Khoá luận tốt nghiệp vận dụng phương pháp dạy học hợp tác và phương pháp đàm thoại trong dạy học giải toán có lời văn lớp 4 - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC su PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIEU
HỌC
===%DIŨ3O3===

VŨ THỊ THU

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC • • • •
HỢP TÁC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI
TRONG DẠY HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN
LỚP 4
KHÓA LUẬN TỎT NGHIỆP ĐẠI
HỌC

• • • •

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán Tiếu học

Ngưòi hướng dẫn khoa học
ThS. PHẠM HUYÈN TRANG

HÀ NỘI - 2015


Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục tiểu
học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm khóa luận này.Đặc biệt tôi xin bày tỏ làng cảm
ơn sâu sắc đến cô Phạm Huyền Trang - người đã trực tiếp hướng dẫn, chi bảo tận tình để tôi có thể hoàn
thành khóa luận.
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian và năng lực có hạn
nên vẫn chưa đi sâu khai thác hết được, vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế. Vì vậy, tôi mong nhận được sự
tham gia đóng góp ý kiến của các thầy cô và cácLỜ
bạn.

phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong nhà trường. Trong xu hướng đó, thì việc
đổi mới phương pháp dạy học là một nhu cầu cấp thiết.
Trên thực tế, bậc Tiểu học là bậc học nền tảng, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho
sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong chương
trình Toán ở Tiêu học, giải toán có lời văn là mạch kiến thức tông hợp của các mạch kiến
thức toán học, bao gồm các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và
đo đại lượng. Có thê nói toán có lời văn là cầu nối các mạch kiến thức này, đặc biệt còn là
cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác. Thông qua
giải toán có lời văn, HS đi sâu vào lập luận, tìm lời giải với những lập luận chặt chẽ của
mình. Giúp HS nâng cao năng lực suy nghĩ, thúc đây HS phát triển sự thông minh sáng
tạo, rèn luyện kĩ năng đọc, viết, diễn đạt, tính toán cho HS và làm cho quá trình rèn luyện
tư duy ở HS diễn đạt một cách tự nhiên, mang lại hiệu quả cao.
Tuy nhiên đó cũng là một nội dung khó, đặc biệt là giải toán có lời văn lớp 4. Ớ
lớp 3 các em đã nắm vững cách giải một bài toán có lời văn xong đó chỉ là các bài toán
hợp vận dụng trực tiếp các phép tính, nhưng lên lớp 4 các em được tiếp xúc với các bài
toán điển hình do vậy các em gặp không ít khó khăn và dần tới việc giải sai bài toán. Vì
vậy nếu không đổi mới phương pháp dạy học thì có thể dẫn đến tình trạng truyền thự một
chiều, HS không hiêu cốt lõi của vấn đề. Đê giải quyết mâu thuần trên đây người thầy cần
tăng cường giao lưu giữa thầy và trò trong quá trình dạy học. GV cần khéo léo đặt hệ
thống câu hỏi để HS trả lời nhằm gợi mở cho HS sáng tỏ những vấn đề mới; tự khai phá
những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã

4


tích luỹ được trong cuộc sống, nhằm giúp HS củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ
thống hoá những tri thức đã tiếp thu được và nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp
HS tự kiểm tra, tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức. Đó là lý do chúng ta cần vận dụng
phương pháp đàm thoại trong dạy học giải toán có lời văn.
Đe trong dạy học giải toán có lời văn lớp 4 đạt được hiệu quả tối ưu thì việc giao

pháp đàm thoại, nghiên cứu nội dung dạy học giải toán có lời văn ở lớp 4 đê đề xuất biện
pháp vận dụng phương pháp hợp tác và phương pháp đàm thoại trong dạy học giải toán có
lời văn cho HS lớp 4.

3. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp vận dụng phương pháp hợp tác và phương pháp đàm thoại trong dạy
học giải toán có lời văn lớp 4 ở Tiêu học.

