Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở trường trung học phổ thông huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp - Pdf 31

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang ở những năm đầu thế kỷ XXI - thế kỷ dự báo có sự bùng
nổ và phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin. Sự
bùng nổ và phát triển ấy một mặt làm cho một số nước trên thế giới có những
bước tiến nhảy vọt, nhưng mặt khác dễ dẫn đến tạo khoảng cách ngày càng lớn
giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, làm cho các nước đang
phát triển càng tụt hậu xa hơn các nước phát triển. Do đó, một vấn đề bức thiết,
có tính chất sống còn đặt ra cho các nước đang phát triển là phải làm sao thoát
khỏi sự tụt hậu. Về phương diện lý luận được thực tiễn của các nước phát triển
chứng minh, có thể khẳng định chỉ có đầu tư mạnh mẽ vào chiến lược con
người, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao thì mới có thể giải quyết vấn đề
đặt ra có hiệu quả nhất. Để đạt được vấn đề trên thì công tác xã hội hóa giáo
dục được coi là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong mọi hoạt động giáo dục
theo hướng toàn diện.
Giáo dục và đào tạo là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và
phát triển của một con người nói riêng và của xã hội nói chung. Quản lý công
tác xã hội hóa giáo dục ở nhà trường THPT là một khâu then chốt, cơ bản, có
tính chất quyết định góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Vì thế xã
hội hóa giáo dục là động lực quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục
và đào tạo, để nâng cao chất lượng giáo dục thì điều quan trọng là phải nâng
cao quản lý công tác xã hội hóa giáo dục đối với mọi hoạt động của mỗi nhà
trường trung học phổ thông.
Trường trung học phổ thông là một cấp học trong hệ thống giáo dục quốc
dân rất quan trọng của giáo dục phổ thông. Đây là cấp học tạo điều kiện cơ bản
để nâng cao dân trí và trang bị nền tảng kiến thức hết sức quan trọng để phát
triển toàn diện con người Việt nam. Điều này đòi hỏi nhà trường phải làm thế
nào để hoàn thiện nhân cách người học để người học có thể học lên bậc cao hơn
1

1

bước tiến của các nhà trường. Vì thế, việc tìm một số giải pháp quản lý công tác
2

2


xã hội hóa giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục là nhiệm vụ quan
trọng cần tập trung thực hiện. Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu
“Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở trường trung học
phổ thông huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” với hy vọng góp phần nhỏ của
mình phục vụ cho yêu cầu đổi mới công tác xã hội hóa giáo dục, nâng cao chất
lượng giáo dục của địa phương.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thự tiển, đề xuất một số giải pháp quản
lý công tác xã hội hóa giáo dục ở trường trung học phổ thông huyện Cao Lãnh,
tỉnh Đồng Tháp.
3. KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý xã hội hóa giáo dục ở trường trung học phổ thông
huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở trường trung học phổ
thông huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp .
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, đề xuất, thăm dò một số giải pháp quản lý công tác
xã hội hóa giáo dục ở trường trung học phổ thông huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng
Tháp trong những năm gần đây. Giới hạn khảo sát: trong những năm học 2010
– 2011; 2011 – 2012; 2012 – 2013.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được một số giải pháp có tính khoa học và tính thực tiễn

7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác xã hội hóa giáo dục ở trường trung
học phổ thông.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục ở trường trung học
phổ thông huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

4

4


Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở
trường trung học phổ thông huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp.

5

5


Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Sơ lược lịch sử quá trình nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục và
xã hội hóa giáo dục bậc học trung học phổ thông
Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hóa sự nghiệp giáo dục đã có từ rất lâu,
đó không phải là vấn đề hoàn toàn mới nếu nhìn nhận nó về bản chất. Hoạt
động xã hội hóa giáo dục đã xuất hiện và có bề dày lịch sử trong các chế độ xã
hội và thể chế chính trị. Đảng ta luôn coi trọng vai trò của xã hội hóa giáo dục,

