LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành niên luận của mình, tôi đã được sự quan tâm, hướng dẫn
tận tình của thầy Nguyễn Duy Phương cũng như các bạn bè và anh chị khóa
trước. Tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ, động viên và khích lệ
của thầy và các bạn trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này.
Đồng thời, tôi cảm ơn sự quan tâm, hướng dẫn, giới thiệu của ban lãnh
đạo Khoa Luật- Đại học Huế trong việc tạo điều kiện cho các sinh viên luật nói
chung và bản thân tối nói riêng, tiếp cận với các cơ quan nhà nước, đặc biệt là
hệ thống các cơ quan tư pháp và các cơ quan quản lý hành chỉnh nhà nước, nhờ
đó mà tôi có được cách nhìn mới hơn, thực tể hơn về lĩnh vực pháp ỉỷ trong
nghiên cứu khoa học cũng như thực tiễn đời sổng, góp phần bổ sung kiến thức
pháp luật, nâng cao trình độ hiểu biết về các kỹ năng chuyên ngành luật, kinh
nghiệm trong cuộc sổng.
Tôi xỉn cảm ơn các cán bộ, công chức và nhân viên trong Viện kiểm sát
nhân dân Thành phổ Huế, đã tiếp nhận yêu cầu kiến tập và nhiệt tình giúp đỡ,
hướng dẫn, cung cấp các thông tin về hoạt động và tổ chức của cơ quan tư
pháp, các hoạt động tiếp công dân và xử lý khiếu nại, tổ cáo. Điều đỏ giúp tôi
tự tin lựa chọn đề tài khoa học để nghiên cứu và hoàn thiện niên luận của mình.
Huế, Ngày 20 Thảng 08 Năm 2010!
lề Tính cấp thiết của đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Giải quyết khiếu nại tố cáo là một vấn đề quan trọng và bức thiết trong
bối cảnh nước ta hiện nay khi tình trạng khiếu nại, tố cáo ở nước ta ngày càng
PHÀN MỞ ĐÀU
gia tăng, và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, làm ảnh hưởng đến quyền
lợi, nghĩa vụ căn bản của nhân dân, trách nhiệm của những cơ quan nhà nước có
thẩm quyềnệ Việc giải quyết khiếu nại tốt hay kém nó thể hiện được chất lượng
quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như mối quan hệ giữa nhân dân
vào nền kinh tế thế giới của đất nước.
3ẳ Đổi tượng và phạm vỉ nghiên cứu đề tàỉẳ
Trong đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về
khiếu nại, tố cáo và hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan có thẩm
quyền giai quyết hiện nay. Bên cạnh đó, tôi thực hiện các hoạt động điều tra, đánh
giá thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở nước ta hiện nay, đồng thời
nghiên cứu, tim tòi, tham khảo những ý kiến đóng góp để đưa ra những kiến nghị,
nhằm nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại tố cáo trong bối cảnh hiện nay.
4ề Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng
làm phương pháp luận xuyên suốt trong việc tiếp cận, và nhìn nhận vấn đề. Bên
cạnh đó, tôi cũng sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác như: phương pháp so sánh,
phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp lịch sử... để có thể nhìn nhận vấn
đề một cách tổng quát, đa chiều những vẫn làm rõ được bản chất của từng vấn đề
cần nghiên cứu.
5ễ Bố cục của đề tài:
5.1 Phần 1: Mở đầu.
- Tính cấp thiết của đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
- Mục đích nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu.
- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
3
PHÀN MỞ ĐÀU
- Bố cục của đề tài.
5.2 Phần 2ề. Nội dung.
Gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và những quy định pháp lý về khiếu
quyền giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo đứng đắn, kịp thời góp phần đảm bảo thực
hiện tốt quyền lực của nhân dân, thắt chặt mối quan hệ giữa nhà nước với nhân
dân, thể hiện được bản chất của dân, do dân, vì dân của Nhà nước ta.
lẳ2. Khái niệm khiếu nại - tổ cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáoẳ
Trước khi nghiên cứu về giải quyết khiếu nại tố cáo, chúng ta cần phải
hiểu như thế nào là khiếu nại, tố cáo.