4. Phạm vi, khách thể nghiên cứu
- Phạm vi: Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại ở
việc vận dụng phương pháp hợp tác và đàm thoại trong dạy học giải toán có lời văn lớp 4.
- Khách thể: Nghiên cứu quá trình dạy học giải toán có lời văn lớp 4.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của phương pháp hợp tác và phương pháp đàm
thoại trong dạy học giải toán có lời văn lớp 4.
- Vận dụng phương pháp hợp tác và phương pháp đàm thoại trong dạy học giải
toán có lời văn ở lớp 4.
- Thực nghiệm sư phạm.

6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp quan sát.

7. Giả thuyết khoa học
Neu vận dụng đúng các biện pháp vận dụng phương pháp đàm thoại và hợp tác
trong dạy học giải toán có lời văn lớp 4 thì chất lượng dạy học môn học sẽ được nâng cao.

8. Cấu trúc khóa luận

Theo nhóm tác giả Hà Thế Ngữ, Phạm Thị Diệu Vân,...đã quan niệm:
“Phương pháp dạy học là tô hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò được tiến
hành trong quá trình dạy học, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học”.
Từ những quan điểm trên, ta có thể hiểu phương pháp dạy học là phương pháp
được xây dựng và vận dụng vào một quá trình cụ thê - quá trình dạy học. Đây là quá trình
đặc trưng bởi tính chất hai mặt, nghĩa là bao gồm hai hoạt động: hoạt động của thầy và
hoạt động của trò. Hai hoạt động này tồn tại và được tiến hành trong mối quan hệ biện
chứng. Hoạt động của thầy đóng vai trò chủ đạo - điều khiên, hoạt động của trò có vai trò
tích cực, chủ động - tự điêu khiên, tự tô chức.

1.1.2.
1.1.2.1.

Một số vấn đề về ph ương pháp dạy học họp tác, phương pháp đàm thoại.
Phương pháp dạy học hợp tác.

a. Khái niệm phương pháp dạy học hợp tác.

7


Thuật ngừ “dạy học hợp tác”
Trong cuốn “Lí thuyết phương pháp dạy học” của Đặng Thành Hưng có viết:
Thuật ngữ "DẠY HỌC HỢP TÁC” CHỈ KIÊU DẠY HỌC NHẰM GIÚP NGƯỜI HỌC TIẾN HÀNH HỌC TẬP THEO
CHIẾN LƯỢC HỢP TÁC, TỨC LÀ DẠY NGƯỜI HỌC

“HỌC TẬP HỢP TÁC”. Theo đó, các nhóm nhỏ được

tô chức nhằm thực hiện những phương thức học tập hợp tác của học sinh, trong đó HS
phân chia công việc với nhau, tương trợ nhau, động viên, phê phán nhau cùng nỗ lực và

Là nhóm mà ở đó các thành viên được yêu cầu làm việc với nhau nhưng thực sự họ
không có hứng thú làm việc đó. Vì thế hiệu quả công việc thường không bằng hiệu quả
thực hiện của từng người.
Nhóm truyền thống (traditional groups) :
Là loại nhóm mà ở đó các thành viên đồng ỷ làm việc cùng nhau nhưng họ chưa
thực sự thấy hoặc ít thấy lợi ích của cách làm việc theo nhóm. Ket quả là chỉ một số
người được hưởng lợi từ cách làm việc này,

