, kho bãi ngoại quan gắn với khu hậu cần dịch vụ
cảng...
- Giai đoạn II (2005-2010): Mở rộng công nghiệp hoá dầu, phát triển Cảng
giai đoạn II cho tàu dầu đến 50.000 DWT, tàu hàng hoá 50.000 DWT; từng
bước phát triển các dự án công nghệ cao, thu hút các dự án qui mô lớn như
Nhà máy đóng tàu giai đoạn II, Nhà máy luyện phôi thép...
Biểu 1.5: Dự kiến thu hút đầu tư đến 2010:
TT Dự án
Vốn đầu tư
(triệu USD)
1 NM Lọc dầu (có mở rộng 50% công suất): 2.000
2 Các NM hoá dầu qui mô lớn (PP, LAB, CB, PS, PE): 600
3 Các NM sau hoá dầu, NM hoá chất: 500
4 Liên hợp công nghiệp tàu thuỷ: 500
5 NM Xi măng: 50
6 NM Cán thép: 50
7 Các NM Công nghiệp nặng khác: 100
8 Dệt may, giày da: 40
9 Các NM Công nghiệp chế biến: 50
10 Các Dự án dịch vụ-du lịch: 50
11 Hạ tầng kỹ thuật:
- KCN (1.600 ha) 100
- Đô thị (400 ha) 27
- Du lịch (200 ha) 7
12 Cảng Dung Quất (2 Bến tổng hợp, 1 Bến chuyên dùng): 70
13 NM nước giai đoạn II: 40
14 Cấp điện giai đoạn II: 30
15 Xử lý nước thải: 30



I Khu công nghiệp 3,711.00 101.75 958.25
1
Khu công nghiệp Đông
Dung Quất 2,330.00 711.95
2
Khu công nghiệp Tây
Dung Quất 1,381.00 101.75 246.30
II Khu chức năng 6,589.00 0.00 414.93
1
Khu phi thuế quan/khu
bảo thuế 362.00 0.00 0.00
2 Khu cảng biển 378.00 20.99
3 Khu đô thị 1,175.00 0.00 156.93
Vạn Tường 1,175.00 156.93
4 Khu dịch vụ - du lịch 1,085.00 0.00 14.27
4.1
Khu du lịch sinh thái
Thiên Đàng + Khe hai
286.00
4.2 Lâm viên Vạn Tường 367.00 9.97
4.3
Khu du lịch sinh thái
Vạn Tường
432.00
4.30
5
Các khu chức năng khác
(…) 3,589.00 0.00 222.74
5.1 Khu tái định cư + làng 497.00 69.60

Đất đô thị Dốc Sỏi; Đất đô thị Dốc Sỏi Khe Hai.
THỨ BA: CẢNG DUNG QUẤT
Các thông số:
1.158 ha, gồm 458 ha mặt nước hữu ích, 421 ha mặt bằng và kho bãi
(thuộc địa phận KCN phía Đông); sâu -19 m. Được thiết kế có đê chắn sóng
(kết cấu thân đê: dài 1.600m, cao 27m, rộng 15m), kè chắn cát ở phía Tây dài
1.750 m.
Chức năng:
Là cảng nước sâu đa chức năng lớn nhất Việt Nam, gồm khu cảng dầu
khí, khu cảng chuyên dụng, khu cảng tổng hợp (gồm hàng container, hàng
rời...). Có thể tiếp nhận tàu xuất sản phẩm dầu đến 50.000 DWT, tàu hàng
30.000-50.000 DWT.
Quy mô và quy hoạch mặt bằng:
Khu cảng Dầu khí (phục vụ hoạt động của NMLD Dung Quất) 2 bến
cho tàu xuất xăng và diesel, có trọng tải 20.000-25.000 DWT (giai đoạn I) và
đến 50.000 DWT 2 bến dự phòng (giai đoạn II).
4 bến cho tàu xuất xăng, diesel, nhiên liệu phản lực, khí hóa lỏng và dầu F.O
có trọng tải 3.000-5.000 DWT (giai đoạn I) và đến 30.000 DWT (giai đoạn
II). Bến số 1 cho tàu 10.000 DWT (hiện tại đã có thể tiếp nhận tàu 15.000
DWT), phục vụ cho giai đoạn xây dựng NMLD Dung Quất và phục vụ cho
công tác bảo dưỡng các công trình biển.
Khu cảng tổng hợp được chia thành 2 phân khu cảng
Phân khu cảng tổng hợp I: nằm ngay sau khu cảng dầu khí, có 1.000 m
đường bờ, chia thành 4 lô cho các tàu trọng tải 10.000-50.000 DWT. Trong
giai đoạn đến năm 2005, xây dựng một bến tổng hợp cho tàu có trọng tải đến
20.000 DWT.
Phân khu cảng tổng hợp II: nằm ở phía Nam vịnh Dung Quất, sẽ được phát
triển sau năm 2010.
Khu cảng Container (trung chuyển Quốc tế)
Khu Cảng chuyên dụng Nằm liền kề Phân khu cảng tổng hợp II, trước

thuật và hình thành kho ngoại quan.
• Năm 2005 triển khai đầu tư và vận hành theo phương thức cuốn chiếu.