1.2.1. Khiếu nại: Là một ừong những quyền cơ bản của công dân được
ghi nhận tại Điều 74 của Hiến Pháp năm 1992, đó là việc công dân, cơ quan, tổ
chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do luật khiếu nại, tố cáo quy định đề
nghị với cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định
hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ công chức khi có
căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là ừái pháp luật, xâm phạm quyền
và lợi ích họrp pháp của mình (khoản 1 điều 2 Luật khiếu nại - tố cáo).
lẳ2ẳ2. Tố cáo: Là việc công dân theo thủ tục do luật khiếu nại - tố cáo quy
định, báo cáo cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm
pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức (khoản 2 điều 2 Luật khiếu nại - tố cáo).
lẳ2ề3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo
5
PHÀN MỞ ĐÀU
Giải quyết khiếu nại, tố cáo là việc xác minh, kết luận và ra quyết định
giải quyết của người giải quyết khiếu nại, tố cáo (Luật khiếu nại, tố cáo 1998).
Từ khái niệm nêu trên ta có thể thấy được một số dấu hiệu, đặc điểm của
cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính như sau:
cập giữa các cơ quan, đây cũng là vấn đề đặt ra cần phải khắc phục ừong quá
trình nghiên cứu thành lập cơ quan tài phán hành chính ở nước ta.
Các cơ thanh tra ngoài nhiệm vụ tham mưu cho thủ trưởng cơ quan hành
chính trong việc giải quyết khiếu nại còn có ừách nhiệm tổ chức việc tiếp dân,
nhạn các khiếu nại, tố cáo, kiểm ừa, thanh tra việc thực hiện pháp luật về khiếu
nại, tố cáo của các cơ quan hành chính các cấp và thực hiện việc quản lý nhà
nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Là cơ quan tham mưu trong giải
quyết khiếu nại, tố cáo, các cơ quan thanh tra còn có nhiệm vụ, quyền hạn thanh
tra việc thực hiện chính sách pháp luật của các cơ quan, tổ chức , cá nhân thuộc
phạm vi quản lý của thủ trưởng cùng cấp.
1
ề
*% TI Ẩ • _ •?_______1 _ 1 » ____1 _ A Ấ _____M I Ạ « ____\ __________» Ạ _
• ? •
Ẵj_
| _ 1 _ * Ẩ_____________________ • J Ấ _ Ị _ 7 . T 7 » Ạ J
3 Bôi cảnh kỉnh tê-xã hội và vỉệc gỉảỉ quyet khiêu nại, tô cáo ở Vỉệt
NamẺ
Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
về kinh tế, xã hội, quá trình hội nhập quốc tế đạt được những kết quả nhất định
như: tham gia họp tác với các quốc gia trong khu vực ASEAN, tổ chức quốc tế
WTO, bình thương hóa quan hệ Việt - Mỹ.
Cùng với các hoạt động cải cách kinh tế, xã hội thì chúng ta cũng đã quan
lể4Ẻl Trình tự giải quyết khiếu nại
- Đối với công dân: Người khiếu nại cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan
8
PHÀN MỞ ĐÀU
đến nội dung khiếu nại.
- Đối với cơ quan có thẩm quyền giải quyết:
+ Trực tiếp làm việc với người khiếu nại, người bị khiếu nại.
+ Tiến hành thẩm tra, xác định.
+ Tổ chức đối thoại với những người khiếu nại.
+ Trưng cầu giám định nếu thấy cần thiết.
+ Ra quyết định và công bố quyết định giải quyết khiếu nại. lể4Ẻ2
Trình tự giải quyết tổ cáoễ Bước 1: Cá nhân gửi đơn tố cáo đến cơ quan có
thẩm quyềnệ Bước 2: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn tố cáo
thuộc thẩm quyền, người giải quyết phải thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn
bản cho người tố cáo khi có yêu cầu.