số còn lại lại thấy rằng họ sẽ

thực hiện công việc tốt hơn khi làm một mình.
Nhóm hợp tác (cooperative groups) :
Là nhóm mà ở đó các thành viên tự nguyện hợp tác với nhau nhằm thực hiện
những mục tiêu chung có lợi cho toàn nhóm cũng như cho bản thân họ. Các thành viên
trong nhóm chia sẻ, động viên, giúp đỡ lần nhau về vấn đề hoàn thành nhiệm vụ chung.
Thông qua hoạt động nhóm, các thành viên có thể phát triển nhiều kỹ năng khác nhau,
trong đó đặc biệt quan trọng là kỹ năng làm việc và học tập trong tập thể. Ket quả là tổng
sản phẩm mà họ thu được bao giò' cũng lớn hơn những gì mà một cá nhân trong nhóm có
thể làm.
Nhóm hợp tác cấp độ cao (high performance cooperative group)
Là nhóm mà ở đó tập hợp được tất cả những tiêu chí cần đạt được của một nhóm
học tập hợp tác, thậm chí kết quả của sự hợp tác nhóm còn tốt hơn mong đợi và tình đoàn
kết giữa các thành viên trong nhóm thông qua quá trình làm việc được xây dựng và phát
triển một cách tốt đẹp.

b. Đặc điểm và bản chất của phương pháp dạy học hợp tác.
-

Đặc điêm.
Dạy học hợp tác phải tạo một quy tắc chung cho một lớp hoặc một nhóm hợp tác,

được phần việc của mình đều dẫn đến kết quả không tốt hay sự chậm trễ chung của cả
nhóm.
b.

về

phía GV.

Trong dạy học hợp tác theo nhóm, GV có vai trò là người tổ chức, hướng dần các
hoạt động, là người cố vấn, gợi mở, khuyến khích và hỗ trợ việc học của

Trong dạy học hợp tác theo nhóm, yêu cầu về kĩ năng sư phạm của GV cũng mở
rộng hơn so với các phương pháp dạy học truyền thống vì sẽ bao gồm cả các kĩ năng về
các mặt: xây dựng các hình thức thích hợp với hoạt động nhóm; hướng dẫn, hỗ trợ HS
trong khi các nhóm hoạt động nhóm; phát triển cho HS kĩ năng phản ánh, trình bày quan
điểm của mình,...

1
0


Trong dạy học hợp tác theo nhóm, yêu cầu về đánh giá, xử lí thông tin từ phía HS
của GV cũng cao hơn vì trong một thời gian ngắn, GV thu nhận được nhiều thông tin đa
dạng từ các nhóm, cá nhân HS và những thông tin này đều phải xử lí, đưa ra những kết
luận phản hồi ngay.
Trong dạy học hợp tác theo nhóm, với trường hợp lớp quá đông HS dẫn đến số các
nhóm là nhiều, việc bao quát, kiêm soát các mặt, giúp đở từng nhóm hoạt động hiệu quả
cũng như trình bày, phản ánh tốt kết quả hoạt động của nhóm sẽ là khó khăn lớn đối với
GV.
-

rèn luyện năng lực làm việc theo nhóm.
Nhược điểm: đôi khi gây mất trật tự và có thể vần có một số thành viên ỷ lại.
+ Học tập theo nhóm lớn: “nhóm trong nhóm”, hình thức chủ yếu là vòng tròn bên
ngoài bao quanh vòng tròn bên trong. Những người ngồi vòng tròn bên trong thảo luận
một vấn đề nào đó, những người ở vòng tròn bên ngoài quan sát, kết quả được thu thập,
ghi chép sau đó đổi vị trí cho nhau. Loại hình nhóm này ít được vận dụng hơn.

b. Phân loại dựa vào nhiệm vụ được giao.
Gồm có nhóm đồng việc (tất cả các nhóm đều thực hiện chung một nhiệm vụ) và
nhóm khác việc (mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ khác nhau phục vụ cho bài học).
-

Cách chia nhóm.
Tuy thuộc vào nội dung học tập, mức độ khó, dễ của các nhiệm vụ học tập và trình

độ của HS mà có các cách chia nhóm khác nhau, thường có các cách chia nhóm sau:
a,