người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ...
Người nhấn mạnh: Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, không phân biệt già,
trẻ, trai, gái, cứ là người Việt Nam thì phải tham gia học tập, tham gia xóa nạn
mù chữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra cương lĩnh hành động cho phong trào
Bình dân học vụ, là cơ sở để tạo lập và xây dựng một nền giáo dục toàn dân
ngay sau khi đất nước giành được độc lập.
Từ năm 1946, đất nước tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhưng nền giáo dục Việt Nam
vẫn duy trì và phát triển, góp phần đáng kể vào việc nâng cao trình độ dân trí,
làm nền móng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Mùa xuân năm 1975, khi đất nước hoàn toàn độc lập thống nhất, chúng ta
có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để phát triển sự nghiệp giáo dục. Giai đoạn
này, giáo dục Việt Nam đạt được một số kết quả nhất định trong việc thống
nhất hệ thống giáo dục hai miền Nam - Bắc. Song do cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp, nền giáo dục của chúng ta chưa phát huy được tiềm năng sẵn có để
phát triển mạnh mẽ và bền vững. CSVC của giáo dục bị xuống cấp và lạc hậu,
động lực của người dạy và người học giảm sút kéo theo sự kém phát triển của
nền giáo dục cả về số lượng và chất lượng. Đảng và Nhà nước đã thực hiện các
đợt cải cách giáo dục nhưng còn chắp vá, chất lượng giáo dục chưa đáp ứng
được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, nhất là vào thời điểm nhân loại đã bước

7

7


sang thời kỳ khoa học và kỹ thuật phát triển mạnh; xu thế hội nhập quốc tế, toàn
cầu hóa, đa phương hóa là quy luật tất yếu để phát triển đất nước.
Với đường lối đổi mới của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng VI (năm

đến việc xây dựng và củng cố công tác giáo dục gắn liền với phát triển cộng
đồng với mục đích vì lợi ích cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống.

10

10


Như vậy, XHHGD là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi người,
mọi lực lượng nhằm trả lại bản chất xã hội cho giáo dục, và giáo dục có trách
nhiệm thực hiện các yêu cầu của xã hội đặt ra.
Có thể nói, việc nghiên cứu xã hội hoá giáo dục được các nhà khoa học
quan tâm và đã có nhiều thành tựu về vấn đề này. Cụ thể:
- Xã hội hóa giáo dục bậc trung học phổ thông ở các nước trong khu
vực và trên thế giới. Từ lâu, giáo dục đã được coi là quốc sách hàng đầu của
nhiều quốc gia trên thế giới. Tìm hiểu cách làm giáo dục ở nhiều nước cho thấy
xã hội hóa sự nghiệp giáo dục là cách làm phổ biến, kể cả ở những nước có nền
công nghiệp hiện đại - kinh tế phát triển cao.
Có thể khẳng định rằng, mặc dù bản chất của giáo dục ở các nước có
khác nhau nhưng đều có điểm chung là huy động mọi nguồn lực và mọi điều
kiện cho phát triển giáo dục. ở những nước tiên tiến, việc quan tâm đầu tư cho
giáo dục qua quá trình huy động sức mạnh của nhà nước và các tầng lớp xã hội,
nâng cao mặt bằng tri thức, đưa dân trí ngang tầm thời đại để con người làm
chủ nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp. ở những nước đang phát
triển, việc huy động mọi nguồn lực cho giáo dục là phương thức tốt nhất nhằm
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, làm phong phú tài năng trí tuệ để phục vụ
các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Việc đầu tư đúng mức cho con người sẽ
tạo tiền đề cho sự ổn định và phát triển bền vững ở những nước có nền kinh tế
đang phát triển. Và chỉ có bằng cách ấy, các quốc gia này mới có thể "đi tắt",
"đón đầu" góp phần phát triển kinh tế - xã hội đạt đến trình độ hiện đại, hội

ngũ. Giáo viên và nhân viên nhà trường có nhiều sáng kiến cải tiến, chủ động
trong việc. Giáo viên và nhân viên nhà trường có tinh thần trách nhiệm cao,
hoàn thành mọi công việc được giao. Có phương thức và chủ động khen thưởng
bằng vật chất và tinh thần cho các thành viên của nhà trường. Thỏa mãn các
nhu cầu về giáo dục. Cha mẹ và cộng đồng tham gia tích cực vào việc giáo dục
học sinh. Có hệ thống thông tin và thường xuyên truyền thông tin về nhà trường
trong nội bộ và trong cộng đồng. ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
và quản lý nhà trường. Đảm bảo sự công bằng trong giáo dục. Kiểm tra, đánh
giá dựa trên tiêu chuẩn. Bầu không khí sư phạm hợp tác, dân chủ. Phát triển
năng khiếu của học sinh, học sinh có phương pháp tự học, tự quản tốt. Nhà
12