Bước 3: Ban hành quyết định thụ lý giải quyết đơn tố cáo hoặc quyết đinh
thành lập đoàn thanh tra để thẩm tra, xác minhệ Bước 4: Tổ chức thẩm tra, xác
minh vụ việc.
Tiến hành thẩm tra, xác minh những nội dung tố cáo... Làm việc với
người tố cáo, làm việc với các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan. Thực hiện
các biện pháp xác minhệ
Xây dựng báo cáo kết quả xác minh, kết luận về nội dung tố cáo. Căn cứ
báo cáo này, người giải quyết tố cáo tiến hành xử lý tố cáo và ban hành quyết
định xử lý theo thẩm quyền.
1Ẻ5 Căn cứ pháp lý để giải quyết khiếu nại, tố cáoẺ
- Hiến pháp 1992.
khiếu nại, tố cáo, giảm 20% so với năm 2008 ( ừong đó có 14.462 vụ việc khiếu
10
PHÀN MỞ ĐÀU
nại, tố cáo thuộc thẩm quyền gồm 9.883 khiếu nại, 4.579 tố cáo); các địa
phương tiếp nhận, xử lý 133.051 đơn thư với 102.123 đơn thư khiếu nại tố cáo,
giảm 2,48% so với năm 2008 ( ừong đó có 62.336 vụ việc thuộc thẩm quyền,
gồm 56.098 khiếu nại, 6.238 tố cáo).
Trong năm qua, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã
được các cơ quan, các cấp, các ngành ngày càng quan tâm ệ Thanh ừa chính phủ
đã thanh tra, kiểm tra, xem xét 299 vụ việc, ừong đó có 73 vụ việc Thủ tướng
chính phủ giao (đã báo Thủ tướng 52 vụ việc). Các Bộ, ngành, địa phương đã
giải quyết 64ệ025/76.798 vụ việc thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ 83,37%. Trong đó:
55.403/65.981 vụ việc khiếu nại, đạt tỷ lệ 83,97%; 8.676/10.817 vụ việc tố cáo,
đạt tỷ lệ 80,2%. Các đơn vị giải quyết đạt tỷ lệ cao là: Bộ công thương 98,45%;
Ngân hàng Nhà nước 97,1%; Hà Giang 98,59%; Tiền Giang 97,5%; Kiên Giang
96,7%; Đắc Nông 96,2%; Tây Ninh 95,6%; Tuyên Quang 95,55%; Hà Tĩnh
94,5%; Nghệ An 94,3%; Lâm Đồng 94,2%; Quảng Bình 93,99%; Lạng Sơn
93,95%; Hòa Bình 93,33%, Lào Cai 93,3%...
Nhìn chung, từ các kết quả đã đạt được trong nhưng năm qua cho thấy các
ngành, các cấp, nhất là các cơ quan thanh tra đã có nhiều cố gắng tham mưu, đề
xuất nhiều giải pháp tích cực trong công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Việc chỉ đạo thực hiện tập trung, đồng bộ hơn, đã huy động
sức mạnh của nhiều lực lượng nên đã kịp thời xử lý các tình huống phức tạp,
giải quyết dứt điểm được nhiều vụ việc mới phát sinh ngay tại địa phương.
Điểm đột phá trong những năm qua là Thanh ừa Chính phủ đã đưa ra những kế
hoạch và hướng dẫn chỉ đạo tập trung ráo riết đối với toàn ngành ừong việc rà
soát, kiểm tra, giải quyết được nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, bức xúc,
12
PHÀN MỞ ĐÀU
phổ biến một số tài liệu hướng dẫn tuyên truyền pháp luật khiếu nại, tố cáo sang
tiếng dân tộc thiểu số cho những công dân thuộc các dân tộc thiểu số, ít người.