Chia ngẫu nhiên: thường được tiến hành khi không cần sự phân biệt giữa các đối
tượng HS, nhiệm vụ không khác nhau nhiều về nội dung, ít có sự chênh

lệch về mức độ cùng chung yêu cầu. GV có thể chia theo tô, theo bàn _________Cách chi
này có ưu điểm là HS không phải di chuyển, hạn chế mất trật tự.
b,

Chia theo trình độ: gồm chia thành nhóm có cùng trình độ và nhóm khác trình độ.
+ Nhóm cùng trình độ: được áp dụng khi cần có sự phân hoá về mức độ khó, dễ

của nội dung bài học cho từng đối tượng, thường chia thành bốn nhóm: giỏi, khá, trung
bình và yếu. GV có thê có những yêu cầu khác nhau đối với từng nhóm trong cách giải


GV phải cân nhắc dựa vào mục tiêu bài học, loại bài học, không gian

học tập, trình độ, sở trường của HS đê chọn cách chia nhóm phù hợp.
-

ưu

điêm của phương pháp dạy học hợp tác:

Dạy học hợp tác theo nhóm là một hoạt động tích cực:
+ Đem lại cho HS cơ hội được sử dụng kiến thức và kĩ năng mà các em được lĩnh
hội và rèn luyện, thực hành các kĩ năng tư duy (so sánh, phân tích, tông hợp..)
Dạy học hợp tác theo nhóm góp phần hình thành và phát triển các mối quan hệ qua
lại giữa các HS, đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau trong học
tập.
+ Tô chức cho HS học tập theo nhóm giúp các em nhút nhát, khả năng diễn đạt
kém ...có điều kiện rèn luyện, tập dượt. Từ đó khẳng định bản thân trong sự hấp dần của
hoạt động hợp tác theo nhóm.
+ Khi dạy học hợp tác theo nhóm, GV có dịp tận dụng các kinh nghiệm và sự sáng
tạo của HS trong học tập.
+ Cho phép HS được diễn đạt những ý tưởng, những khám phá của mình.
+ Mở rộng suy nghĩ.
-

Hạn chế của phương pháp dạy học hợp tác.
Ngoài những ưu điêm kê trên, dạy học

hợp
tác

+ Vai trò của các thành viên trong nhóm không thay đôi (chỉ 1,2 người thường
xuyên làm nhóm trưởng, thư kí,..) trong các buôi dạy học có sử dụng nhóm.

c. Quy trình của phương pháp dạy học hợp tác.
Bước 1: GV đưa ra chủ đề thảo luận.
Bước 2: Tô chức thành lập các nhóm.
Bước 3: Đe ra nhiệm vụ.
Bước 4: Các nhóm thực hiện nhiệm vụ.

1
4


Bước 5: Đại diện các nhóm trình bày kết quả, nhận xét, bô sung, đánh gía.

d.Một số lưu ỷ khi sử dụng phương pháp dạy học hợp tác.
-

GV cần có trình độ chuyên môn sâu rộng, trình độ sư phạm vững vàng để tô chức,
hướng dần các hoạt động theo nhóm của HS đê HS chiếm lĩnh tri thức bài học.
Mặt khác, GV cần có sự chuẩn bị bài tốt, đầu tư công sức và thời gian. HS cùng
cần có đủ đồ dùng học tập, tài liệu, dụng cụ cần thiết để thực hiện hoạt động theo
nhóm.

-

Nhóm HS cần đồng đều về trình độ, nhiệm vụ đặt ra phải vừa sức và phù hợp với
nội dung bài học. Có thê mỗi nhóm thảo luận một vấn đề.

-


b.Đặc điểm và bản chất của phương pháp dạy học đàm thoại.
-

Đặc điêm.