THỨ NĂM: ĐÔ THỊ VẠN TƯỜNG
Diện tích: 2.400 ha, trong đó có Khu du lịch - dịch vụ sinh thái biển 432 ha.
Tính chất: là đô thị công nghiệp, thương mại, tài chính, văn hoá và du lịch -
dịch vụ phục vụ cho Khu Kinh tế Dung Quất, được qui hoạch theo tiêu chuẩn
hiện đại.
Các khu chức năng trong thành phố:
Một là, Các Khu dân cư: được bố trí liên tục dọc đô thị thành 3 khu
vực chính, và 1 khu ven đô:
• Khu dân cư - chuyên gia: 178 ha
• Khu Trung tâm phía Bắc: 200 ha
• Khu Trung tâm phía Nam : 817 ha
• Khu Du lịch sinh thái : 432 ha
• Khu Lâm viên: 367 ha
Hai là, Khu trung tâm công cộng:
Bố trí xen kẽ giữa các khu dân cư, chủ yếu tập trung thành tuyến trên 2
trục đường hướng ra biển tạo thành 2 trung tâm lớn của thành phố, bao gồm:
Trung tâm hành chính thành phố thuộc Khu trung tâm phía Bắc Vạn
Tường gồm các cơ quan quản lý nhà nước về hành chính, chính trị 50 ha.
Trung tâm tài chính, ngân hàng và dịch vụ công cộng thuộc Khu trung
tâm phía Nam Vạn Tường: ngân hàng, bưu điện, trung tâm tài chính, văn
phòng đại diện, công ty... và các công trình dịch vụ thương nghiệp cấp thành
phố 70 ha.
Ba là, Khu công viên cây xanh và thể dục thể thao: 108 ha.
Bốn là, Khu nghiên cứu khoa học, đào tạo và dạy nghề 25 ha.
Năm là, Khu khai thác du lịch: 438 ha.
Sáu là, Đất khác (cây chắn gió, đồi núi, nông nghiệp…): 859 ha.


lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư. Miễn 15 năm đối với dự án đầu tư
thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư. Miễn 11 năm đối với các dự án đầu tư
khác.
Tất cả các dự án đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước
ngoài trong KKT Dung Quất được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp 10 % được áp dụng trong 15 năm, kể từ khi dự án đầu tư bắt
đầu hoạt động kinh doanh và được miễn thuế thu nhậph doanh nghiệp trong
4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50 % số thuế phải nộp trong
09 năm tiếp theo.
Các dự án đầu tư sản xuất trong Khu kinh tế Dung Quất của các tổ
chức, cá nhân trong nước và nước ngoài được miễn thuế nhập khẩu đối với
nguyên liệu sản xuất, vật tư, linh kiện và bán thành phẩm mà trong nước
chưa sản xuất được hoặc sản xuất không đạt tiêu chuẩn chất lượng trong 5
năm, kể từ khi bắt đầu sản xuất.
Giảm 50 % thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, kể cả người
Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại KKT Dung Quất.
Ngoài các ưu đãi trên, các dự án đầu tư của các tổ chức, cá nhân
trong nước và nước ngoài trong KKT Dung Quất thuộc các lĩnh vực công
nghệ cao đáp ứng quy định tại khoản 2 điều 5 Nghị định số 99/2003NĐ- CP
ngày 28 tháng 8 năm 2003 của chính phủ về việc ban hành quy chế khu công
nghệ cao được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10 % trong suốt
thời gian thực hiện dự án. Các dự án đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong
nước và nước ngoài trong Khu kinh tế Dung Quất có quy mô lớn và có ý
nghĩa quan trọng đối với phát triển ngành, lĩnh vực hoặc phát triển kinh tế -
xã hội của vùng được hưởng thuế suất thu nhập doanh nghiệp 10 % trong
suốt thời gian thực hiện dự án sau khi được thủ tướng chính phủ chấp thuận.
Các tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người
nước ngoài thường trú ở Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
các tổ chức và cá nhân người nước ngoài được đầu tư xây dựng nhà ở để bán
hoặc cho thuê; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu chức năng để cho

Trích đoạn Mục tiêu phát triển đến năm 2015 và tầm nhìn đến 2020. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng. Tính chất phát triển của khu kinh tế Dung Quất theo quy hoạch mở rộng phát triển đến năm 2020. Giải pháp huy động vốn. Giải pháp về quản lý nhà nước đối với Khu kinh tế Dung Quất.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status