1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
"Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt", là nhân tố đảm bảo cho
sự tồn tại và phát triển xã hội. Giáo dục là chìa khoá tiến tới một xã hội tốt
đẹp, là điều kiện tiên quyết để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ, hợp tác trí
tuệ và tôn trọng lẫn nhau. Đây là một trong những động lực quan trọng để
thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, là điều kiện để phát huy lợi thế cạnh
tranh quốc tế của Việt Nam về nguồn nhân lực trong quá trình toàn cầu hóa,
là tiền đề quan trọng để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để xã
hội phát triển nhanh và bền vững. Chính vì vậy mà Đảng ta đã khẳng định:
“Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn lực, bồi dưỡng nhân tài”.
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, giáo dục là sự nghiệp “trồng người”. Vai trò của giáo dục lớn đến
mức, nó có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong của cả một dân tộc, bởi giáo dục
chính là trụ cột của một quốc gia để tạo dựng, giữ gìn và phát triển hệ giá trị
xã hội. Nhà trường là thiết chế của xã hội, nhà trường có nhiệm vụ giáo dục
toàn diện, là yếu tố hết sức quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách
của học sinh, song bên cạnh tầm quan trọng của nhà trường thì học sinh còn
chịu sự tác động của gia đình và xã hội. Do đó, tạo môi trường thống nhất,
đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và xã hội là mục tiêu của nền giáo dục Việt
Nam. Nền giáo dục có tốt thì mới góp phần tạo dựng, bảo vệ được một hệ giá
trị nhân bản phù hợp với đặc trung tốt đẹp của dân tộc và vì vậy đủ sức mạnh
làm nên nền tảng cho xã hội phát triển hưng thịnh; ngược lại, nền giáo dục
kém và hệ quả đi kèm với nó là hệ giá trị yếu thì dân tộc đó khó có sức bật đi
lên.
2
Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã đặt việc "diệt
pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức về nội dung xã hội hóa giáo dục trong
nhân dân tuy rộng nhưng chưa có chiều sâu, sự đồng thuận trong nhân dân và
xã hội về công tác xã hội hóa chưa cao, hệ thống văn bản tạo hành lang pháp
lý cho công tác xã hội hóa giáo dục chưa rõ ràng, hoàn thiện. Trước thực
trạng đó, chúng tôi nhận thấy rằng việc tìm ra giải pháp quản lý công tác xã
hội hoá giáo dục là vấn đề bức xúc, một việc làm cần thiết đối với phong trào
giáo dục của thành phố nói chung và đặc biệt là cấp tiểu học nói riêng. Xuất
phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp
quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường tiểu học Thành phố Vinh,
tỉnh Nghệ An” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp quản
lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường tiểu học
trên địa bàn Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường tiểu học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường tiểu
học Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
4. Giả thuyết khoa học
Hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường tiểu học Thành phố
Vinh sẽ được nâng cao nếu các đề xuất và thực hiện các giải pháp quản lý có
tính khoa học và khả thi.
5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu cơ sở lý luận của công tác xã hội hóa giáo dục ở các
trường tiểu học.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở các
trường tiểu học.
Chương 2. Thực trạng quản lý công tác XHHGD ở các trường tiểu học
Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Chương 3. Một số giải pháp quản lý công tác XHHGD ở các trường
tiểu học Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội vì nó quyết định
tương lai của mỗi người và của cả xã hội. Ngay từ những ngày đầu cách
mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”,
Người kêu gọi : "Toàn dân tham gia diệt giặc dốt", đồng thời vạch rõ phương
pháp, lực lượng tiến hành: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân
liệu cũng xong". Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp giáo dục và đào tạo
luôn được xác định là sự nghiệp của toàn dân. Như vậy, bản chất xã hội hoá
đã được xác lập từ lâu. Trên nền tảng tư tưởng này, trong suốt quá trình lãnh
đạo đấu tranh cách mạng, Đảng ta luôn coi việc vận động lực lượng toàn dân,
toàn xã hội xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo như việc
thực hiện đường lối quần chúng của Đảng nhằm đạt đến mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội.