1
5


+ Phân loại: Tuỳ theo cơ sở đê phân loại , nên có những phương pháp đàm thoại
sau:
-

Dựa vào mục đích dạy học mà phân ra đàm thoại gợi mở, đàm thoại củng cố, đàm
thoại tông kết, đàm thoại kiêm tra.
+ Đàm thoại gợi mở là phương pháp GV khéo léo đặt câu hỏi hoặc một chuỗi câu

hỏi nhằm dẫn dắt HS giải quyết một câu hỏi cơ bản, từ đó rút ra kết luận, nhờ vậy mà họ
lĩnh hội tri thức mới.
+ Đàm thoại củng cố là phương pháp GV khéo léo đặt ra một câu hỏi hoặc hệ
thống câu hỏi nhằm giúp HS củng cố những tri thức cơ bản hoặc giúp họ mở rộng, đào sâu
những tri thức đã thu lượm được.
+ Đàm thoại tổng kết là phương pháp vấn đáp nhằm giúp HS khái quát, hệ thống
hoá những tri thức sau khi đã học một số bài, một chương, một bộ môn nhất định.
+ Đàm thoại kiểm tra là phương pháp vấn đáp nhằm kiểm tra những tri thức đã
học, đã được củng cố, khái quát, hệ thống hoá. Qua câu trả lời của HS mà GV có thê đánh
giá và họ tự kiêm tra, tự đánh giá những tri thức đã được lĩnh hội một cách kịp thời,
nhanh gọn.
- Dựa vào tính chất nhận thức của HS mà phân ra đàm thoại giải thích, minh hoạ,

- Dựa theo nội dung, người ta phân theo câu hỏi giản đơn và câu hỏi phức

-Theo mục đích dạy học có thê phân ra câu hỏi định hướng, câu hỏi gợi mở.
-

Dựa theo chức năng, có thể phân ra câu hỏi phân tích - tổng hợp, câu hỏi so sánh,
đối chiếu, câu hỏi hệ thống hóa tri thức, câu hỏi đòi hỏi sự cụ thê hóa tri thức.

-

Dựa theo mức độ tính chất hoạt động nhận thức của HS, có thê phân ra câu hởi
giải thích, minh họa, câu hỏi tái hiện, câu hỏi có tính vấn đề.
Câu hỏi có tính vấn đề là câu hỏi tạo cho HS gặp phải một tình huống có vấn đề,

nghĩa là gây nên trạng thái tâm lí khi gặp phải mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều chưa
biết nhưng muốn biết. Câu trả lời cho câu hỏi có tính vấn đề chưa có trong tri thức đó của
HS, tạo nên tri thức mới. Đê có tri thức đó, cần phải có hành động trí tuệ nào đó một quá
trình tư duy có chủ đích nhất định.
Với những điều kiện sau, câu hỏi trở thành câu hỏi có tính vấn đề:
-

Câu hỏi phải có mối liên hệ logic với những khái niệm đã lĩnh hội được trước đây
và những tri thức phải đặt trong tình huống nhất định.

-

Câu hỏi phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, câu hỏi phải gây nên sự ngạc nhiên,
điều nghịch lí khi đối chiếu điều đã biết từ trước đối với điều đang học và không
thỏa mãn với tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trước đây và xuất hiện nhu cầu phải lĩnh hội
tri thức mới để giải quyết câu hỏi đang đặt ra.

trong mối quan hệ với nhau, nhìn nhận sự vật, hiện tượng không chỉ theo những
thành tô, theo từng bộ phận mà còn theo chỉnh thê toàn vẹn của chúng.

-

Câu hỏi phải đặt chúng theo những quy tắc logic.
-

Việc diễn đạt câu hỏi phải phù hợp với đặc điêm lứa tuôi, đặc điểm cá nhân, trình
độ hiếu biết và kinh nghiệm của HS. Khối lượng những khái niệm trong các câu
hỏi của GV không được vượt quá khả năng tìm ra câu trả lời đúng của HS.

-

Câu hỏi phải có nội dung chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, thống nhất, không thê có hai
câu trả lời đều đúng, về hình thức phải gọn gàng sáng sủa.

