1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LƯU BÍCH Ý
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LƯU BÍCH Ý
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
4
MỤC LỤC
Mở đầu .......................................................................................................…….1
1. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………………..1
2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………….3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ………………………………………….3
4. Giả thuyết khoa học …………………………………………………………..3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………………………3
6. Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………...3
7. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………...4
8. Những đóng góp chính của đề tài……………………………………………..5
9. Cấu trúc của luận văn…………………………………………………………5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU………………6
1.1
Lịch sử nghiên cứu vấn đề...............................................................….....6
1.2
Một số khái niệm cơ bản..................................................................….....9
1.2.1. Khái niệm quản lý............................................................................….....9
1.2.2. Quản lý giáo dục..............................................................................…...13
1.2.3. Quản lý nhà trường..........................................................................…...15
1.2.4. Dạy học, hoạt động dạy học.............................................................…...17
1.2.5. Giải pháp, giải pháp quản lý HĐDH................................................…...19
1.3
Khái quát tình hình giáo dục chung và tình hình giáo dục tiểu học quận
11, thành phố Hồ Chí Minh……….. ...........................................................…...32
2.3.
Thực trạng về HĐDH và quản lý HĐDH ở các trường tiểu học quận 11
thành phố Hồ Chí Minh................................................................................…...39
2.3.1. Thực trạng về HĐDH ở các trường tiểu học quận 11, TPHCM......…...39
2.3.2. Thực trạng về công tác quản lý HĐDH ở các trường tiểu học quận 11,
thành phố Hồ Chí Minh................................................................................…...44
2.4.
Đánh giá chung về thực trạng.........................................................…...51
Kết luận chương 2......................................................................................…...56
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở
CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN 11 TPHCM…………………………...57
3.1
Những nguyên tắc đề xuất giải pháp..................................................…...57
3.2.
Một số giải pháp quản lý HĐDH ở các trường tiểu học quận 11, thành phố
Hồ Chí Minh ………………………………………………...............................59
3.2.1. Bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ CBQL trường tiểu
học……………………………………………………………………………...59
3.2.2. Nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho GV…………61
3.2.9. Đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng……………………………....88
3.3
Kết quả thăm dò ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên về sự cần thiết và
tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.....................................................…...89
Kết luận chương 3. ....................................................................................…...91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................…...92
Tài liệu tham khảo ....................................................................................…...97
7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
QLGD
:
Quản lý giáo dục
CBQL
:
Cán bộ quản lý
CSVC
:
Tổ trưởng
GV
:
Giáo viên
HS
:
Học sinh
TH
:
Tiểu học
GD&ĐT
:
Giáo dục và đào tạo
Q.11
:
Bảng 2.15: Những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng quản lý HĐDH
ở trường tiểu học.
Bảng 2.16: Thực trạng công tác lập kế hoạch quản lý HĐDH
Bảng 3.1: Kết quả thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp
9
10
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng giáo dục và
đã đặt ra những yêu cầu mới, những chuẩn mới nhằm nâng cao chất lượng
công tác giáo dục cho các trường học, các trung tâm giáo dục và đào tạo.
UNESCO cũng đã công bố nhiều tài liệu phê phán lối dạy học thụ động, giáo
điều chỉ có thể đào tạo ra những công chức ngoan ngoãn hơn là những công dân
năng động sáng tạo. Vì vậy cần có một cuộc cách mạng về phương pháp đào tạo,
về phương pháp dạy học trong nhà trường ở mọi quốc gia. Nền giáo dục của
chúng ta với những đặc điểm và nhiệm vụ riêng của mình cũng không nằm
ngoài quỹ đạo ấy.
Trước những thách thức lớn của thời đại trong xu thế hội nhập toàn cầu,
tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội năm 2011 - 2020” đảng ta đã xác định: “…Phát triển giáo dục là quốc sách
hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn
hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới
cơ chế quản lý giáo dục (QLGD), phát triển đội ngũ giáo viên (GV) và cán bộ
quản lý (CBQL) là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào
tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành,
Mặt khác cùng với hoạt động học tập của học sinh, hoạt động dạy học
của giáo viên diễn ra liên tục trong suốt năm học, là hoạt động trung tâm và
chi phối các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Muốn nâng cao
chất lượng giáo dục phải quản lý tốt đội ngũ giáo viên, quản lý tốt hoạt động dạy
học trong nhà trường và cũng vì thế vấn đề làm thế nào để quản lý tốt hoạt động
dạy học đã trở thành mối quan tâm, trăn trở của những người làm công tác
quản lý giáo dục, nhất là trong điều kiện đổi mới chương trình, phương pháp
giáo dục hiện nay thì điều đó càng trở nên cấp thiết.
