Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
Chuyên ngành quản trị kinh doanh quốc tế
CHUYÊN Đề ThựC TậP TốT NGHIệP
Đề tài:
HOàN THIệN CáC ĐIềU KIệN Để CHUYểN Đổi từ gia công
xuấtkhẩu sang xuất khẩu trực tiếp tại Công ty cổ
phần may nông nghiệp
Giáo viên hớng dẫn
: PGS.TS. NGUYễN THị HƯờNG
Sinh viên thực hiện :
vũ duy biên
Lớp :
KDQT A
Khoá :
46
Hệ :
chính quy
Hà Nội - 2008
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: PGS.TS NguyÔn ThÞ Hêng
LỜI MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xu thế hội nhập nền kinh tế quốc dân đang diễn ra mạnh mẽ, không chỉ
bao trùm các khu vực mà còn diễn ra trên phạm vi toàn thế giới. Hòa cùng xu
thế ấy, các quốc gia, các ngành kinh tế đang dần chuyển mình bắt nhịp với nền
kinh tế chung của nhân loại. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế ấy. Từ đổi
mới đến nay, đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên của WTO, các ngành kinh
có để chuyển từ sang xuất khẩu trực tiếp tại Công ty cổ phần may nông
nghiệp. Từ đó rút ra những khiếm khuyết trong các điều kiện chuyển từ
gia công xuất khẩu sang xuất khẩu trực tiếp tại Công ty.
• Đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy việc chuyển từ gia công xuất
khẩu sang xuất khẩu trực tiếp của Công ty cổ phần may nông nghiệp.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phân tích và đánh giá hoạt động gia
công xuất khẩu và các điều kiện về sản xuất, sản phẩm, thị trường, chiến lược
kinh doanh … nhằm chuyển sang xuất khẩu trực tiếp tại Công ty cổ phần may
nông nghiệp.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
• Về lĩnh vực: May mặc.
• Về không gian: Tại Công ty cổ phần may nông nghiệp .
• Về thời gian: Từ năm 2003 đến nay.
IV. KẾT CẤU CỦA CHUYÊN ĐỀ
Sinh viªn: Vò Duy Biªn Líp: Kinh doanh quèc tÕ 46A
3
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: PGS.TS NguyÔn ThÞ Hêng
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề tốt nghiệp được chia làm 3
chương như sau:
Chương I: Lý luận chung về xuất khẩu trực tiếp và các điều kiện để chuyển từ
gia công xuất khẩu sang xuất khẩu trực tiếp.
Chương II: Thực trạng gia công xuất khẩu và các điều kiện cần thiết để chuyển
từ gia công xuất khẩu sang xuất khẩu trực tiếp tại Công ty cổ phần may nông
nghiệp.
Chương III. Một số giải pháp hoàn thiện các điều kiện cần thiết để chuyển đổi từ
gia công xuất khẩu sang xuất khẩu trực tiếp tại Công ty cổ phần may nông
nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Hường và tập thể cán bộ,
Nguồn gốc của hoạt động xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá trong
nước. Khi sản xuất phát triển, việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi
hơn, mặt khác cũng nhận được những hàng hoá mà trong nước không có khả
năng sản xuất, dẫn đến hoạt động xuất khẩu ra đời. Cho đến nay, hoạt động xuất
khẩu đã phát triển rất mạnh mẽ và thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như:
xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu tại chỗ, xuất khẩu theo nghị định thư…
1.1.1.2 Nội dung của hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu của mỗi công ty khác nhau thì thực hiện theo các
cách thức và nội dung khác nhau, thông thường gồm 5 nội dung cơ bản sau:
Nghiên cứu thị trường
Bất kỳ một công ty nào khi muốn thực hiện kinh doanh trên một thị
trường đều phải tiến hành khảo sát nghiên cứu thị trường đó để thu thập và xử lý
những thông tin cần thiết phục vụ cho công việc kinh doanh của công ty mình.
Có hai phương pháp cơ bản để nghiên cứu thị trường là:
+ Nghiên cứu tại bàn làm việc: Đây là phương pháp nghiên cứu thị trường
dựa trên nguồn thông tin thứ cấp thu được từ những báo cáo của các công ty
khác hoặc từ thông tin trên các tờ báo, internet. Phương pháp nghiên cứu này tốn
ít chi phí và thời gian nhưng đôi khi lại không hiệu quả vì thông tin cần thiết lại
không thu thập được hoặc có thông tin nhưng không sát thực tế.