-

ưu điêm của phương pháp dạy học đàm thoại.
Neu vận dụng khéo léo phương pháp vấn đáp sẽ có tác dụng quan trọng sau:
+ Điều khiên có hiệu quả hoạt động tư duy của HS, kích thích tính tích cực hoạt
động nhận thức của họ.
+ Bồi dường cho HS năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học một cách
chính xác, đầy đủ, xúc tích.

1
8



-

Phương án 3: GV nêu ra một câu hỏi chính kèm theo gợi ý nhằm tổ chức cho HS
thảo luận hoặc đặt những câu hỏi phụ để giúp nhau tìm lời giải đáp. Câu hỏi chính
do GV nêu thường kích thích yếu tố tranh luận, chăng hạn một nghịch lí, một vấn
đề có nhiều giải pháp đổ lựa chọn. Trước những vấn đề như vậy, ý kiến HS
thường khác nhau, hình thành những nhóm bảo vệ từng loại ý kiến, mỗi nhóm tìm
ra những lí lẽ bảo vệ ý kiến của nhóm mình. GV đưa ra những lời tông kết hoặc

1
9


đưa ra nhừng câu hỏi phụ, hỗ trợ cho HS tự lực đi tới kết luận, tổng kết đoạn hội
thoại.

d. Một số lưu ỷ khi sử dụng phương pháp đàm thoại.
Một là: Xây dựng được một hệ thống câu hởi thỏa mãn các yêu cầu sau:
-

Các câu hỏi phải phù hợp với các loại đối tượng HS, không quá khó hoặc không
quá dễ.

-

Mỗi câu hỏi cần có nội dung chính xác, phù hợp với mục đích, yêu cầu nội dung
bài học. Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng không mập mờ, khó hiểu hoặc có thể hiêu
theo cách khác.
- Cùng một nội dung có thể hỏi bằng nhiều cách khác nhau để tư duy năng động,


hoặc hướng tới giải pháp nào.
Đe tăng hiệu quả của phương pháp đàm thoại GV cần tổ chức đàm thoại theo nhiều
chiều GV - HS, HS - HS, HS - GV.

1.1.3.

Một số vấn đề về dạy - học giải toán có lòi văn ở lóp 4.

1.1.3.1.

Mục tiêu của dạy học giải toán có lời văn.

- HS biết tự tóm tat bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ, hình vẽ.
-

Biết giải và trình bày bài giải các bài toán có đến ba bước tính, trong đó có các
bài toán: Tìm số trung bình cộng, Tìm phân số của một số, Tìm hai số khi biết
tổng và hiệu của hai số đó, Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó.
- Các em có thể nêu bài toán rồi giải theo sơ đồ cho trước.

1.1.3.2.

Nội dung mạch giải toán có lời văn trong chương trình toán lớp 4.

a. Thế nào là giải toán có lời văn?
BÀI TOÁN CỔ LỜI VĂN: Là những bài tập mà dừ kiện, ấn số cũng như các quan hệ giữa
chúng được mô tả bằng các tình huống ngôn ngữ (Ngữ nghĩa, cú pháp).
Mồi bài toán bao gồm 3 yếu tố:
- Dừ kiện bài toán: Là những cái đã cho, đã biết trong bài toán.
-

Các bài toán hợp.
Bài toán hợp là những bài toán khi giải phải dùng từ 2 phép tính trở lên. Khác với
bài toán có lời văn điển hình, những bài toán hợp là những bài toán mà chúng ta không
thê gọi tên theo dạng toán cụ thê nào nhưng căn cứ vào các bước giải trong bài toán, các
phép tính cần phải thực hiện chúng ta có thê đưa các bài toán hợp này theo mẫu cơ bản
mà HS thường gặp trong quá trình giải toán ở Tiểu học:
- Các bài toán khi phải giải chỉ sử dụng 2 phép tính cộng và trừ.
- Các bài toán khi giải phải sử dụng 2 phép tính trong đó có ít nhất

mộtphép

tính là nhân hoặc chia.
- Giải các bài toán này có tới 2-3 bước tính, đặc biệt là các bài
văn liên quan đến các phép tính với phân số hoặc các số đo đại lượng.