12


trường được chính quyền địa phương hỗ trợ và khuyến khích các hoạt động cải
cách như hỗ trợ về kỹ thuật, đáp ứng các yêu cầu của nhà trường, tạo điều kiện
để trường tự quản.
Thực chất của quản lý dựa vào nhà trường là sự phân quyền, tạo điều
kiện cho các thành viên trong nhà trường và cộng đồng tự quyết định vận mệnh
của nhà trường. Đây là vấn đề quản lý liên quan tích cực đến dân chủ, thực hiện
quyền làm chủ của người dân trong việc tham gia xây dựng giáo dục. Điều 11
Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi:
"Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công
việc của Nhà nước và xã hội...", do đó khi bàn đến vấn đề dân chủ trong giáo
dục, không thể không bàn đến một số vấn đề thuộc về quản lý, đó là xã hội hóa
công tác giáo dục, tương tự vấn đề nhà trường tự quản.
- Xã hội hóa giáo dục bậc trung học phổ thông ở nước ta
Xã hội hóa bậc học trung học phổ thông là một hoạt động mang tính xã
hội với sự tác động, chi phối và có mối liên hệ mật thiết với bậc học THPT

từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ đường lối đổi mới do Đại hội
Đảng lần thứ VI, VII đề ra, Nhà nước ta đã chuyển hệ thống giáo dục quốc dân
từ mục tiêu phục vụ cho nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang phục vụ cho
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ chuyển đổi
này về giáo dục, Nhà nước đã có những chủ trương:
- Đối với các cấp bậc học trên tiểu học thì huy động sự đóng góp của
nhiều tầng lớp dân cư.
- Đào tạo không chỉ thỏa mãn nhu cầu về nhân lực của kinh tế quốc doanh
và biên chế Nhà nước mà còn thỏa mãn nhu cầu nguồn lực lao động của mọi thành
phần kinh tế và nhu cầu xã hội, đào tạo bằng nhiều nguồn tài chính và theo
phương thức, kế hoạch mềm dẻo. Người tốt nghiệp tự tìm, tự tạo việc làm.
- Mở rộng cơ hội học tập để mọi người có thể cập nhật, đổi mới kiến thức
và rèn luyện các kỹ năng làm việc.
- Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục, thực hiện chính
sách của Nhà nước ta, mở cửa trong công tác đối ngoại, hợp tác với các nước
trên các mặt kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục.
14

14


Như vậy, XHH bậc học THPT không nằm ngoài quy luật tất yếu trong xu
thế phát triển của thời đại, khi đất nước ta bước vào thời kỳ hội nhập, thực hiện
chủ trương CNH - HĐH thì bậc học THPT là tiền đề quan trọng cung cấp
nguồn nhân lực có trình độ học vấn, có sức khỏe, có đạo đức tác phong công
nghiệp nhưng vẫn mang bản sắc tốt đẹp của người Việt Nam để xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Thực tế hiện nay, XHHGD nói chung và xã hội hóa bậc học THPT đã có