+ Nghiên cứu tại hiện trường: Đây là phương pháp nghiên cứu dựa trên
nguồn thông tin sơ cấp do công ty tự thu thập từ quá trình nghiên cứu thực tế và
trực tiếp tại thị trường kinh doanh mà công ty muốn kinh doanh. Phương pháp
này rất tốn kém nhưng lại hiệu quả do thông tin thu thập được có tính thực tế và
tính cập nhật cao.
Sinh viªn: Vò Duy Biªn Líp: Kinh doanh quèc tÕ 46A
6
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: PGS.TS NguyÔn ThÞ Hêng
Khi công ty thực hiện nghiên cứu thị trường cho một sản phẩm sẵn có thì
những thông tin cân thiết phải thu thập là:
- Dung lượng của thị trường: Tức là dự đoán nhu cầu tiêu thụ tại thị trường đó
đàm phán về hàng hoá và đi đến kí kết hợp đồng xuất khẩu.
Đàm phán hợp đồng xuất khẩu là cuộc đối thoại giữa hai hay nhiều nhà
kinh doanh (đại diện cho một doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh…) nhằm thoả
thuận được với nhau về những điều kiện giao dịch (điều kiện mua bán, điều kiện
thanh toán, điều kiện chất lượng, giá cả hàng hoá..) mà mỗi bên có thể chấp
nhận được. Kết thúc các cuộc đàm phán này thường đưa đến kết quả (nếu có) là
các hợp đồng xuất khẩu.
Hợp đồng xuất khẩu là một cam kết bằng văn bản quy định quyền lợi và
trách nhiệm mỗi bên về các hoạt động xuất khẩu.
Các nội dung chính cần có của môt hợp đồng xuất khẩu là:
- Tên, địa chỉ và người đại diện của các bên tham gia ký kết hợp
đồng xuất khẩu.
- Điều kiện về hàng hoá: Tức là hàng hoá xuất khẩu là loại hàng gì, số lượng
xuất khẩu là bao nhiêu, tiêu chuẩn kĩ thuật của hàng hoá và giá cả hàng hoá, bao
bì và ký mã hiệu.
- Điều kiện giao hàng: là hàng hóa sẽ được giao theo phương thức nào, địa
điểm và ngày giờ giao hàng. Hiện nay điều kiện giao hàng xuất nhập khẩu
thường áp dụng theo điều kiện Incoterm 2000. Ở Việt Nam chủ yếu giao hàng
theo điều kiện FOB và CIF của Incoterm 2000.
- Điều kiện thanh toán: là việc bên mua sẽ trả tiền cho bên bán theo phương
thức nào. Hiện nay, phương thức thanh toán được sử dụng nhiều nhất là thanh
toán bằng tín dụng chứng từ (L/C).
Sinh viªn: Vò Duy Biªn Líp: Kinh doanh quèc tÕ 46A
8
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: PGS.TS NguyÔn ThÞ Hêng
- Điều kiện tranh chấp: là vệc giải quyết giữa hai bên sẽ thực hiện như thế
nào nếu có tranh chấp xảy ra, địa điểm giải quyết tranh chấp và luật áp dụng.
- Ngoài ra còn có các điều khoản khác như: Điều khoản bất khả kháng, thời
hạn hiệu lực, chiết khấu thương mại, quyền hạn và trách nhiệm của các bên…
Sau khi các bên thống nhất các điều khoản trên sẽ đi đến kí kết hợp đồng.
khiếu nại
(nếu có)
Kiểm tra
hàng xuất
khẩu.
Mua bảo
hiểm (nếu
có)
Làm thủ
tục thanh
toán (nếu
có)
Thuê tàu
(nếu có)
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: PGS.TS NguyÔn ThÞ Hêng
khẩu thì lập kế hoạch sản xuất, đối với đơn vị không tự sản xuất thì tiến hành
thu mua hàng xuất khẩu từ các doanh nghiệp, tổ chức sản xuất khác.