Xây dựng quy chế phối họrp giữa Hội nông dân, Ưỷ ban mặt ừận tổ quốc xã,
phường, thị trấn, với chính quyền cấp xã trong việc phối hợp, tuyên truyền, phổ
biến pháp luật về tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp phát sinh từ
cơ sở cán bộ, nhân dân ở xã , phường, thị trấn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình khiếu nại tố cáo
vẫn còn những diễn biến phức tạp, số vụ việc khiếu nại, tố cáo có gia tăng, số vụ
việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng vẫn còn nhiều, một số địa phương chưa tập trung
chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo một cách thương xuyên, chưa thực hiện
nghiêm chế độ tiếp dân, việc giải quyết khiếu nại tố cáo còn chậm, một số vụ
việc giải quyết chưa thấu tình đạt lý gây bức xúc cho nhân dân.
2Ẻ2Ẻ Những bất cập về giải quyết khiếu nại tổ cáo trong xử lý vỉ phạm
hành chínhề
Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể:
Trong những năm qua, số công dân đến trụ sở tiếp dân khiếu kiện ngày
càng tăng (năm 2008 tăng 34,3% so với năm 2005; năm 2007 tăng 33% so với
năm 2006; năm 2008 tăng 2,1% so với năm 2007, tăng 34,6% so với năm 2006
và tăng 104,9% so với năm 2005). Khiếu kiện đông người năm 2007 tăng so với
năm 2006, năm 2008 giảm không đáng kể so với năm 2007 và số đoàn khiếu
kiện đông người vẫn rất nhiều (năm 2006 là 145 đoàn, năm 2007 là 171 đoàn,
năm 2008 là 142 đoàn)ệ
14
PHÀN MỞ ĐÀU
trọng, làm mất lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Cơ quan tư pháp
cũng có những thiếu sót dấn đến các khiếu kiện vòng vo kéo dài vì không nơi
nào giải quyết đến nơi, đến chốn, và cũng không có các hồi âm đối với các đom
thư tố cáo dẫn đến khiếu kiện vượt cấp ở các cơ quan, nhà riêng của các đồng
chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, số lượng các vụ khiếu kiện cũng rất đáng chú ý:
Trong tháng 9 năm 2006, trụ sở tiếp dân của Đảng và Nhà nước tại Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp trên 20 nghìn lượt công dân, có 491 lượt đoàn
đông người, tiếp nhân 34ệ292 lượt đơn thư khiếu nại, tố cáo. Tổng hợp báo cáo
đến ngày 2/10/2006 của 64 tỉnh thành và 21 bộ nghành có báo cáo 6 tháng đầu
năm cơ quan hành chính nhà nước các cấp các nghành đã tiếp 187.97 lượt người
khiếu nại, tố cáo.
Năm 2009, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp 307.797 lượt khiếu
nại, tố cáo, tiếp nhận 206.10 đơn thư. Đó là những con số được tổng hợp từ báo
cáo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2009 Chính phủ gửi lên Quốc hội.
Theo đó, qua giải quyết khiếu nại, tố cáo đã thu hồi cho ngân sách nhà nước
368.056 triệu đồng; 549,46 ha đất; minh oan cho 250 người; chuyển cơ quan
điều tra xem xét trách nhiệm hình sự 106 người. Theo chính phủ thì kết quả phát
hiện, xử lý tốt hom, cao hom so với năm 2008.
