Khoá luận tốt nghiệp xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5 - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
===gofflca===

NG UYỄ N T H Ị VÂN



XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI

• •

NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực CỦA HỌC SINH TRONG GIẢI
TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 5



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • •

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiếu học
Ngưòi hưóng dẫn khoa học ThS. PHẠM
HUYÈN TRANG

HÀ NỘI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô trong
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các bạn sinh viên. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới

Th.s Phạm Huyền Trang đã định hướng chọn đề tài và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành tốt
khóa luận này.


hỏi mới của xã hội và thị trường lao động, đặc biệt là tính tích cực, tính năng động, sáng
tạo, tính tự lực và trách nhiệm cũng như năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết
các vấn đề phức hợp.
Trong những năm gần đây giáo dục đã có nhũng cố gắng trong việc đối mới
phương pháp dạy học và đã đạt được nhũng tiến bộ trong việc phát huy tính tính tích cực
của học sinh. Tuy nhiên các phương pháp dạy học truyền thống, đặc biệt là lối dạy học
thuyết trình theo hướng một chiều vẫn chiếm một vị trí chủ đạo trong các phương pháp
dạy học ở các trường Tiểu học đã làm hạn chế việc phát huy tính tích cực và sáng tạo của
học sinh. Học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng , ghi
nhó’ và làm bài theo mẫu. Do đó việc học tập thường ít hứng thú, nội dung các hoạt
động học tập thường đơn điệu, nghèo nàn, ít quan tâm đến phát triển năng lực cá nhân
học sinh.
Thực trạng trên dẫn đến hệ quả là thế hệ trẻ được đào tạo mang tính thụ động cao,
hạn chế khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình
huống thực tiễn cuộc sống. Điều đó có nghĩa là giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu
đặt ra là “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các
kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo..
Giải toán có lời văn là một trong năm mạch kiến thức chính ở chương trình Toán
Tiểu học, là nội dung có một vị trí quan trọng và góp phần không nhỏ trong việc phát
huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, đặc biệt là khả năng vận dụng các kiến thức đã
học vào giải quyết các tình huống trong thực tiễn. Bởi trong giải toán mọi học sinh đều


phải hoạt động, phải độc lập suy nghĩ và làm việc tích cực theo hướng dẫn, tố chức của
giáo viên, tạo cho học sinh thói quen làm việc tự giác, chủ động và tích cực.
Tuy nhiên, đa số các giáo viên hiện nay đều chưa sử dụng đúng mức các phương
pháp dạy học trong việc hướng dẫn học sinh giải các bài toán. Học sinh thường giải một
cách máy móc các bài toán theo mẫu mà giáo viên đã dạy mà không biết giải bài tập một
cách sáng tạo. Vậy vấn đề nằm ở việc cách thức giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp thu
bài học chưa làm phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong suy nghĩ của học

6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚXJ
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp xử lý số liệu
7. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Neu đề xuất một số biện pháp “ Xây dựng và sử dụng hệ thong câu hỏi nhăm

phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5 ” thành công thì
sẽ mang lại hiệu quả cho dạy học giải toán có lời văn lớp 5 và nâng cao chất lượng dạy
học.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỤC TIỄN CỦA VIỆC XÂY
DỤNG CÂU HỎI NHẢM PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực CỦA
HỌC SINH
1.1.Cơ sở lí luận

7.7.7. Một số khái niệm cơ bản
ỉ.ỉ. 1.1. Khái niệm “câu hỏi”


Câu hỏi là loại câu dùng trong giao tiếp (trực tiếp hoặc gián tiếp). Thông thường,
câu hỏi có mục đích tìm hiểu, làm rõ sự kiện, sự vật nhất định, đòi hỏi sự cung cấp, giải
thích, nhận xét, đánh giá thông tin về sự vật, sự mô tả, phân tích, so sánh có liên quan
đến sự vật và bản thân sự vật dưới hình thức trả lời, đáp lại.
Khái niệm về câu hỏi có nhiều cách hiểu khác nhau:
- Theo Đề-Các: không có câu hỏi thì không có tư duy cá nhân cũng như không có
tư duy nhân loại. Ông cũng nhấn mạnh dấu hiệu bản chất của câu hỏilà phải có mối quan
hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết.
- Theo Trần Bá Hoành [4]: câu hỏi kích thích tư duy là câu hỏi đặt ra trước học