Bước 4: Kiểm tra hàng xuất khẩu: Kiểm tra hàng xuất khẩu là hoạt động kiểm kê
số lượng hàng xuất khẩu đã đủ hay chưa, chất lượng có đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
hay không. Đối với các doanh nghiệp không tự kiểm tra được chất lượng hàng
hoá hoặc có nhưng không đảm bảo thì phải mời các tổ chức có uy tín và thẩm
quyền tiến hành kiểm tra chất lượng cho hàng hoá xuất khẩu. Tại Việt Nam tthì
tổ chức này là Vina Control. Việc kiểm tra chất lượng là để lấy chứng
nhận xuất xứ và chứng nhận chất lượng
Bước 5: Thuê tàu (nếu có): Đối với những điều kiện giao hàng mà bên xuất khẩu
phải thực hiện nghĩa vụ thêu tàu hoặc do 2 bên thoả thuận do bên xuất khẩu thuê
tàu thì bên xuất khẩu thực hiện việc lựa chọn và thuê tàu để chở hàng xuất khẩu
theo yêu cầu bên nhập khẩu.
Đánh giá hoạt động xuất khẩu chính là việc xem xét lại các hoạt động đã
thực hiện có hiệu quả không bằng cách so sánh các kết quả đã thực hiện với mục
tiêu đề ra. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho lần tới.
1.1.1.3 Các hình thức xuất khẩu
Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là một trong những hình thức xuất khẩu được các
công ty kinh doanh quốc tế sử dụng nhiều nhất hiện nay.
“Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của một công ty cho
khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài”. Khác hàng của công ty ở đây
không đơn thuần là nhũng người tiêu dùng mà là bất cứ ai có nhu cầu mua hàng
hoá, dịch vụ của công ty. Về ưu, nhược điểm của hình thức này sẽ được tìm hiểu
kĩ trong phần sau của chuyên đề.
Gia công xuất khẩu
Gia công xuất khẩu là một phương thức kinh doanh, trong đó một bên
(gọi là bên nhận gia công) nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên kia
Sinh viªn: Vò Duy Biªn Líp: Kinh doanh quèc tÕ 46A
11
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: PGS.TS NguyÔn ThÞ Hêng
(gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành thành phẩm rồi giao lại cho bên đặt
gia công và nhận phí gia công.
Hình thức này đang được sử dụng rộng rãi tại các nước đang phát triển, có
nhiều nguồn tài nguyên, lao động dư thừa và rẻ, nhưng lại thiếu vốn, công nghệ
và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Hình thức ga công xuất khẩu hiện nay được sử
dụng rộng rãi trong ngành dệt may ở các nước như: Trung Quốc, Ấn Độ,
Bănglađet, Mehico, Việt Nam….
Xuất khẩu ủy thác
Xuất khẩu uỷ thác là một hình thức kinh doanh trong đó các đơn vị ngoại
thương đóng vai trò trung gian thay cho người sản xuất ký kết các hợp đồng mua
bán, tiến hành các thủ tục cần thiết cho hoạt động xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ
nhằm thu một khoản hoa hồng, thù lao nhất định.
+ Ưu điểm của hình thức này là:
- Giảm chi phí vận chuyển hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu.
- Không phải mua bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu.
- Tăng được lợi nhuận do giảm chi phí kinh doanh.
Tái xuất khẩu
Tái xuất khẩu là việc xuất khẩu những hàng hoá ra nước ngoài mà những
hàng hoá này trước đây đã nhập khẩu và chưa qua chế biến tại nước nhập khẩu
với mục đích thu được số lượng ngoại tệ lớn hơn.
Bên cạnh việc kinh doanh bằng tái xuất khẩu thì một số mặt hàng cũng bị
chính phủ nước nhập khẩu buộc phải tái xuất nếu mặt hàng đó bị coi là chất thải,
phế liệu có ảnh hưởng đến môi trường sống.
Sinh viªn: Vò Duy Biªn Líp: Kinh doanh quèc tÕ 46A
13
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: PGS.TS NguyÔn ThÞ Hêng
+ Ưu điểm của hình thức này là: Doanh nghiệp có thể có lợi nhuận cao mà
không cần tổ chức sản xuất.
+ Nhược điểm của hình thức này là:
- Đòi hỏi cán bộ phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao.
- Phải có sự nhạy bén với thị trường, giá cả và hiểu biết chặt chẽ về hợp
đồng mua bán hàng hoá.
Xuất khẩu theo nghị định thư .
Xuất khẩu theo nghị định thư là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thường là
hàng trả nợ) được ký kết giữa chính phủ của hai nước. Xuất khẩu theo hình thức
này thường có các ưu đãi như: hàng hóa xuất khẩu với số lượng lớn, giá cả ưu
đãi, thời gian thanh toán cũng có thể kéo dài hơn.
1.1.2 Lý luận chung về xuất khẩu trực tiếp
1.1.2.1 Khái niệm xuất khẩu trực tiếp.
Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của một công ty cho
khách hàng của mình tại thị trường nước ngoài.
Hình thức xuất khẩu này rất phổ biến ở các nước phát triển bởi nó giúp
Nhân tố khách quan
- Giá cả hàng hóa: Giá cả hàng hoá là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến cung
và cầu về hàng hoá. Khi giá cả tăng lên thì cầu hàng hoá giảm đi và ngược lại.
Tuy nhiên hàng may mặc là hàng hoá ít có nhu cầu ít thay đổi do giá mà người
ta sẵn sàng trả giá cao cho sản phẩm đã có thương hiệu trên thị trường.
- Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là nhân tố vĩ mô ảnh hương trực tiếp tới tất
cả các hoạt động kinh doanh quốc tế. Đặc biệt là ngành may mặc của Việt Nam
hiện nay chủ yếu vẫn là nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài nên sự thay đổi
của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và chi phí sản xuất của
ngành. Khi tỷ giá tăng (VNĐ mất giá) thì doanh thu xuất khẩu tăng nhưng chi
Sinh viªn: Vò Duy Biªn Líp: Kinh doanh quèc tÕ 46A
15
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: PGS.TS NguyÔn ThÞ Hêng
phí nhập khẩu nguyên liệu cũng tăng và ngược lại. Do đó, sự thay đổi của tỷ giá
ảnh hưởng rất lớn đến hàng may mặc xuất khẩu.
- Luật pháp quốc gia và quốc tế: Quy định các loại hàng hoá được phép xuất
khẩu và kinh doanh, quy định tiêu chuẩn kĩ thuật hàng hoá. Trước khi Việt nam
gia nhập WTO (07/11/2006), mặt hàng may mặc của Việt Nam còn bị hạn chế
về hạn ngạch xuất khẩu. Hiện nay hạn ngạch dệt may của Việt Nam đã bị dỡ bỏ
nhưng để được xuất khẩu thì cũng phải đáp ứng rất nhiều các tiêu chuẩn kỹ thuật
như: Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 – 2000, Hệ thống quản lý môi
trường ISO 14000, Hệ thống quản lý trách nhiệm xã hội SA 8000.
- Quan hệ chính trị giữa các quốc gia: Hiện nay Việt Nam có quan hệ song
phương và đa phương với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Điều
này đã tạo ra thị trường xuất khẩu tiềm năng cho hàng may mặc Việt Nam.
Nhân tố chủ quan
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng
của sản phẩm xuất khẩu. Để có được sản phẩm chất lượng tốt phải có trang thiết
bị công nghệ tiến tiến. Với những sản phẩm tốt sẽ có cơ hội xuất khẩu cao hơn.
- Đội ngũ làm công tác xuất khẩu của công ty: Một đội ngũ nhân viên làm
giao lại thành phẩm cho bên đặt gia công và nhận phí gia công.
Trong quá trình sản xuất, chế tạo quyền sở hữu nguyên vật liệu, bán thành
phẩm vẫn thuộc bên đặt gia công và chỉ chuyển quyền sử dụng nguyên liệu, bán
thành phẩm sang cho bên nhận gia công.
Hình thức gia công này có ưu điểm là bên nhận gia công không phải bỏ
chi phí mua nguyên vật liệu nên vốn đầu tư ít. Tuy nhiên hiệu quả kinh tế không
cao do chỉ nhận được phí gia công (phí này thường không cao và đang có xu
hướng giảm xuống).
Hình thức mua đứt bán đoạn .
Sinh viªn: Vò Duy Biªn Líp: Kinh doanh quèc tÕ 46A
17
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: PGS.TS NguyÔn ThÞ Hêng
Đây là hình thức phát triển của hình thức gia công xuất khẩu nhận nguyên
liệu và giao thành phẩm.
Theo hình thức này thì bên đặt gia công sẽ bán nguyên liệu, bán thành
phẩm cho bên nhận gia công hoặc bên nhận gia công phải mua nguyên liệu từ
nhà cung cấp do bên đặt gia công chỉ định. Sau một thời gian bên đặt gia công sẽ
mua lại thành phẩm từ bên nhận gia công. Trong hình thức này, quyền sở hữu và
quyền sử dụng nguyên liệu, bán thành phẩm đều chuyển giao từ bên đặt gia
công sang bên nhận gia công.
