Vai tro cua ngan hang thuong mai doi voi kinh te Viet Nam hien nay - Pdf 31

LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây nền tài chính toàn cầu phát triển mạnh mẽ, cùng với xu hướng ấy
nền tài chính Việt Nam phát triển nhanh nhanh của các ngân hàng thương mại, công ty tài
chính, công ty bảo hiểm, thi trường chứng khoán…Nhưng trong đó sự phát triển mạnh mẽ
và quan trọng hơn cả là hoạt động của những ngân hàng thương mại. Sự phát triển về cả
quy mô, nghiệp vụ của các ngân hàng thương mại đã góp phần rất lớn trong sự phát triển
chung của nền kinh tế nước ta, hoàn thành nhiệm vụ hiện đại hóa đất nước.
Ngân hàng thương mại là hệ thần kinh, trái tim của nền kinh tế, là dấu hiệu báo hiệu
trạng thái sức khỏe của nền kinh tế. Các ngân hàng mạnh, nền kinh tế mạnh. Ngược lại, các
ngân hàng yếu, nền kinh tế sẽ yếu kém. Thậm chí nếu ngân hàng đổ vỡ nền kinh tế sẽ lâm
vào khủng hoảng và sụp đổ.
Với tư cách là tổ chức trung gian tài chính nhận tiền gửi và tiến hành hoạt động cho
vay và đầu tư, ngân hàng thương mại đã xâm nhập mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội như là
người mở đường, người tham gia, người quyết định đối với mọi quá trình sản xuất kinh
doanh. Ngân hàng thương mại ngày càng đóng vai trò là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh
toán của các thành phần kinh tế là định chế quan trọng nhất của nền kinh tế. Tại các nước
đang phát triển như Việt Nam, ngân hàng thương mại đóng một vai trò rất quan trọng vì nó
đảm nhận vai trò giữ cho dòng vốn của nền kinh tế được lưu thông.
Với sự quản lý của ngân hàng nhà nước, các ngân hàng thương mại như ngân hàng
Nông nghiệp phát triển nông thôn, ngân hàng đầu tư và phát triển, ngân hàng ngoại
thương…đã và đang có những thành tựa cũng như khó khăn trong tiến trình hội nhập.
Nhưng từng bước đã cho thấy sự trưởng thành của mình trong nền tài chính toàn cầu.
Với mong muốn giúp các bạn sinh viên hiểu rõ hơn về các hoạt động cũng như tình
hình các ngân hàng thương mại ở nước ta trong những năm vừa qua nên nhóm chúng tôi
xây dựng bài tiểu luận này nhằm cung cấp cho các bạn sinh viên các khái niệm cơ bản về
Ngân hàng thương mại, cái nhìn khái quát về các hoạt động, tình hình của ngân hàng
thương mại ở Việt Nam trong thời gian gần đây và các biên pháp kiến nghị nhằm đẩy mạnh
phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại.
Vì hạn chế về mặt thời gian và kiến thức, cũng như các điều kiện khác nên bài tiểu
luận không tránh khỏi những thiếu sót, Kính mong cô cùng các bạn góp ý để bài tiểu luận
hoàn thành tốt hơn.

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế Pháp:
Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường
xuyên nhận được của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các
số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ
tài chính. [2]
- Theo quan điểm của các nhà kinh tế Anh:
Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính trực tiếp giao dịch với công chúng
để huy động tiền gửi,cho vay và cung cấp các hoạt động tài chính khác cho công
chúng. [2]
- Theo quan điểm của các nhà kinh tế Ấn Độ:
Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư.
- Theo quan điểm của các nhà kinh tế Việt Nam:
Trang 5
Chương 1 Cơ sở lý luận
Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện kinh doanh tiền tệ
và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi sử dụng số
tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh
doanh khác có liên quan. [2]
- Mặc dù có những quan điểm khác nhau về ngân hàng thương mại nhưng
tựu chung lại có thể hiểu tổng quát:
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoạt động
trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chính là huy động tiền gửi dưới các hình thức
khác nhau của khách hàng, trên cơ sở nguồn vốn huy động này và vốn chủ sở
hữu của ngân hàng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, chiết khấu đồng
thời thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, môi giới, tư vấn và một số dịch vụ khác
cho các chủ thể trong nền kinh tế.
1.2.1 Chức năng của ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Chức năng trung gian tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của
ngân hàng thương mại (NHTM). Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng,

giữ gìn kỷ cương phép nước trong toàn xã hội.
1.2.1.3 Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân
NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn
tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc
thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. [2]
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM
là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian
tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay
ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi
số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ
phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ…
Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán
trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. [2]
Trang 7
Chương 1 Cơ sở lý luận
Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của
ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với NHTM. do vậy ngân hàng trung ương
có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn. [2]
1.3.1 Nghiệp vụ của ngân hàng thương mại
1.3.1.1 Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản Nợ - NGUỒN VỐN)
Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với
bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng
thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật
pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn
tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế.Đây là nghiệp vụ hình thành nguồn vốn
của NHTM. Nguồn vốn của NHTM gồm có:
* Vốn tự có và coi như tự có (vốn chủ sở hữu) gồm:
- Vốn pháp định: Là mức vốn tối thiểu phải có khi thành lập ngân hàng, nó
được hình thành tuỳ theo tính chất sở hữu của các ngân hàng.