Công tác quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng các trường tiểu học
trong quận 11 đã có nhiều tiến bộ và đi vào nề nếp song vẫn còn những hạn chế,
việc quản lý còn mang nặng tính hành chính, vẫn chưa bao quát hết các nội dung
12
quản lý hoạt động giảng dạy theo tinh thần đổi mới, chất lượng dạy học giữa các
trường tiểu học trong quận vẫn còn có sự chênh lệch.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải
pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường tiểu học Quận 11, Thành phố
Hồ Chí Minh” với mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình trong việc nâng
cao chất lượng dạy học ở các trường tiểu học nói chung và các trường tiểu học ở
quận 11, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp quản
lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động dạy học đối với các trường tiểu học.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường tiểu học quận
những phương pháp nghiên cứu khác.
- Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng để phỏng vấn các Hiệu trưởng, phó
Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn và các GV giỏi có
nhiều kinh nghiệm về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học trường tiểu học.
- Phương pháp điều tra
Sử dụng bảng hỏi để điều tra thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy
học ở các trường tiểu học. Đối tượng điều tra gồm Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng
và một mẫu điều tra gồm tổ trưởng chuyên môn, GV được chọn ngẫu nhiên.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu sản phẩm của công tác quản lý hoạt động dạy học trường tiểu
học của Hiệu trưởng: kết quả học tập của HS.
- Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các CBQL có nhiều kinh nghiệm trong quản lý
hoạt động dạy học ở trường tiểu học và Phòng GD&ĐT về các giải pháp đã đề
xuất.
14
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Để phân tích và xử lý các số liệu điều tra về mặt định hướng nhằm định
hướng các kết quả nghiên cứu.
8. Những đóng góp chính của đề tài
Hệ thống cơ sở lý luận về quản lý, QLGD, quản lý nhà trường, trường tiểu
học và quản lý HĐDH ở trường tiểu học; quản lý nhà nước về giáo dục để từ đó
có cách nhìn tổng quan về quản lý HĐDH ở trường tiểu học và giải pháp quản lý
HĐDH ở trường tiểu học.
Đánh giá thực trạng chất lượng dạy học, các biện pháp quản lý HĐDH ở
các trường tiểu học quận 11 đối với HĐDH ở các trường tiểu học thuộc quận 11,
trọng việc tự học, tự luyện, tu thân; phát huy mặt tích cực sáng tạo, phát huy năng
lực nội sinh; dạy sát đối tượng, cá biệt hóa đối tượng; kết hợp học và hành, lý
thuyết với thực tiễn; phát triển hứng thú, động cơ, ý chí của người học.
Từ cuối thế kỷ XIV vấn đề dạy học và quản lý dạy học được nhiều nhà
giáo dục quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ đó là Kômenxki (1592-1670), ông
cho rằng: “Cần chuẩn bị cho con người vào đời, không những vào cuộc đời tinh
thần mà cả vào cuộc sống đời trần thế và xã hội. Vì vậy, phải học những cái gì
thiết thực, có lợi, phải tìm hiểu thế giới xung quanh, sách vở phải lùi trước thực
tế” [19, Tr29]. Ông đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên,
quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện
tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt
buộc, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ một điều gì và ông đã nêu ra một số
nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn đó là: Nguyên tắc trực quan; nguyên tắc
phát huy tính tự giác tích cực của HS; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên
tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của HS (vừa
sức); dạy học phải thiết thực; dạy học theo nguyên tắc cá biệt…
16
Quá trình dạy học là một quá trình tương tác giữa hai hoạt động: hoạt
động dạy học (HĐDH) và hoạt động học tập. Hai hoạt động này là những hoạt
động trung tâm làm nên đặc thù của trường học bởi vì có quỹ thời gian lớn nhất,
chiếm nhiều lao động của giáo viên nhất, chi phối các hoạt động khác, được các
hoạt động khác hỗ trợ, trực tiếp tạo nên chất lượng tri thức cho HS.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo là mục tiêu phải đạt được của
quá trình dạy học, quản lý dạy học. Trong nhà trường tiểu học, đây là công việc
chiếm một thời gian lớn và khó khăn nhất của người Hiệu trưởng.
Kết quả của quá trình dạy học không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào quan hệ
tương tác giữa giáo viên và học sinh mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong
bình diện khác nhau nhưng đều nhằm giải quyết mối quan hệ giữa người giáo
viên và người quản lý; những nội dung quản lý hoạt động dạy học của hiệu
trưởng.
Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn (1987) trong “ Những bài giảng về quản lý
trường học” đã cho chúng ta cách nhìn toàn bộ công việc quản lý của người hiệu
trưởng. Người hiệu trưởng phải luôn luôn biết kết hợp một cách hữu cơ sự quản
lý dạy và học (theo nghĩa rộng) với sự quản lý các quá trình bộ phận, hoạt động
dạy và học các môn và hoạt động khác bổ trợ cho các hoạt động dạy và học
nhằm làm cho tác động giáo dục được hoàn chỉnh trọn vẹn [24].
Tác giả Nguyễn Văn Lê (1985), trong cuốn “ Khoa học quản lý nhà
trường” đã đề cập đến phương pháp tổ chức và quản lý nhà trường trên mọi lĩnh
vực: giảng dạy, học tập, hướng nghiệp, công tác quản lý nội bộ, đi sâu vào các
công việc và quan tâm thiết thực của người HT [32].
Tác giả Nguyễn Văn Tường (2004) nêu lên thực tế hiện nay và những khó
khăn trong công tác quản lý nhà trường đặc biệt khi thực hiện việc đổi mới
chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học. Tác giả khẳng định:
“Để chủ trương đổi mới phương pháp dạy học đi vào chiều sâu, những nhà quản
lý giáo dục phải làm sao chuyển được những yêu cầu đổi mới phương pháp
giảng dạy của mình trở thành nhu cầu tất yếu của nhà giáo” .
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu chủ yếu về lý luận quản lý nói
chung như: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” của Harold Koozt, Cyril
18
Odonnell, Heinz Weihrich (1994), “Những khái niệm cơ bản về QLGD” của
Nguyễn Ngọc Quang (1989), …
Nói tóm lại các tác giả Việt Nam cũng như nước ngoài nghiên cứu và đưa
ra nhiều biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở nhà trường; gần đây trong một
số luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, vấn đề công tác quản lý của HT, nhất là
những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ
thật). Nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực
hiện những chương trình mục đích hoạt động ’’ .
Theo Mác : “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ
đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát
sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của những
khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy
mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Như vậy, bản chất quản
lý lao động là một loại lao động để điều khiển lao động. Xã hội càng phát triển ,
các loại hình lao động phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò
quan trọng.
Theo Koozt, O’Donnell và Weilhrich (1994): “Quản lý là một hoạt động
thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục
đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường
mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian,
tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách
quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa
học”[20].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm duy trì tính
trồi của hệ thống, sử dụng một cách tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ
thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trọng điều kiện môi
trường luôn biến động”. [41, Tr31]
20
Tác giả Trần Hữu Cát và tác giả Đoàn Minh Duệ (2008): “Quản lý hoạt
động thiết yếu nẩy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ
phát triển KT-XH: Nguồn vốn, nhân lực, tài nguyên, công nghệ và quản lý,
trong đó quản lý có vai trò mang tính quyết định sự thành công.
Ta có thể khái quát rằng: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả
nhất các tiểm năng, các cơ hội của tổ chức, làm cho hệ thống vận hành đạt được
mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Từ những quan niệm chung về quản lý, chúng ta thấy quản lý là một
thuộc tính gắn liền với xã hội ở một giai đoạn phát triển của nó, khi xã hội phát
triển đến một trình độ nhất định thì quản lý được tách ra thành một chức năng
riêng của lao động xã hội, từ đó xuất hiện những bộ phận người, những tổ chức
và cơ quan chuyên hoạt động quản lý, đó là những chủ thể quản lý; số còn lại là
những đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý.
Vì là một thuộc tính gắn liền với xã hội nên quản lý có hai chức năng cơ
bản: duy trì và phát triển. Để đảm bảo thực hiện được hai chức năng này hoạt
động quản lý bao gồm bốn chức năng cụ thể:
- Lập kế hoạch.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch.
- Chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch.
- Kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch.
Các chức năng này vừa mang tính độc lập tương đối, vừa liên quan mật
thiết với nhau, tạo thành một chu trình quản lý.
Sơ đồ: Quan hệ của các chức năng quản lý
(Theo Paul Hersy và Ken Blane Hard)
Lập kế hoạch
Kiểm tra
Tổ chức
23
cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy
luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em. ”[43, tr 7].
+ Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm
làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện
được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội
tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự
kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”[41].
+ Tác giả Trần Kiểm cho rằng; “QLGD có nhiều cấp độ. Ít nhất có hai cấp
độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô.
- Đối với cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý
thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý
đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là
nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo
dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”[28].
- Đối với cấp vi mô: “QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự
giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể
quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh
và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”[28].
+ Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QLGD là quản lý trường học, thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu đào tạo đối
với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng HS”. [19, tr 26].
Những khái niệm trên tuy có cách diễn đạt khác nhau nhưng tựu chung ta
có thể hiểu : QLGD được hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp
với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa
hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục
Các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã đưa ra các khái niệm
về quản lý nhà trường như sau:
25
M.I.Kônđacôp cho rằng: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh,
chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội
– sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế
hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà
trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu các mặt xã hội – kinh tế, tổ chức sư
phạm của quá trình dạy và học, giáo dục thế hệ đang lớn lên”[29].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “ Quản lý nhà trường là thực hiện đường
lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế
hệ trẻ và từng HS” [19, tr 27],
Tác giả Thái Văn Thành: “ Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là
một hệ thống con của quản lý vĩ mô: Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường có
thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế
hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên
và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy
động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường
nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự
kiến”. [43, tr 7]
Như vậy, quản lý nhà trường chính là QLGD trong một phạm vi xác định,
đó là nhà trường (đơn vị giáo dục). Quản lý nhà trường là một hoạt động được
thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét
riêng mang tính đặc thù của giáo dục. Do đó quản lý nhà trường cần vận dụng
tất cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà
trường theo mục tiêu đào tạo.