Trong hình thức gia công này bên nhận gia công phải mua lại nguyên vật
liệu từ bên nhận gia công nên dễ bị ép giá. Tuy vậy thì hình thức gia công xuất
khẩu này cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với hình thức nhận nguyên
liệu giao thành phẩm.
Hình thức kết hợp .
Bên đặt gia công sẽ giao cho bên nhận gia công nguyên vật liệu chính,
còn bên nhận gia công sẽ chịu trách nhiệm nguyên vật liệu phụ. Sau một thời
gian bên nhận gia công sẽ giao cho bên đặt gia công thành phẩm và nhận phí gi
công kèm theo chi phí nguyên vật liệu phụ.
Trong hình thức này thì nguyên liệu chính vẫn thuộc sở hữu bên đặt gia
xuất do bên nhận gia công đảm nhiệm, bên đặt gia công có nghĩa vụ thanh toán
toàn bộ phí gia công cho bên nhận gia công.
Gia công nhiều bên ( còn gọi là gia công chuyển tiếp).
Ở hình thức gia công này thì sản phẩm gia công của đơn vị trước là
nguyên liệu của đơn vị sau. Việc giao nhận giữa bên đặt gia công và bên nhận
gia công có thể trải qua nhiều bước hoặc nhiều đơn vị gia công khác nhau.Hình
thức này đã có từ lâu, về cơ bản cũng giống như hình thức nhận nguyên liệu
giao thành phẩm thông thường nhưng có khác về chủ thể trong mối quan hệ gia
công: bên đặt gia công vẫn là một bên trong hợp đồng gia công, còn bên nhận
Sinh viªn: Vò Duy Biªn Líp: Kinh doanh quèc tÕ 46A
19
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: PGS.TS NguyÔn ThÞ Hêng
gia công có thể là nhiều đối tượng khác nhau, nhưng những đối tượng gia công
chuyển tiếp này phải được bên nhận gia công chỉ định.
Bên đặt gia công sử dụng hình thức này là nhằm mục đích tận dụng tối đa
năng lực sở trường, tay nghề của các doanh nghiệp. Đồng thời trong một số
trường hợp vẫn giữ được bí mật công nghệ và độc quyền mặt hàng.
1.2.2.4 Xét về công đoạn sản xuất
Gia công đảm nhận một công đoạn.
Đây là hình thức gia công mà bên nhận gia công sẽ nhận gia công một hay
một số công đoạn bất kỳ nào đó trong quá trình sản xuất sản phẩm gia công. Sau
khi hoàn thành các công đoạn gia công bên nhận gia công sẽ giao lại thành phẩm
cho bên đặt gia công.
Hình thức này được áp dụng với những sản phẩm có độ phức tạp cao mà
bên nhận gia công không đảm nhận sản xuất tốt hoặc tên của hàng hoá gắn liền
với danh tiếng của bên nhận gia công. Các sản phẩm thường áp dụng hình thức
này như hàng điện tử… Do vậy hình thức này khai thác triệt để lợi thế của bên
nhận gia công về nguyên liệu, tay nghề, nhân công và máy móc thiết bị cho gia
công tốt phần công đoạn đó.
Gia công hoàn chỉnh một sản phẩm.
+ Ưu điểm của hình thức gia công xuất khẩu đối với bên đặt gia công là:
Gia công xuất khẩu giúp cho bên đặt gia công tận dụng được lợi thế giá rẻ
về nguyên vật liệu và giá nhân công của các nước nhận gia công. Vì hầu hết các
nước nhận gia công đều là các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển, các
nước này có nguồn lao động dồi dào, giá lao động rẻ và có nguồn tài nguên
phong phú.
Sinh viªn: Vò Duy Biªn Líp: Kinh doanh quèc tÕ 46A
21
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: PGS.TS NguyÔn ThÞ Hêng
Bên đặt gia công còn có thể tiết kiệm một khoản chi phí cho việc đào tạo
lao động, trên cơ sở đó có điều kiện tập trung vào các công việc khác như:
nghiên cứu và phát triển thị trường mới, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới.