biện pháp để mở rộng phần vốn này.
Bảng 1: Bảng cân đối kế toán của NHTM
Trang 9
Chương 1 Cơ sở lý luận
1.3.1.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn [Tài sản Có – TÀI SẢN] ( cấp tín dụng
và đầu tư):
Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất,
quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng thương mại. Đây là
các nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của ngân
hàng. Thành phần TS Có của ngân hàng bao gồm:
Trên cơ sở hình thành các nguồn vốn, NHTM sử dụng vốn vào các nghiệp vụ
sau:
* Nghiệp vụ ngân quỹ
- Duy trì một mức tiền mặt tại quỹ để đáp ứng yêu cầu chi trả tiền mặt thường
xuyên cho khách hàng.
- Tiền gửi của NHTM tại ngân hàng trung ương (NHTW) gồm tiền gửi dự trữ
bắt buộc và tiền gửi thanh toán để phục vụ các khoản thanh toán giữa các ngân
hàng qua vai trò trung gian thanh toán của NHTM.
- Tiền gửi tại các NHTM để có thể thực hiện nghiệp vụ thanh toán, chuyển tiền
cho khách hàng.
* Nghiệp vụ cho vay của NHTM
- Nghiệp vụ chiết khấu: Thực chất đây là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn nhưng
khoản cho vay mang tính chất đặc biệt vì người vay chuyển quyền đòi nợ trên
thương phiếu sang ngân hàng.
- Cho vay ứng trước: Thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng trong đó khách
hàng được sử dụng tiền vay trong một thời hạn nhất định.
- Cho vượt chi trên tài khoản vãng lai: là hình thức cấp tín dụng đặc biệt, trong
đó khách hàng được phép dư nợ trên tài khoản vãng lai theo một hạn mức tín
dụng trên cơ sở hợp đồng tín dụng.
- Tín dụng ngân quỹ

phiếu…
– Dịch vụ tài khoản.
– Dịch vụ chuyển tiền và thanh toán trong nước và quốc tế.
– Môi giới chứng khoán.
– Phát hành cổ phiếu, trái phiếu cho doanh nghiệp.
– Dịch vụ ngân quỷ.
– Dịch vụ cho thuê két sắt.
– Dịch vụ tư vấn tài chính và đầu tư.
– Khác….
Trang 11
Chương 2 Thực trạng diễn biến hiện nay của các ngân hàng thương mại
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG _ DIỄN BIẾN HIỆN NAY
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1 Hệ thống ngân hàng thương mại
2.1.1 Hệ thống NHTM trên thế giới
Căn cứ vào các tiêu thức sau đây mà NHTM được phân thành các loại:
 Căn cứ vào tiêu thức sở hữu vốn và tài sản:
- NHTM công là NHTM do nhà nước cấp toàn bộ vốn điều lệ và bộ máy lãnh đạo do Nhà
nước bổ nhiệm. [1]
- NHTM tư là NHTM do tư nhân hùn vốn dưới hình thức đóng góp cổ phần. [1]
 Căn cứ theo tiêu thức quốc tịch:
- NHTM bản xứ là NHTM do Nhà nước hoặc công dân của nước sở tại sở hữu. [1]
- NHTM nước ngoài là NHTM do nhà nước hoặc công dân nước ngoài sở hữu. [1]
 Căn cứ vào tiêu thức cơ quan cấp giấy phép hoạt động
- NHTM toàn quốc ( hay còn gọi là NHTM liên bang ở những nước theo thể chế liên bang)
là loại hình NHTM do Chính phủ trung ương hoặc do một cơ quan quản lý trung ương
(thường là NHTW) cấp giấy phép hoạt động. [1]
- NHTM địa phương (hay còn gọi là Ngân hàng bang ở những nước theo thể chế liên bang)
là NHTM do chính quyền địa phương cấp giấy phép hoạt động. [1]

giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng
hệ thống xử lý điện tử hiện đại. Các ngân hàng cũng buộc phải tìm các nguồn vốn mới như
chứng khoán hóa một số tài sản, theo đó một số khoản cho vay của ngân hàng được tập hợp
lại và đưa ra khỏi bảng cân đối kế toán; các chứng khoán được đảm bảo bằng các món vay
được bán trên thị trường mở nhằm huy động vốn mới một cách rẻ hơn và đáng tin cậy hơn.
Hoạt động này cũng có thể tạo ra một khoản thu phí không nhỏ cho ngân hàng, lớn hơn so
với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi). [2]
2.1.2.4 Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất
Các qui định của Chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàng khả
năng nhận được mức thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làm cho
các cơ hội đó trở thành hiện thực. Và công chúng đã làm việc đó. Hàng tỷ USD trước đây
được gửi trong các tài khoản tiết kiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch không sinh
lợi kiểu cũ đã được chuyển sang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tài khoản
có tỷ lệ thu nhập thay đổi theo điều kiện thị trường. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng họ
Trang 13
Chương 2 Thực trạng diễn biến hiện nay của các ngân hàng thương mại
đang phải đối mặt với những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Các
khoản tiền gửi “trung thành” của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh trên phương
diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơn với ý thích thay đổi của xã hội
về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm. [2]
2.1.2.5 Cách mạng trong công nghệ ngân hàng
Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và
đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa
trên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp
tín dụng. Những ví dụ nổi bật nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, cho phép khách
hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24/24 giờ; Máy thanh toán tiền POS được lắp đặt
ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh toán hàng hóa
dịch vụ bằng giấy; và hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách
nhanh chóng trên toàn thế giới. [2]
2.1.3 Hệ thống NHTM ở Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status