Báo cáo cũng nêu rõ những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai liên
quan đến việc thu hồi đất, bồ thường giải phóng mặt bằng,đòi lại đất cũ khi đưa
vào tập đoàn sản xuất, hợp tác xã, nông , lâm trường và tranh chấp đất đai ừong
nội bộ nhân dân. Một số vụ việc điển hình được nêu tại báo cáo là khiếu nại thu
hồi đất để thực hiện các dự án: khu đô thị- thương mại Văn Giang(Hưng Yên),
dự án của Tập đoàn Vinashin tại Hải Dương, đường cao tốc, đường dây 500
16
PHÀN MỞ ĐÀU
nhà nước đã tiếp gần 434.000 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo về đất đai,
nhận trên 165.426 lượt đơn, có 1.098 đoàn khiếu nại, tố cáo đông người ( Thái
Bình 133 đoàn, Bắc Giang 123 đoàn, Vĩnh Long 112 đoàn, Kiên Giang 110
đoàn, Bắc Ninh 105, cần Thơ 87 đoàn và Nam Định 7 đ o à n . . N ộ i dung khiếu
nại, tố cáo chủ yếu tập trung vào việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, bố trí tái
định cư, đòi lại đất cũ và tranh chấp quyền sử dụng đất. Nhiều vụ việc khiếu nại
nổi cộm, mang nhiều bức xúc như vụ việc thu hồi đất để xây dựng cở sở hạ tầng
ở Đà Nang, công dân tụ tập bao vây cơ quan, nhà riêng của các đồng chí lãnh
đạo tỉnh, kéo đến trung ương, lưu lại nhiều ngày ở Hà Nội, và liên kết với các hộ
dân ở Long An, An Giang, Lâm Đồng để gây sức ép đòi giải quyết quyền lợi.
Trong đó khiếu nại việc thu hồi đ ấ t , bồi thường không thoả đáng, không làm
đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật như ở Thái Nguyên, Hà nội, thành
phố Hồ Chí Minh... các khiếu nại đòi lại đất cũ ( do thực hiện chính sách
nhường cơm sẻ áo, đất đã đưa vào Họp tác xã, Tập đoàn sản xuất...) ở Tiền
Giang, Bến Tre... gây nhiều bức xúc. Thủ tướng chính phủ cũng đã có Quyết
định 815/QĐ-TTg ngày 04/07/2001 phê duyệt phương án giải quyết khiếu nại,
tranh chấp đất đai của một số hộ nông dân ở tỉnh Bến Tre, tuy nhiên đến nay vẫn
còn nhiều vụ việc tiếp tục khiếu nại gay gắt.
Đáng chú ý trong thời gian qua các địa phương tiến hành xây đựng các
khu công nghiệp thu hồi chủ yếu là đất nông nghiệp, trong khi đó giá đền bù
thấp, quỹ đất sản xuất nông nghiệp còn ít hoặc không còn để giao, nhiều trường
hợp sau khi thu hồi đất nông nghiệp giao cho các công ty để sử dụng vào mục
đích kinh doanh, sản xuất, người dân không chấp nhận dẫn đến tình ừạng nhiều
hộ dân chống đối, không thực hiện các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
18
PHÀN MỞ ĐÀU
dân tộc thiểu số với nhau nhằm tạo sức ép đối với chính quyền.
Khiếu kiện của người dân không chỉ dừng lại ở những yêu cầu về tự do
dân chủ, nhân quyền mà đã mang màu sắc của những mâu thuẫn đối kháng về
giai cấp, dân tộc, tôn giáo. Một số vụ việc đã vượt qua giới hạn cho phép bởi
những người khiếu kiện đã tập trung thành đoàn biểu tình đi qua các đường phố
với những khẩu hiệu quá khích như: " Việt Nam không có nhân quyền"; "Chính
quyền cướp đất của dân"... Thậm chí một số vụ những người khiếu kiện đã tập
trung trước các cơ quan ngoại giao như: Tổng lãnh sự quán Mỹ, Tổng lãnh sự
quán Nhật Bản với ý đồ bêu rếu, bôi nhọ chính quyền Nhà nước Việt Nam và
nhờ can thiệp.
Một số vụ khiếu kiện đã đổi màu do các thế lực phản động trong và ngoài
nước xúi giục, kích động (như khối 8406 đòi tự do, dân chủ và nhân quyền).
Điển hình như vụ nhiều công dân tập trung tại nhà thờ Đức Bà để biểu dương
lực lượng và nêu yêu sách.
Tình trạng khiếu kiện ngày càng phức tạp và gia tăng trong khi đó nhiều
cơ quan quản lý nhà nước vẫn chư coi trọng công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo, vẫn còn né tránh, đùn đẩy, việc phân công bố trí người lầm công tác tham
mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo còn hận chế về chuyên môn nghiệp vụ, công tác
tiếp dân ở các cơ quan quản lý nhà nước tuy có duy ừì nhưng không cược
thường xuyên, việc phân bố phòng tiếp dân còn tạm bợ, chắp vá. Một số đom vị
giải quyết khiếu nại, tố cáo tiến hành rất chậm chạp, không có sự chặt chẽ trong
xử lý làm cho những các nhân, tổ chức đi khiếu nại, tố cáo bức xúc dẫn đến
khiếu nại, tố cáo nhiều lần, vượt cấp, làm sự việc phức tạp hơn và gây những
hậu quả xấuệ
20
PHÀN MỞ ĐÀU
gian giải quyết các vụ án chưa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
Đường lối giải quyết một số vụ án không đúng đắn dẫn đến bị kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm để xét xử phúc thẩm, sơ thẩm lại vụ án ệ Vì vậy còn một
bộ phạn nhân dân còn nghi ngại trước khi chon con đường khởi kiện toà án.
Những hạn chế về công tác cán bộ mà Toà án nhân dân tối cao nhận ra
ừên đây chắc chắn sẽ đặt ra cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu
kiện hành chính những nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân, và giải pháp khắc phục
một cách hiệu quả. Và những vướng mắc bất cập trong Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các vụ án hành chính cũng đang được thảo luận tim ra hướng khắc phục
nhằm đươ vào Dự án Luật tố tụng hành chính ừình Quốc hội xem xét, một đạo
luật rõ ràng, minh bạch, chặt chẽ nhằm nâng cao chất lượng xét xử các vụ án
hành chính đang là một đòi hỏi bức thiết của đời sống xã hội hiện nay.
2Ẻ3Ẻ Nguyên nhânẺ
Tình trạng khiếu kiện gia tăng và ngày càng phức tạp như đã trình bày ở
ừên xuất phát từ nhiều nguyên nhân ệ Có thể chỉ ra một vài nguyên nhân chính
sau đây:
Thứ nhất, do sự yếu kém của cán bộ khi giải quyết khiếu kiện của công
dân. Nhiều công chức, cán bộ làm nhiệm vụ tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
của dân còn yếu kém về trình độ, năng lực chuyên môn. Đồng thời, cách giải
quyết khiếu kiện ở cấp cơ sở còn quá cứng nhắc, rập khuôn theo quy định; chưa
xem xét đến tính lịch sử của các vấn đề gây khiếu kiện. Một số công chức yếu
kém về phẩm chất đạo đức, chấp hành các quy đinh về giải quyết khiếu kiện
chưa nghiêm, việc thực thi nhiệm vụ chưa tốt, xử lý công việc chưa minh bạch;
có những hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu gây khó khăn trong quá trình giải quyết
22
PHÀN MỞ ĐÀU
sợ bị trù dập nên không dám tố cáo những hành vi của một số cán bộ xấu. Bên
cạnh đó, cũng có không ít bà con bị một số kẻ xấu kích động, một số tay "cò
khiếu kiện" chuyên làm đom xúi giục khiếu nại tập thể, vượt cấp để "vét túi"
nhân dân, gây rối an ninh trật tự.