cách con người. Đồng thời con người con người có đủ điều kiện để hòa nhập
với xã hội đó, đảm bảo sự phổ quát, đại chúng và phù hợp.
XHH là quá trình qua đó cá nhân con người chịu tác động của các yếu tố
của môi trường xã hội, hòa nhập vào cấu trúc nhân cách dưới ảnh hưởng của
các tác nhân xã hội và những kinh nghiệm cá nhân, vì vậy cá nhân thích nghi
với môi trường xã hội. Trong kinh tế - chính trị học, thuật ngữ "xã hội hóa"...
đó là quá trình phát triển của lực lượng sản xuất từ trình độ hợp tác giản đơn lên
trình độ hợp tác có phân công, chuyên môn hóa cao trên phạm vi toàn xã hội.
Từ đầu thế kỷ XX, Emilo Dur Kheim (1858-1917) nhà xã hội học người
Pháp cho rằng "Giáo dục vừa có chức năng phân hóa vừa có chức năng xã hội
hóa". Trong ba thập niên gần đây, khái niệm xã hội hóa được quan tâm thảo
luận nhiều hơn, khái niệm "xã hội hóa" chủ yếu được xem xét và hiểu biết ở
bình diện xã hội học. Đây là một lý thuyết khoa học về sự hình thành và phát
triển nhân cách.
Năm 1968, trong cuốn "Giáo dục học", Boloiview đã từng cho rằng: xã hội
hóa là quá trình cá nhân hòa nhập vào xã hội hay vào một trong các nhóm của họ
thông qua quá trình chuẩn mực và giá trị của từng nhóm xã hội.
Năm 1989, theo G.Enđrweit quan niệm: xã hội hóa được hiểu chung như
là một quá trình biện chứng, trong đó, mỗi người, với tư cách là thành viên của
xã hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội đó và mặt khác, thông qua
quá trình này duy trì và tái sản xuất xã hội.
Đến năm 1994, F.W.Kron phát biểu: Quá trình xã hội hóa được hiểu
chung như là một quá trình biện chứng, trong đó mỗi người, với tư cách là
thành viên của xã hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội đó và mặt
khác, thông qua quá trình này, duy trì và tái sản xuất xã hội.

16

16


17

17


thầy đối với hoạt động học của các đối tượng tham gia học tập mà hoạt động
giáo dục còn hướng tới những yêu cầu, những nhu cầu tất yếu, cấp thiết trong
xu thế phát triển của xã hội một cách đại chúng và phổ quát; ngược lại đối
tượng được thụ hưởng quyền lợi giáo dục và có trách nhiệm tham gia mọi hoạt
động giáo dục không bó hẹp trong phạm vi người học mà đó là quyền lợi và
trách nhiệm của toàn xã hội nói chung và các đối tượng, các thành phần xã hội
có liên quan trực tiếp tới hoạt động giáo dục nói riêng.
XHHGD là một xu thế tất yếu mang tính quy luật trong sự phát triển của
xã hội hiện đại, nó là một phạm trù thuộc phương thức làm giáo dục. Khái niệm
này có thể hiểu như hai tác động qua lại có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. ở
giác độ thứ nhất, XHHGD được quan niệm là sự thể hiện bản chất của những
hoạt động mang tính xã hội cho hoạt động giáo dục. Đây cũng là bản chất cơ
bản phải được nhà trường đề cập đến trong mục tiêu chiến lược và kế hoạch
hoạt động của mình. Muốn vậy, quá trình giáo dục phải thể hiện sự phù hợp với
đặc trưng và yêu cầu thực tế của xã hội: Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu
phát triển đất nước, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại nhằm đào tạo
nguồn nhân lực có đủ khả năng để phục vụ đắc lực cho nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. Chúng ta phải hiểu một quy luật mang tính ngẫu nhiên
rằng trong hoạt động giáo dục của nhà trường đã có bản chất xã hội. Nhà trường
không thể chỉ thực hiện công việc dạy học một cách độc lập, không thể tự khép
mình trong phạm vi khuôn viên của mình, mà phải có sự hòa nhập, đáp ứng các
nhu cầu của xã hội. Nếu chỉ đơn thuần thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo
quy định, rồi tìm mọi cách đạt tỷ lệ cao về chuyển lớp, chuyển cấp, thi tốt
nghiệp thì làm sao có thể có bản chất xã hội và đáp ứng được mọi nhu cầu như
mong muốn của xã hội? Đó là vấn đề rất quan trọng mà các nhà quản lý giáo

chính quyền phải có chủ trương thể hiện trong chương trình hành động cùng
với cơ chế chính sách tạo điều kiện cho XHHGD bậc học phát triển. Nói một
cách hình tượng là có một "cơ chế mở" để cho bậc học THPT đa dạng hóa các
loại hình, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục
bậc Trung học. Tuy nhiên "cơ chế mở" đó phải được đặt dưới sự quản lý của
Nhà nước bằng Luật và các quy định cụ thể, rõ ràng, trên cơ sở đó kiểm tra,
giám sát chặt chẽ việc thực hiện. Một đặc trưng nữa của XHHGD THPT là
phân luồng mạnh và định hướng nghề nghiệp cho học sinh dưới tác động của
19