2
2

toán có lời


Các bài toán có lời văn điền hình.
Bài toán có lời văn điên hình là những bài toán khi giải ta sử dụng những phương
pháp giải toán như nhau.
ơ Tiêu học, HS lần lượt được làm quen với các dạng toán:
- Các bài toán về tìm hai số khi biết tông và tỉ số của chúng.
- Các bài toán về tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của chúng.
- Các bài toán về tìm hai số khi biết tôngvà hiệu

của chúng.

nhiều) mang tính chất phát triển, đòi hỏi HS phải “suy nghĩ” độc lập để giải (như các bài
toán trắc nghiệm).
Nội dung và phương pháp dạy học giải toán có lời văn tiếp tục phát triển theo định
hướng tăng cường rèn luyện phương pháp giải bài toán. Khi giải mồi bài toán có lời văn,
HS phải biết tìm hiểu, phân tích đề bài, biết tìm ra cách giải bài toán và biết cách trình
bày bài toán.
Tăng cường khả năng “diễn đạt” của HS khi giải các bài toán có lời văn. Diễn đạt
bằng lời khi cần trao đôi, thảo luận, trình bày miệng bài giải tại lớp hoặc diễn đạt bằng
viết khi cần viết bài giảng bài toán trên bảng.
Nội dung bài toán có lời văn trong toán 4 có chất liệu phong phú, có tính cập nhật
hơn trước, nội dung bài toán gắn bó với đời sống xung quanh của trẻ, gắn với các tình
huống cần giải quyết trong thực tế, phù hợp với đối tượng HS tiêu học.
Các bài toán có lời văn trong toán 4 được thể hiện qua các tiết:
-

Bài toán Tìm số trung bình cộng: 6 tiết (tiết 22, 26, 28, 169, 171, 172).
-

Bài toán tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của hai số đó: 8 tiết (tiết 37, 38, 39,
170,172, 173, 174, 175).

-

Bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó: 11 tiết (tiết 142, 143, 144 ,
145 , 146 , 171 , 172 , 173 , 174 , 175 , 176 ).

1.1.3.3.

Vị trí, vai trò của việc dạy đọc giải toán có lời văn lớp 4 trong chương trình



mỗi cái bút là 2000 đồng, HS sẽ dễ dàng biết được cái cần phải có là bao nhiêu tiền nếu
như trong quá trình dạy GV đưa ra những bài toán có lời văn khác nhau có dạng như:
Bài toán đơn 1: Huy mua 5 quyển vở, giá mỗi quyển là 3000 đồng. Hỏi Huy mua
hết tất cả bao nhiêu tiền?
Bài toán đơn 2: Huy mua 2 cái bút, giá mỗi cái bút là 2000 đồng. Hỏi Huy mua hết
tất cả bao nhiêu tiền?
Bài toán đơn 3: Huy mua vở hết 15000 đồng và mua bút hết 4000 đồng. Hỏi huy
mua hết tất cả bao nhiêu tiền?
Suy ra bài toán hợp: Huy mua 5 quyến vở và 2 cái bút, biết giá mỗi quyến vở là
3000 đồng và toán hợp: Huy mua 5 quyên vở và 2 cái bút, biết giá mỗi quyên vở là 3000
đồng và mỗi cái bút là 2000 đồng. Hỏi Huy mua hết tất cả bao nhiêu tiền?
Rõ ràng nếu trong khi học các em đã được làm quen với các bài toán dạng trên thì
việc vận dụng vào mua bán hàng hóa trong thực tế sẽ giúp các em gặp rất nhiều thuận lợi.

2
5


Trích đoạn DIỆN TÍCH VƯỜ N= CHIÊU DÀI X CHIỂU RỘNG Giải quyết vấn đề
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status