giáo dục hiện đại. Do đó, việc xác định nhũng điều đã biết, chưa biết hoặc còn đang nghi
ngờ để đặt ra những câu hỏi phù hợp là điều không thể thiếu.
1.1.1.2. Khái niệm “xây dựng câu hỏi”
Xây dựng câu hỏi là đặt ra được câu hỏi, sắp xếp hợp lý chúng theo một hệ thống
đế hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện
tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiêu biết. ì.ỉ. 1.3. Khái niệm “tính tích

cực”
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người. Con người sản xuất ra của
cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội, sáng tạo ra nền văn hoá mỗi
thời đại.
Tính tích cực của con người biểu hiện trong các hoạt động. Học tập là hoạt động
chủ đạo ở lứa tuổi đi học. Tính tích cực trong hoạt động học tập là tính tích cực nhận
thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình
chiếm lĩnh tri thức. Lĩnh hội những tri thức của loài người đồng thời tìm kiếm “khám


phá” ra những hiêu biết mới cho bản thân. Qua đó, sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã
nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình.
Tính tích cực nhận thức trong học tập liên quan với động cơ học tập. Động cơ
đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố
tâm lí tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc
lập là mầm mong của sáng tạo và ngược lại.
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái, chủ động, tự
giác tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa
trên những cái đã biết. Sáng tạo vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống.
Tính tích cực được biểu hiện qua các cấp độ:
- Bắt chước: cố gắng thực hiện theo các mẫu hành động của thầy của
bạn...
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác

giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học.
Bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý
chí vươn lên”.
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay đồi cách dạy
và cách học. Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”, giáo viên làm
trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích
cực. Trong cách dạy này học sinh là chủ thế hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tố
chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học. Dạy học
tích cực là điều kiện tốt khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngày càng độc
lập của học sinh vào quá trình học tập.
1.1.2.

Một số vấn đề về xây dựng và sử dựng câu hỏi

1.1.2.1. Vai trò của câu hỏi
Như tôi đã nêu, câu hỏi là phương tiện phồ biến và quan trọng trong dạy và học,
là nguồn để hình thành kiến thức, kỹ năng cho học sinh. Khi tim được câu trả lời có
nghĩa là người học đã tìm ra được kiến thức mới, rèn được kĩ năng xác định mối quan


hệ, đồng thời sử dụng được những điều kiện đã cho, như vậy là vừa củng cố kiến thức,
vừa nắm vững và mở rộng kiến thức.
Đối với giáo viên:
- Câu hỏi là phương tiện giúp giáo viên truyền đạt tri thức tới học sinh một cách
hữu hiệu.
- Câu hỏi là công cụ, phương tiện để giáo viên định hướng cho học sinh tìm hiếu,
chiếm lĩnh tri thức, giúp học sinh tự học, tự chiếm lĩnh tác phẩm văn chương.
- Câu hỏi được dùng để khắc sâu, củng cố kiến thức trong quá trình truyền đạt
kiến thức mới đồng thời khắc phục được tình trạng học sinh ghi nhớ máy móc.
- Câu hỏi là công cụ chủ yếu để kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh.

bài học đồng thời vừa sức đối với học sinh.Câu hỏi gồm có các loại sau:

7 / Phân loại câu hỏi theo mức độ tư duy
Theo sáu cấp độ nhận thức của Bloom, câu hỏi có thể được chia thành sáu cấp độ:
- Câu hỏi mức độ nhớ (biết)
- Câu hỏi mức độ hiểu
- Câu hỏi mức độ vận dụng
- Câu hỏi mức độ phân tích
- Câu hỏi mức độ tổng hợp
- Câu hỏi mức độ đánh giá
2/ Phân loại câu hỏi dựa vào nội dung mà câu hỏi phản ánh
Theo nội dung mà câu hỏi phản ánh, câu hỏi được chia thành:
- Câu hỏi nêu các sự kiện
- Câu hỏi xác định các dấu hiệu bản chất
- Câu hỏi xác định mối quan hệ
- Câu hỏi xác định cơ chế
- Câu hỏi xác định phương pháp khoa học