Trong quá trình đổi mới sự nghiệp cách mạng, tư tưởng xã hội hoá đã
được Đảng, nhân dân ta kế thừa và phát huy. Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp
hành Trung ương Đảng (khoá VIII) khẳng định: "Giáo dục - đào tạo là sự
thống tổ chức cộng đồng người cụ thể trong lịch sử [26, tr12]
Thuật ngữ "xã hội" là một thuật ngữ rất thông dụng để chỉ một tập hợp
người có những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa... chặt chẽ với nhau. Thuật
ngữ "xã hội" hiểu với nghĩa là "các tổng thể xã hội", "các mối quan hệ xã
hội". . . nói chung là xét chúng về mặt thể chế hoặc về mặt quan hệ [26, tr3].
Xã hội hoá là một trong những vấn đề cơ bản của xã hội học, xã hội hoá
được hiểu theo hai góc độ: xã hội hoá cá nhân và xã hội hoá một hoạt động.
10
Xã hội hoá cá nhân:
Xã hội hoá cá nhân là quá trình con người tiếp thu nền văn hóa của xã
hội trong đó con người được sinh ra, quá trình mà nhờ nó con người đạt được
những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử được
coi là thích hợp trong xã hội.
Xã hội hoá cá nhân là quá trình tiếp thu và tái tạo những kinh nghiệm
xã hội của cá nhân thông qua hoạt động và giao lưu. Xã hội hoá cho phép con
người nhận thức toàn diện hiện thực xã hội xung quanh, chiếm lĩnh những kỹ
năng hoạt động của cá nhân và tập thể.
Xã hội hóa cá nhân là quá trình liên tục, quá trình đó còn gọi là quá
trình học hỏi xã hội, tiếp thu xã hội, thích ứng xã hội [44, tr18].
Xã hội hoá hoạt động:
Xã hội hoá được nghiên cứu ở đây chính là sự tham gia rộng rãi của xã
hội (các cá nhân, nhóm, tổ chức, cộng đồng,...) vào một hoạt động hoặc một
số hoạt động mà trước đó chỉ một đơn vị, bộ phận hay một ngành chức năng
nhất định thực hiện [44] .
Xã hội hoá theo nghĩa này thường được dùng một cách thông dụng
trong xã hội. Đây chính là quá trình phối hợp hoạt động một cách có kế hoạch
của các lực lượng trong xã hội theo một định hướng, một chiến lược quốc gia
để giải quyết một vấn đề nào đó của xã hội.
Thực tế ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
cách mạng của mình đã không ít lần triển khai thành công xã hội hoá các
nhiệm vụ trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Chính nhờ xã hội hoá mà chúng ta đã có những phong trào quần
chúng rầm rộ trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa,
phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm, phòng chống HIV/AIDS, đảm bảo
ATGT, an toàn cộng đồng, giữ vững an ninh trật tự xã hội, quốc phòng toàn
12
dân, đối ngoại nhân dân,…
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, xã hội hoá các hoạt động không chỉ
nghĩa là tăng cường huy động cộng đồng mà coi nhẹ trách nhiệm Nhà nước
hoặc trách nhiệm các chủ thể chính mà ngược lại, đây chính là quá trình kết
hợp chặt chẽ giữa trách nhiệm của Nhà nước, của các cơ quan chủ quản với
cộng đồng, làm cho các nguồn lực được huy động đến mức tối đa và sử dụng
có hiệu quả nhất. Đây mới là mục tiêu thực chất của xã hội hoá các hoạt động.
Như vậy, xã hội hoá hoạt động được đề cập ở đây chính là biến nhiệm
vụ của một ngành, một chủ thể thành nhiệm vụ của nhiều ngành, nhiều chủ thể
xã hội hay của toàn xã hội bằng cách thông qua hoạt động tuyên truyền, giáo
dục, thuyết phục nhằm nâng cao nhận thức về trách nhiệm của từng đối tượng,
sự điều hành quản lý của các nhà lãnh đạo nhằm tăng cường sự phối hợp chặt
chẽ giữa các lực lượng xã hội để thực hiện nhiệm vụ xã hội đang đặt ra.
Xã hội hoá hoạt động con người rõ ràng khác biệt với xã hội hoá cá
nhân. Bởi lẽ nếu xã hội hoá cá nhân là nhằm biến con người cá nhân thành
con người xã hội thì xã hội hoá hoạt động là quá trình biến một hay một số
nhiệm vụ của một chủ thể thành nhiệm vụ của nhiều chủ thể hay của toàn xã
hội [26]; [44].