19


nhu cầu nguồn nhân lực cho sự phát triển của xã hội. (Hiện nay bậc học THPT
thực hiện phân ban).
Hoạt động XHH bậc học THPT đặc trưng trên các khía cạnh: Cộng
đồng trách nhiệm, đa dạng hóa các loại hình giáo dục THPT, đa dạng hóa thu
hút các nguồn lực cho giáo dục THPT, thể chế hóa các quy định chế tài đối
với nghĩa vụ trách nhiệm cua các LLXH đối với việc tham gia giáo dục
THPT.
1.2.2.2. Bản chất xã hội hóa giáo dục ở trường trung học phổ thông
Hoạt động giáo dục nói chung đều mang bản chất của XHH. Vậy bản
chất của xã hội hóa là gì? Đó là sự tham gia của toàn xã hội vào hoạt động giáo
dục và giáo dục phải đáp ứng được các nhu cầu do xã hội đặt ra cho giáo dục.
Một cách khái quát về bản chất XHHGD như một hoạt động dục mang tính đại
chúng, với sự tác động qua lại mật thiết với nhau, thực chất XHHGD bậc THPT
là quá trình hình thành và phát triển khả năng năng lực cá nhân, định hướng
nghề nghiệp để các em có thể chuẩn bị bước vào cuộc sống của người công dân
có ích cho xã hội.
XHHGD bậc học THPT là một bộ phận của XHH sự nghiệp nói chung.

xem dân chủ trong giáo dục là mục đích thì XHHGD là phương tiện thực hiện
mục đích. Như vậy là XHHGD và dân chủ về giáo dục là cặp phạm trù thống
nhất biện chứng. XHHGD và dân chủ về giáo dục đều hướng vào mục tiêu của
chiến lược con người là tạo ra những chủ thể đích thực của đời sống nhân tính.
Đó là những cá thể đang sống cuộc sống người và đang trở thành động lực của
sự phát triển xã hội. Hiệu quả của XHHGD phản ánh mức độ dân chủ trong
giáo dục. Nơi nào giáo dục càng gắn với xã hội, càng được xã hội chăm sóc
nhiều bao nhiêu thì nơi đó nhân dân và con em họ càng được hưởng nhiều bấy
nhiêu quyền về giáo dục. Về vấn đề này, giáo dục ở một số nơi đã cho thấy
nhiều bài học quý báu. Người dân coi giáo dục và nhà trường là của mình. Kết
quả là dân trí nâng cao, đó là chìa khóa mở cửa cho sản xuất và đời sống phát
triển. Nếu dân chủ hàm chứa tự do thì XHHGD được thực hiện trên cơ sở tự
nguyện của quần chúng. Do đó XHHGD chỉ trở thành đích thực khi nó được
quần chúng chấp nhận với tư cách là chủ thể tự giác và tích cực.
XHHGD và dân chủ trong giáo dục xét theo khía cạnh khác có thể coi là
lợi ích và phương tiện đạt lợi ích. Dân chủ của nhân dân trong giáo dục là một
21

21


loại quyền về giáo dục, là lợi ích giáo dục. Song về nguyên tắc, lợi ích giáo dục
lại là kết quả của hoạt động: hoạt động thỏa mãn lợi ích. Do đó ở đây thể hiện
hai quan hệ: quan hệ giữa chủ thể và đối tượng thỏa mãn lợi ích; quan hệ giữa
các chủ thể có cùng đối tượng thỏa mãn lợi ích. Nếu trong quan hệ thứ nhất chủ
thể hoạt động nhằm thỏa mãn lợi ích thông qua hoạt động phù hợp với ưu thế
trội của mình thì trong quan hệ thứ hai các ưu thế trội của các chủ thể được phối
hợp với nhau. Trong trường hợp này cơ chế hợp tác là nổi bật. Do đó XHHGD
phải thỏa mãn hai yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, trong từng việc làm cụ thể cần nêu bật lợi ích của từng thành