- Câu hỏi xác định ỷ nghĩa lí luận hay thực tiễn của kiến thức
3/ Phân loại câu hỏi đê hình thành, phát triên năng lực nhận thức G ồ m

những loại câu hỏi sau:
- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng quan sát
- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng phân tích
- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng tống họp
- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng so sánh
- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng sử dụng con đường quy nạp
-


tổng hợp, so sánh, quy nạp. . . để phát triển năng lực nhận thức.
3/ Câu hỏi hình thành kiên thức mới.
4/ Câu hởi đê củng cổ hoàn thiện kiên thức.
5/ Câu hỏi trắc nghiệm.
6/ Câu hỏi liên hệ thực tế.
Ngoài những câu hỏi trên còn có nhiều cách phân loại khác. Mỗi cách đều có ý
nghĩa riêng, có vai trò khác nhau đối với quá trình dạy học. Từ cách phân loại trên ta
thấy rằng câu hỏi nói chung, câu hỏi phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh nói riêng
đều có vai trò rất quan trọng đối với quá trình dạy học
1.1.2.4. Kĩ năng đặt câu hỏi trong dạy học
1/Dùng lại sau khi đặt câu hỏi
- Mục tiêu:Tích cực hóa suy nghĩ của tất cả học sinh.Đưa ra các câu hỏi tốt hơn
hoàn chỉnh hơn.
- Tác dụng đối với học sinh: Dành thời gian cho học sinh suy nghĩ để tìm ra lời
giải.
- Cách thức dạy học:
+ Giáo viên “sử dụng thời gian chờ đợi” sau khi đưa ra câu hỏi.
+ Chỉ định một học sinh đưa ra câu trả lời ngay sau “thời gian chờ đợi”
2/ Phản ứng với câu trả lời sai của học sinh
- Mục tiêu: Nâng cao chất lượng câu trả lời của học sinh.Tạo ra sự tương tác cởi
mở và khuyến khích sự trao đổi.
-

Tác dụng đối với học sinh:Khi giáo viên phản ứng với câu trả lời sai

của học
+

sinh có thế xảy ra hai tình huống sau :
Phản ứng tiêu cực : Phản úng về mặt tình cảm họcsinh tránhkhông

“những việc làm đó dành cho mình” .
+ Kích thích được học sinh tham gia tích cực vào các họat động học
-

Cách thức dạy học:
+ Giáo viên chuẩn bị trước bảng các câu hỏi và nói với học sinh : “Các em sẽ

được lần lượt được gọi lên để trả lời câu hỏi”.
+ Gọi học sinh mạnh dạn và học sinh nhút nhát phát biêu.
+ Tránh làm việc chỉ trong một nhóm nhỏ.
+ Có thể gọi cùng một học sinh vài lần khác nhau.
4/ Phân phối câu hỏi cho cá lóp
- Mục tiêu:Tăng cường sự tham gia của học sinh trong quá trình học tập.Giảm
“thời gian nói của giáo viên”.Thay đổi khuôn mẫu “hỏi - trả lời”
- Tác dụng đối vói học sinh
+ Chú ý nhiều hơn các câu trả lời của nhau.


+ Phản úng với câu trả lời của nhau.
+ Học sinh tập trung chú ý tham gia tích cực vào việc trả lời câu hỏi của giáo
viên.
- Cách thức dạy học
+ Giáo viên cần chuẩn bị trước và đưa ra các câu trả lời tốt (câu hỏi mở, có nhiều
cách trả lời, có nhiều giải pháp khác nhau. Câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiếu, xúc tích).
Giọng nói của giáo viên phải đủ to cho cả lớp nghe thấy.
+ Khi hỏi học sinh, trong trường họp câu hỏi khó nên đưa ra cho cả lóp nghe
thấy.
+Khi gọi học sinh có thê sử dụng cả cử chỉ..
+ Giáo viên cố gắng hỏi nhiều học sinh, cần chú ỷ hỏi những học sinh thụ động
và các học sinh ngồi khuất cuối lớp.