2Ẻ4Ẻ Những kiến nghị giải pháp giải quyết khiếu nại tổ cáo hiện nayể
Trước những khó khăn và còn nhiều bất cập ừong hoạt động giải quyết
khiếu nại, tố cáo như hiện nay thì chúng ta phải bình tĩnh, không hoang mang,
giao động, không thổi phồng sự việc nhưng cũng không được chủ quan, coi nhẹ,
lơ là. Để hạn chế mức thấp nhất tình hĩnh khiếu kiện, ngoài việc tăng cường
công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân, chúng ta cần
phải có nhiều giải pháp và phải giải quyết một cách đồng bộ. Tôi xin đề xuất một
số giải pháp như sau:
Thứ nhất, tiếp tục quan tâm, hoàn thiện hệ thống pháp luật, bởi vì, theo
hầu hết ý kiến của các học giả, chính trị gia đều chia sẻ nhận định chung về hệ
thống pháp luật Việt Nam còn nhiều bất cập, chồng chéo, mâu thuẩn về nội
dung, ban hành không đúng thẩm quyền, thiếu sự tương thích, nhất quán giữa
các văn bản dưới luật, các văn bản hành chính với luật và Hiến pháp,nhưng lại
chậm được sửa đổi, bổ sung. Sự bất cập này dễ gây ra thiệt thòi cho người dân
do áp dụng, thậm chí sự vận dụng tùy tiện của các cán bộ địa phương. Không ít
địa phương tùy tiện ừong việc thực hiện các chính sách của Nhà nước về quản lý
hành chính, đặc biệt là ừong lĩnh vực đất đai. Vì vậy, Bộ tài nguyên và môi
trường, Bộ xây dựng và các cơ quan liên quan nên phối hợp rà soát lại các quy
định của pháp luật liên quan đến đất đai, đến chính sách giải tỏa, đền bù tái định
cư, đặc biệt là khung giá đất để đảm bảo người dân nếu bị giải tỏa không bị thiệt
24
PHÀN MỞ ĐÀU
giải quyết luôn hoặc nói rõ quan điểm đứng sai theo thẩm quyền để trả lời cho
đương sự và UBND các tỉnh, thành phố. Tránh chuyển đơn thư với cách đặt vấn
để chung chung như "Đề nghi xem xét giải quyết" vì sẽ làm cho đương sự ừông
chờ hy vọng và nhiều lúc gây khó khăn cho địa phương.
Thứ sáu, giải quyết khiếu kiện lần đầu của các địa phương là khâu then
chốt, khâu quan ừọng nhất, có ý nghĩa quyết đến quá ừình giải quyết khiếu kiện ệ
Các địa phương cần tích cực xử lý ngay những nội dung liên quan đến khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị của người dân, đặc biệt là các vụ khiếu kiện đông người, khiếu
kiện của đồng bào dân tộc thiểu số. Chính quyền sơ sở cần giải quyết đúng pháp
luật, kết họrp với giải thích, động viên người dân nhằm khắc phục tối đa tình
trạng khiếu kiện vượt cấp.
Thứ bảy, cần nâng cao ý thức và trách nhiệm công vụ của cán bộ, công
chức chính quyền các cấp ở địa phươngệ Khắc phục tình trạng đùn đẩy ừong bộ
máy hành chính. Người có trách nhiệm nhận đom thư khiếu nại, tố cáo của
người dân chỉ làm một cách chiếu lệ, không cần đọc nội dung đơn thư mà tiếp
tục kính chuyển cho xong việc. Nhiều thủ trưởng ngại tiếp dân, đã "khoán ừắng"
cho người cấp dưới. Hiệu quả tất yếu là chất lượng giải quyết khiếu nại tố cáo
thấp, không dứt điểm, hồ sơ khiếu kiện ngày càng thêm chồng chất. Hơn 50%
đơn thư khiếu kiện tiếp vì địa phương chưa làm đúng chính sách, thiếu công
khai, mất dân chủ, tham nhũng, tiêu cực, thậm chí có cán bộ còn thách thức dân,
chính quyền có lúc, có nơi tỏ thái độ không thiện chí giải quyết khiếu kiện của
dân.
Bên cạnh đó, phải nâng cao chất lượng và sớm kiện toàn đội ngũ cán bộ
của các cơ quan tư pháp. Do ừình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức cán bộ còn