+ Bên cạnh những ưu điểm hình thức gia công xuất khẩu cũng có những
hạn chế sau:
Do không trực tiếp sản xuất nên sản phẩm gia công thường có chất lượng
không ổn định và đồng đều. Nguyên nhân là do trình độ công nghệ và tay nghề
của công nhân bên nhận gia công chưa đảm bảo.Mặt khác, thời hạn giao hàng có
thể không được bên gia công đảm bảo.
Đối với bên nhận gia công.
+ Ưu điểm của gia công xuất khẩu đối với bên đặt gia công là:
Gia công xuất khẩu giúp cho bên nhận gia công giải quyết một số lượng
lớn công ăn việc làm cho lao động trong nước, ngoài ra còn tận dụng được lợi
thế về nhân công giá rẻ và tài nguyên phong phú.
Bên nhận gia công còn có cơ hội tiếp cận với các công nghệ sản xuất tiên
tiến do bên dặt gia công đầu tư và chuyển giao cho.
Gia công xuất khẩu làm tăng nguồn thu nhập ngoại tệ, tiết kiệm phần lớn
chi phí nghiên cứu thị trường, thiết kế mẫu mã…Và độ rủi ro của hình thức kinh
doanh này thấp, không phải lo đầu ra cho sản phẩm.
+ Hạn chế của gia công xuất khẩu đối với bên đặt gia công.
Bên đặt gia công có sự phụ thuộc lớn vào bên đặt gia công về nguyên vật
bên gia công chỉ định nhà cung cấp dẫn đến bên gia công bị ép giá sản phẩm đầu
và mà giá đầu ra vẫn không tăng. Do đó, bên nhận gia công xuất khẩu đang dần
chuyển đổi từ hình thức gia công xuất khẩu sang hình thức xuất khẩu trực tiếp.
Với hình thức này, bên nhận gia công đã giảm bớt sự phụ thuộc của mình vào
bên đặt gia công về nguyên vật liệu và tránh bị ép giá trong trường hợp nhập
khẩu nguyên liệu sản xuất.
Sinh viªn: Vò Duy Biªn Líp: Kinh doanh quèc tÕ 46A
23
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp GVHD: PGS.TS NguyÔn ThÞ Hêng
Với hình thức xuất khẩu trực tiếp công ty có điều kiện tìm kiếm những nhà
cung cấp nguyên vật liệu đầu vào khác với giá phù hợp mà vẫn đảm bảo chất
lượng làm cho chi phí sản xuất giảm đi và tăng doanh thu cũng như lợi nhuận
kinh doanh, cải thiện mức tiền lương trả cho công nhân.
Mặt khác, với hình thức xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm bán ra thị trường
được gắn nhãn hiệu và biểu tượng của công ty, điều này góp phần quảng bá hình
ảnh và xây dưng thương hiệu cho công ty.
Hiện nay, các sản phẩm may mặc của Việt Nam đã có mặt tại rất nhiều
nước trên thế giới nhưng sản phẩm xuất khẩu trực tiếp vẫn còn ít chỉ bao gồm
một số công ty lớn như: May 10, May Nhà Bè, May Thăng Long, May Đức
Giang, May Việt Tiến và một số thương hiệu khác. Vì vậy khuyến khích các
công ty chyển đổi hình thức gia công xuất khẩu sang xuất khẩu trực tiếp để xây
dựng và quảng bá thương hiệu dệt may Việt Nam.
Ngoài ra, với hình thức xuất khẩu trực tiếp các công ty sẽ có được sự chủ
động trong quá trình sản xuất kinh doanh và đưa ra những chiến lược cạnh tranh
phù hợp.
1.4 Các cách thức chuyển từ gia công xuất khẩu sang xuất khẩu trực tiếp.
Có rất nhiều cách thức chuyển đổi từ gia công xuất khẩu sang xuất khẩu
trực tiếp. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào điều kiện của doanh nghiệp mà lựa chọn cách
thức nào cho phù hợp. Sau đây là ba cách thức cơ bản để chuyển từ gia công
xuất khẩu sang xuất khẩu trực tiếp.
những nguồn thu khổng lồ nhờ thương hiệu.
Ngoài ra sản phẩm hàng may mặc xuất khẩu còn phải đáp ứng những tiêu
chuẩn như: Hệ thống quản lý môi trường ISO 14000, Hệ thống quản lý trách
nhiệm xã hội SA 8000.
1.5.2 Điều kiện về thị trường
Sinh viªn: Vò Duy Biªn Líp: Kinh doanh quèc tÕ 46A
25