- Cách thức dạy học: Giáo viên yêu cầu học sinh liên hệ các câu trả lời của mình
với nhũng kiến thức đã học của môn học và nhũng môn học khác có liên quan.
8/ Tránh nhắc lại câu hỏi của mình
- Mục tiêu:Giảm “thời gian giáo viên nói”.Thúc đẩy sự tham gia tích cực của học
sinh.
- Tác dụng đối với học sinh:
+ Học sinh chú ý nghe lời giáo viên nói hơn.
+ Có nhiều thời gian đế học sinh trả lời hơn
+ Tham gia tích cực hon vào các họat động thảo luận.
- Cách thức dạy học: Giáo viên chuẩn bị trước câu hỏi và có cách hỏi rõ ràng,
xúc tích, áp dụng tổng họp các kỹ năng nhỏ đã nêu ở trên.
9/ Tránh tự trả lòi câu hỏi của mình
- Mục tiêu: Tăng cường sự tham gia của học sinh.Hạn chế sự tham gia của giáo
viên.


- Tác dụng đối với học sinh:
+ Học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập như suy nghĩ để giải bài
tập, thảo luận, phát biểu để tìm kiếm tri thức....
+ Thúc đấy sự tương tác : học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh.
- Cách thức dạy học:
+ Giáo viên tạo ra sự tương tác giữa học sinh với học sinh làm cho giờ học không
bị đơn điệu. Neu có học sinh chưa rõ câu hỏi, giáo viên cần chỉ định học sinh khác nhắc
lại câu hỏi.
+ Câu hỏi phải dễ hiểu, phù họp với trình độ học sinh, với nội dung kiến thức bài
học. Đối với các câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời về những kiến thức mới, thì nhũng kiến
thức đó phải có mối liên hệ với nhũng kiến thức cũ mà học sinh đã được học hoặc tiếp
thu được từ thực tế cuộc sống.
10/ Tránh nhắc lại câu trả lòi của học sinh.
- Mục tiêu: Phát triên mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh, tăng

phép tính thích họp trả lời đúng câu hỏi của bài toán.
Các bài toán số học ở tiểu học được phân chia thành các bài toán đon, các bài
toán họp, các bài toán điển hình.
1.1.3.2. Ke hoạch giải bài toán có lời văn của học sinh
Gồm bổn bước sau:
Bước 1: Tìm hiếu đề bài
Việc tìm tiểu đề bài thường thông qau việc đọc bài toán dù bài toán cho ở dạng có
lời văn hoàn chỉnh hoặc dạng tóm tắt sơ đồ. Trong quá trình đọc bài học sinh cần nhận ra
bài toán đã cho thuộc dạng toán nào. Học sinh cần phải đọc kĩ, hiểu rõ đề toán:
+ Bài toán cho gì?
+ Bài toán yếu cầu tìm gì?
+ Tóm tắt bài toán
Khi đọc đề toán phải hiểu thật kĩ một số từ, thuật ngữ quan trọng chỉ rõ tình
huống toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường, chắng hạn như : bay đi, làm

vờ, ăn hết,.... Neu trong bài toán nào có thuật ngữ học sinh chưa hiểu thì giáo viên cần


hướng dẫn cho học sinh hiểu được nội dung và ý nghĩa của từ đó ở trong bài toán đang
làm, chang hạn như: năng suất, tiết kiệm, sản lượng... sau đó cho học sinh thuật lại
vắn tắt bài toán mà không phải đọc nguyên văn bài toán đó.
Bước 2: Lập kế hoạch giải toán ( Đua ra được hệ thắng câu hỏi đi từ điều phải
tìm tới điều đã biết cùng sơ đồ phân tích đi lên)
Dựa vào việc nhận dạng bài toán ở bước 1, ở bước này học sinh sẽ đi tìm cách
giải.
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm tòi cách giải của bài toán gắn liền với việc
phân tích các dữ kiện và câu hỏi của bài toán nhằm xác lập mối quan hệ giữa chúng và
tìm được các phép tính số học thích hợp.
Lập kế hoạch giải bài toán nhằm xác định hướng giải quyết, thực hiện các phép
tính số học, thực hiện các phép tính số học bằng cách đưa ra được hệ thống câu hỏi đi từ

- Biết vận dụng những kiến thức và kĩ năng về số thập phân để: tính giá trị của
biểu thức có đến ba dấu phép tính; tìm một thành phần chưa biết của phép tĩnh; tính bằng
cách thuận tiện nhất; nhân (chia) nhẩm một số thạp phân với (cho) 10,100,1000,....(bằng
cách chuyển dấu phẩy trong số thập phân).
Ôn tập, củng cố, hệ thống hoá những kiến thức và kĩ năng cơ bản về số và phép
tính (với số tự nhiên, phân số đơn giản,số thập phân).
2.

về đo lường

- Biết tên gọi, kí hiệu,quan hệ giữa một số đơn vị đo diện tích, thê tích thông
dụng (chẳng hạn, giữa km2 và m2, giữa h và m2, giữa m3 và dm3, giữa dm3 và cm3)
- Biết viết các số đo độ dài, khối lượng, diện tích, thể tích, thời gian dưới dạng số
thập phân.
3.

về hình học

- Nhận biết được hình than, hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ, hình
cầu và một số dạng của hình tam giác.
- Biết tính chu vi, diện tích hình tam giác, hình than, hình tròn.


- Biết tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thế tích hình hộp chữ nhật,
hình lập phương.
4.

về giải bài toán có lòi văn

Biết giải và trình bài bài giải các bài toán có đến bốn bước tính, trong đó có :

trách nhiệm....

Nôi dung
l/.Các bài toán có lòi văn trong chương trình toán tiếu học
-

Bài toán đơn được giải bằng một phép tính gọi là bài toán đon.

-

Bài toán được giải bằng một số bước tính (từ 2 phép tính trở lên) được gọi là toán hợp.

-

Toán điển hình là loại toán họp có cùng một cấu trúc và cùng một cách giải nhất định.


-

Việc dạy học giải toán ở tiêu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến
thức về toán, được rèn luyện kỹ năng thực hành .

-

Giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác : xác lập được mối quan hệ giữa các
dữ liệu, giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán, chọn được phép
tĩnh thích họp trả lời đúng câu hỏi của bài toán.
Việc phân chia như trên chỉ có ỷ nghĩa tương đối, bởi vì đôi khi rất khó xác định
ranh giới giữa các khái niệm này. Chẳng hạn xét bài toán về tỷ số phần trăm sau :
“Trường em có 440 học sinh nữ, số học sinh nữ chiểm 55% số học sinh cả

-

Tìm số bị trừ chưa biết khi biết hiệu và số trò.

-

Tìm số trừ khi biết hiệu và số bị trừ.

-

Tìm một thừa số chưa biết, khi biết tích và thừa số còn lại.

-

Tìm số bị chia chưa biết khi biết thương và số chia.

-

Tìm số chi khi biết thương và số bị chia.
+Nhóm 3: Gồm những bài toán đơn phát triển thêm ỷ nghĩa mới của phép tính

số học :
-

So sánh hai số hơn kém nhau một số đơn vị ( tìm số lớn ).

-

So sánh hai số hơn kém nhau một số đon vị ( tìm số bé ).


Một số giảm đi vài lần ( dạng trực tiếp hoặc gián tiếp ).
+ Nhóm 4 : gồm nhũng bài toán đơn liên quan đến phân số, tỉ số :

-

Tìm một phần mấy của một số

-

Tìm tỉ số của hai số.

-

Tìm số thứ nhất, khi biết tỉ số của 2 số và số thứ hai.

-

Tìm số thứ hai, khi biết tỉ số của 2 số và số thứ nhất.

-

Tìm một số, khi biết tỉ lệ xích và một số cho trước.


-

Tìm tỉ số phần trăm của hai số.

-



- Các bài toán có liên quan đến việc rút về đon vị dạng a :

(b:

c)

- Các bài toán về “ trung bình cộng của nhiều số “
- Bài toán về “Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của chúng”
- Bài toán về “Tìm hai số khi biết hiệu và tỷ số của chúng


Trích đoạn Một số biện pháp xây dựng và sử dụng câuhỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học giải toán có lời văn lóp 5.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status