tiến tới phổ cập trung học cơ sở, THPT khuyến khích phát triển các ngành học,
các hình thức học nhằm đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.
Quyền "được học" phải gắn liền với "khả năng học được". Không tạo
điều kiện cho người học học thì quyền được học chỉ là khẩu hiệu suông về dân
chủ. Giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải có hệ thống những biện pháp đổi mới
đồng bộ tất cả các yếu tố từ mục tiêu giáo dục đến nội dung, phương pháp giáo
dục và cả đánh giá thi cử. Việc đổi mới những yếu tố trên, đặc biệt là đổi mới
phương pháp giáo dục phải hướng vào người học, nhằm đề cao vai trò chủ thể
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình giáo dục nhằm kích
thích tiềm năng trí tuệ của con người.
Dân chủ hóa giáo dục được coi là nhân tố đảm bảo chất lượng giáo dục
và QLGD. Ngày nay, trên thế giới đã xây dựng một học thuyết được gọi là
Thuyết dân chủ về giáo dục bàn về cách mà các công dân cần có và cần được
trao quyền để tham gia xây dựng giáo dục. Tuy nhiên, dân chủ thể hiện trước
tiên trong quá trình giáo dục. Chẳng hạn, trước đây giáo dục và dạy học diễn ra
theo kiểu áp đặt, một chiều từ người dạy đến người học (mất dân chủ). Nhưng
bây giờ, xu thế chung coi giáo dục nói chung và dạy học nói riêng là quá trình
vận động của các chủ thể (người được giáo dục và người giáo dục) trong mối
quan hệ tương tác giữa ba tác nhân: người học, người dạy và môi trường. Trong
quá trình này, người học là người thợ của chính của quá trình đào tạo. Như vậy
có thể khẳng định: theo nghĩa rộng hiệu quả của quá trình dạy học nói chung và
quá trình học nói riêng phụ thuộc vào tiềm năng của người học. Vai trò của
người dạy trong quá trình này là người hướng dẫn. Người dạy đồng hành với
người học để phối hợp với người học, hướng dẫn người học, giúp cho người
23

23


học hình thành phương pháp học, đặc biệt là phương pháp tự học. Trong dạy

24


quản lý các hoạt động dạy học nói riêng và QLGD nói chung là những tác động
có mục đích, có kế hoạch của những nhà QLGD đến các đối tượng trực tiếp
giáo dục được giáo dục hoặc tham gia giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm
huy động các đối tượng, các lực lượng đó thực hiện, tham gia, cộng tác, phối
hợp trong mọi hoạt động giáo dục để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Cần phải
chú ý quy luật của quản lý là sự tác động chủ quan nhưng để đạt được hiệu quả
phải phù hợp với quy luật khách quan của đối tượng quản lý. Có thể nói khái
quát rằng, quản lý giáo dục có đối tượng là hoạt động giáo dục mà hoạt động
giáo dục có bản chất là một quá trình nên khi thực hiện công tác QLGD phải
đảm bảo quy luật biện chứng thống nhất với mỗi yêu cầu và điều kiện xã hội.
Hiệu quả của quản lý giáo dục phụ thuộc vào việc tổ chức hợp lý những hoạt
động và giao lưu với người được giáo dục, đảm bảo tính quy luật thống nhất
biện chứng giữa hoạt động giáo dục của nhà giáo dục và hoạt động tự giáo dục
của người được giáo dục. Hiệu quả của quản lý giáo dục phụ thuộc vào sự phù
hợp của mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đối với các đặc điểm của đối
tượng được giáo dục. Quá trình giáo dục diễn ra với những tác động qua lại
phức tạp, nhiều tình huống, nhiều mâu thuẫn nên phải sử dụng các hình thức tổ
chức và biện pháp giáo dục khác nhau.
1.2.3.2. Khái niệm về quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục trong trường phổ thông nói chung và QLGD THPT nói
riêng phải đảm bảo tính nguyên tắc cơ bản đó là nguyên tắc tập trung dân chủ,
nguyên tắc này phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý; đảm
bảo mối quan hệ chặt chẽ và hiệu quả giữa tập trung và dân chủ, càng mở rộng
dân chủ thì yêu cầu tập trung thống nhất càng cao. Tập trung phải dựa trên cơ
sở dân chủ, dân chủ phải được thực hiện trong khuôn khổ tập trung. Nguyên tắc
này phải đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện tuyệt đối của Đảng trong quản lý hoạt
động giáo dục, cụ thể về mục tiêu, biện pháp thực hiện mục tiêu. Trong tổ chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status