- Giáo dục
Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng: "Là một lĩnh vực của hoạt động xã hội
Nghị quyết 90-CP của Chính phủ do Thủ tướng kí ngày 21/8/1997 đã
xác định khái niệm xã hội hoá giáo dục như sau, đó là:
- Là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn
xã hội vào sự phát triển sự nghiệp giáo dục;
- Là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân và
Đảng bộ, HĐND, UBND, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng,
các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người
15
dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế xã hội lành mạnh
thuận lợi cho hoạt động giáo dục.
- Là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực,
vật lực và tài lực trong xã hội (kể cả từ nước ngoài): phát huy và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực này.
Cuộc vận động xã hội hoá giáo dục có 3 nội dung chủ yếu:
Một là, tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội theo nhiều
hình thức, vận động toàn dân, trước hết là những người trong độ tuổi lao động
thực hiện học tập suốt đời để làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc
sống tốt đẹp hơn, làm cho xã hội ta trở thành xã hội học tập.
Hai là, vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, tạo môi trường giáo dục
tốt lành phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia
đình và ngoài xã hội; tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ đảng, HĐND, UBND,
các đoàn thể quần chúng, các doanh nghiệp. . . đối với sự nghiệp giáo dục.
Ba là, nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gia của toàn dân, của
mỗi người đối với giáo dục nhằm củng cố, tăng cường hiệu quả của hệ thống
giáo dục để phục vụ tốt việc học tập của nhân dân.
Xã hội ngày một phát triển, cũng như giáo dục qua các thời đại lịch sử
ngày càng tiến xa bản chất xã hội vốn có từ ban đầu. Trải qua các quá trình
thay đổi về mối quan hệ sản xuất, tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyên môn hoá,
cộng đồng, của người dân.
1.2.2. Xã hội hóa giáo dục ở cấp tiểu học
Giáo dục trẻ em, trước hết là trẻ em ở tiểu học là giúp hình thành một
con người. Con người đi từ thời thơ ấu đến lúc bước vào đời. Cũng tương tự
như nhân loại đi từ con người nguyên thuỷ đến con người văn minh. Trong
toàn bộ sự hình thành của con người thì giai đoạn từ lứa tuổi mẫu giáo đến
tiểu học là giai đoạn cơ bản nhất. Những gì có được ở lứa tuổi này sẽ đặt nền
17
tảng cho toàn bộ sự phát triển về sau của một con người. Vì vậy đối với giáo
dục tiểu học cái chuẩn rất quan trọng. Chuẩn ở đây không phải là những giáo
điều mà là những chuẩn mực tiêu biểu cho sự hoàn thiện, tính nghiêm túc, thể
hiện cả trong các trí thức được dạy trong những yêu cầu về nhân cách đồi với
học sinh, thậm chí cả trong hành vi của thầy cô giáo, trong nếp sống, lối sinh
hoạt của nhà trường.
Khái niệm phát triển con người ngày nay được hiểu là phát triển toàn
diện cho mỗi con người và điều đó có nghĩa là họ phải nhận được sự giáo dục
toàn diện trong một môi trường tốt. Ở Việt Nam, không ít người quan niệm
rằng ngôi trường chỉ là nơi dạy học sinh mà không biết rằng đất đai và các cơ
sở vật chất khác của ngành giáo dục không chỉ là phương tiện hay công cụ
giáo dục, mà còn là môi trường để tạo ra nhân cách con người, giúp cho các
em hoàn thiện mọi mặt. Sự quản lý thiếu tầm nhìn đối với sự nghiệp trồng
người như vậy tạo ra những môi trường đào tạo kém chất lượng và không ổn
định vì trên thực tế, nhiều trường học chưa được quan tâm thích đáng về cơ sở
vật chất nên phải thuê địa điểm, hoặc thường xuyên chuyển địa điểm. Mấy
chục năm qua, mặc dù điều kiện kinh tế - xã hội còn nghèo nàn và lạc hậu,
chúng ta đã thực hiện được chương trình phổ cập tiểu học, bảo đảm cho hàng
chục triệu trẻ em đến tuổi được đến trường. Đó là một nỗ lực và thành tích rất
lớn. Nhưng cũng chính vì phải lo cho một số lượng lớn trẻ em đi học, vượt
người lao động có đủ kỹ năng làm việc và được thị trường chấp nhận còn dạy
người để người lao động có thể làm chủ chính mình trên các thị trường lao
động khác nhau.
1.2.3. Quản lý, quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường
tiểu học
- Quản lý
Về nội dung thuật ngữ “Quản lý” có nhiều cách hiểu:
19
Trong sách giáo trình Khoa học quản lý (Tập 1.NXB Khoa học kỹ
thuật. Hà Nội.1999) đã ghi rõ:
Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành
công việc qua nỗ lực của người khác.
Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những
người cộng sự khác trong cùng chung một tổ chức.
Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực
cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm.
Có tác giả lại quan niệm:
Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật tác
động vào hệ thống con người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội.
Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý
lên đối tượng và khách thể quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm
năng, cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động
của môi trường.
Như vậy, có thể khái quát: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển,
hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt
tới mục đích đã đề ra. Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để đối
tượng quản lý luôn phấn khởi, đem hết năng lực và trí tuệ để tạo ra lợi ích cho
bản thân, tổ chức và xã hội.
muốn đạt được những kết quả cao nhất, đòi hỏi các nhà quản lý phải đề ra
được các giải pháp sát đúng, phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, từng
giai đoạn cụ thể. Giải pháp quản lý công tác XHHGD chính là xây dựng các
cơ chế, chính sách tạo các hành lang pháp lý thuận lợi để thực hiện công tác
XHHGD ở các trường tiểu học đạt kết quả.
Quản lý công tác XHHGD là triển khai các giải pháp quản lý nhà nước,
tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục theo định hướng của nhà nước về
22
công tác XHHGD.
1.3. Một số vấn đề về công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường tiểu
học trong giai đoạn hiện nay
1.3.1. Vị trí, nhiệm vụ của trường tiểu học
Điều 2, Điều lệ trường tiểu học được ban hành theo Thông tư số
41/2010/QĐ-BGD& ĐT ngày 30/12/2010 của Bộ trưởng Bộ giáo dục đào tạo
đã qui định vị trí của trường tiểu học: Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ
thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và
con dấu riêng.
Điều 3, Điều lệ trường tiểu học đã quy định nhiệm vụ của trường tiểu
học:
Một là, tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng
theo mục tiêu, chương trình giáo dục tiểu học do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban
hành.
Hai là, huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em tàn tật,
khuyết tật, trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục
và chống mù chữ trong cộng đồng. Nhận bảo trợ và quản lý các hoạt động
giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học
theo sự phân công của cấp có thẩm quyền. Tổ chức kiểm tra và công nhận
hoàn thành chương trình tiểu học của học sinh trong nhà trường và trẻ em
CSVC, nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục bậc tiểu học.
1.3.3. Nội dung công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường tiểu học
- Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục nhằm nâng cao nhận thức toàn
xã hội về nội dung, bản chất của xã hội hoá và sự cần thiết của xã hội hoá đối
với giáo dục tiểu học.
- Các cấp chính quyền, trường học phối hợp đề ra nhiều giải phát tuyên
24
truyền vận động cộng đồng tham gia vào quá trình giáo dục thông qua việc tổ
chức đại hội giáo dục các cấp, thực hiện dân chủ hoá nhà trường.
- Trong điều kiện hiện nay, nguồn ngân sách nhà nước còn khó khăn,
mới chỉ đáp ứng được những nhu cầu cơ bản về CSVC, vì vậy rất cần sự huy
động xã hội đầu từ các nguồn lực cho giáo dục tiểu học thông qua các hoạt
động đóng góp tài chính, vật chất, công sức để xây dựng các điều kiện chăm
sóc giáo dục trẻ tốt nhất ở nhà trường tiểu học.
- Tăng cường sự chỉ đạo của lãnh đạo các cấp. Nâng cao vai trò và
trách nhiệm của nhà trường, của hiệu trưởng trường tiểu học trong việc huy
động các lực lượng xã hội tham gia xã hội hoá giáo dục.
- Xây dựng các giải pháp tổng thể nhằm huy động xã hội tham gia xây
dựng môi trường giáo dục thống nhất thể hiện ở các hoạt động chủ yếu là: huy
động trẻ trong độ tuổi ra lớp và duy trì sĩ số, thực hiện phổ cập giáo dục tiểu
học đúng độ tuổi và xoá mù chữ trên địa bàn, phối hợp cùng nhà trường tạo ra
môi trường giáo dục trẻ thống nhất, hình thành nhân cách và phẩm chất tốt
đẹp cho trẻ góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.
1.3.4. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác xã hội hóa giáo
dục
Xã hội hoá giáo dục là quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta để
làm giáo dục. Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhiều văn
bản của Đảng và Nhà nước ta về chỉ đạo sự nghiệp giáo dục đã khẳng định: