Tổ chức và hình thành biểu tượng về tập hợp, số lượng, phép đếm cho trẻ mầm non - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC su' PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIÊU HỌC

NGUYÊN T HỊ THANH THƯ

TỔ CHỨC VÀ HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG
VỀ TẬP HỢP, SỐ LƯỢNG, PHÉP ĐÉM




7

#

7

CHO TRẺ MẦM NON



• • •

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học toán tiểu học
NGUYỄN T HỊ THANH THU

HÀ NỘI, 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC su' PHẠM HÀ NỘI 2

dục tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ, tạo điền kiện thuận lợi
cho em trong suốt quá trình học tập tại nhà trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
Nguyễn Năng Tâm đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá
trình hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cún và làm đề tài không tránh khỏi những thiếu sót
và hạn chế. Em 1'ất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và
các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn ỉ
Hà Nội, tháng 05 năm 2015 Sinh viên

Nguyễn Thị Thanh Thư

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Tổ chức và hình thành


biểu tượng về tập họp, số lượng phép đếm cho trẻ mầm non” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi, có sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn và tham khảo các tài
liệu có liên quan.
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cún của mình không trùng với kết quả của
các tác giả khác.
Neu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, thảng 05 năm 2015 Sinh viên

Nguyễn Thị Thanh Thư
MỤC LỤC


MỞ ĐẦU

Chất lượng giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở mẫu giáo. Đối
với trẻ ở trường Mầm non, hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt đông vui chơi
nhưng không vì thế mà chúng ta sao nhãng việc cung cấp cho trẻ những kiến
thức cơ bản, sớm hình thành cho trẻ khả năng tìm tòi khám phá thế giới xung
quanh, mối quan hệ tự nhiên xã hội qua các môn như: Môi trường xung quanh,
âm nhạc, thể dục, văn học, tạo hình, toán.
Ở trường Mầm non, việc tổ chức và hình thành cho trẻ làm quen với các
biểu tượng toán học có một vai trò to lớn. Quá trình này giúp trẻ làm quen với
thế giới xung quanh, nhận thức được những thuộc tính, đặc điểm của các đồ
vật xung quanh. Nhờ vậy, ở trẻ hình thành biểu tượng toán học sơ đắng như:
biểu tượng về số lượng, con số và phép đếm, biểu tượng về kích thước hình
dạng, vị trí sắp đặt của các vật trong không gian. Những biểu tượng này được
hình thành trong quá trình trẻ tích cực tri giác và thao tác với các đồ vật, đồ
chơi đa dạng. Nhờ vậy mà những khả năng tìm tòi quan sát, thói quen định
hướng thế giới xung quanh của trẻ trở nên sáng tạo hơn trong mọi hoạt động,
thúc đẩy sự phát triển tư duy, phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Trong quá trình nhận thức trẻ sẽ nắm được những kiến thức sơ đắng về
tập họp, con số, phép đếm, kích thước và hình dạng của các vật, trẻ nhận biết
định hướng trong không gian và thời gian, trẻ nắm được phép đếm, phép đo độ
dài của các vật bằng các thước đo ước lệ, biết thiết lập mối quan hệ số lượng
giữa các sự vật hiện tượng xung quanh, đồng thòi phát triển ở trẻ khả năng ước
lượng kích thước các vật..., tất cả đều có tác dụng phát triển tính cảm nhận của
trẻ lên mức độ cao hơn
Quá trình cho trẻ Mầm non làm quen với toán không chỉ nhằm mục đích
giúp trẻ nắm được các mối quan hệ và quan hệ toán học, lĩnh hội được những

6


kiến thức toán học ban đầu và những kỹ năng nhận biết như: kỹ năng đếm, kỹ

Trình bày việc tổ chức và hình thành biểu tượng về tập họp, số lượng và
phép đếm cho trẻ mầm non
Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn và đề suất những giải pháp nhằm
góp phần nâng cao chất lượng dạyhình thành biểu tượng về tập hợp, số lượng,
phép đếm cho trẻ mầm non.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cún: Tổ chức và hình thành biểu tượng về tập họp, số
lượng, phép đếm cho trẻ mầm non.
Phạm vi nghiên cứu: tổ chức và hình thành biểu tượng về tập hợp, số
lượng, phép đếm cho trẻ từ 3 - 6 tuổi
5. Phưo’ng pháp nghiên cứu
Quan sát dự giờ
Nghiên cún tài liệu
Phân tích, kiểm tra
Tổng kết kinh nghiệm
Tìm hiểu nguyên nhân, biện pháp khắc phục
6. Cấu trúc đề tài
Phần 1: Mở đầu Phần
2: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tổ chức và hình thành biểu tượng về tập hợp, số lượng
và phép đếm cho trẻ mầm non
Chưong 3: Thuận lợi, khó khăn và những giải pháp Phần 3: Kết
luận và kiến nghị.
Tài liệu tham khảo

8


NỘI DUNG CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN


Khi bắt đầu nhận biết giới hạn của số nhiều thì trẻ lại nảy sinh nhu cầu
lựa chọn “số nhiều” theo các dấu hiệu bên ngoài: Màu sắc, kích thước, hình
dạng.
Ví dụ: Cô giáo đưa cho trẻ một 1'ổ gồm các hình và yêu cầu trẻ phân loại
thì thường trẻ sẽ phân loại các hình đó theo màu sắc: xanh, đỏ, vàng. Trẻ cứ
xếp mà không quan tâm xem đó là hình gì.
Kích thước các vật và sự bố trí trong không gian cũng ảnh hưởng đến
việc so sánh số nhiều ở trẻ.
Ví dụ: Có 5 chấm tròn và 3 quả cam thì trẻ vẫn coi 3 quả cam nhiều hon
5 chấm tròn.
Vì vậy cần khuyến khích trẻ quan tâm đến số lượng và phép đếm.
Trẻ 3-4 tuổi đã biết gắn mỗi động tác, mỗi vật với một từ giống nhau
“này, này, này,...” hay “nữa, nữa, nữa,...” khi lập tập họp. Trẻ có khả năng đếm
song chưa biết đếm, thể hiện trẻ đã biết gắn mỗi số tự nhiên (bắt đầu từ số 1 )
với một vật nhưng lại không nêu được kết quả của phép đếm.
Ví dụ: Khi cô hỏi “nhà con có bao nhiêu người” trẻ biết trả lời “Bố là 1,
mẹ là 2, chị là 3, cháu là 4”. Cô giáo hỏi “Tất cả là bao nhiêu người” thì trẻ
không trả lời được. Điều đó chứng tỏ trẻ chưa biết khái quát để nêu lên kết quả
của phép đếm.
1.2.

Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo nhõ’ về các biếu tượng

tập họp, số lượng, phép đếm.
Sang tuổi mẫu giáo nhỡ, những biểu tượng về tập hợp của trẻ phát triến
và mở rộng cho nên trẻ hiểu tập họp không phải chỉ là một thể thống nhất và
trọn vẹn có một dấu hiệu mà có thể gồm nhiều phần tử, mỗi phần tử có những
dấu hiệu riêng khác nhau và số lượng có thế không bằng nhau. Trẻ đã có khả
năng phân tích rõ ràng từng phần tử của tập họp, đánh giá độ lớn các tập hợp


tập họp, số lượng và phép đếm.
Trẻ 5 - 6 tuổi có khả năng phân tích từng phần tử của tập hợp tốt hơn, có
thể hình dung được phần tử của tập họp không phải chỉ là từng vật riêng lẻ mà

1
1


có thể là từng nhóm gồm một số vật. Xu hướng đánh giá tập họp về mặt số
lượng của trẻ tốt hơn, không còn chịu ảnh hưởng các yếu tố bên ngoài (màu
sắc, kích thước) hay sự sắp xếp trong không gian.
Trên cơ sở biết so sánh 2 tập hợp hơn kém 1 phần tử bằng thiết lập
tương ứng 1 - 1, trẻ biết đếm trong phạm vi 10, nắm vững thứ tự gọi tên các số.
Trẻ hiểu được 2 ý nghĩa của số: chỉ số lượng và chỉ thứ tự. Đồng thời, trẻ có
khả năng “gọi tên chung” cho các tập họp có số lượng bằng nhau trong phạm
vi 10 bằng các số từ 1 đến 10 và nhận biết được các chữ số đó. Trẻ còn nắm
được thứ tự chặt chẽ giữa các số của dãy số tự nhiên từ 1 đến 10, thấy được
mối quan hệ giữa chúng với nhau. Ở lứa tuổi này, trẻ còn có khả năng đếm các
tập họp với các đơn vị khác nhau, hiểu được thành phần của số từ các đơn vị,
nghĩa là các cháu hiểu rằng đơn vị của số có thể là một nhóm vật chứ không
nhất thiết là từng vật riêng lẻ.
Dưới tác động của dạy học, trẻ mẫu giáo lớn không chỉ biết đếm xuôi
mà còn biết đếm ngược trong phạm vi 10. Trẻ hiểu rằng, mỗi con số không chỉ
được diễn đạt bằng lời nói mà còn có thể viết.
Động tác tay của trẻ hoàn thiện hơn, trẻ có khả năng cầm nắm các vật
bằng các đầu ngón tay. Ngôn ngữ phát triển, vốn từ tăng giúp trẻ có khả năng
hiểu, trả lời được các câu hỏi: “bao nhiêu?, thứ mấy?, cái gì?” và diễn đạt được
kết quả các việc mình đã làm.
1.4.

kiến thức khác nhau, phương pháp hình hành các biểu tượng toán học sơ đẳng
cho trẻ mầm non phải phản ánh vào nhà trường mầm non những kiến thức toán
học sơ đẳng nhất trong những thành tựu của nhân loại, sắp xếp chúng thành
một hệ thống đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm phù hợp với điểu kiện,
hoàn cảnh của đất nước, đáp ứng được những yêu cầu của giáo dục mầm non
nói riêng và giáo dục thế hệ trẻ nói chung.
1.4.3.

Giáo dục học mầm non

Quá trình hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non
là một bộ phận của quá trình giáo dục mầm non nói chung, nó chịu sự chi phối
của những quy luật giáo dục mầm non. Vì vậy phương pháp hình thành các
biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non phải dựa vào mục tiêu, phương
pháp dạy học ở trường mầm non đế xác định vị trí, nhiệm vụ, yêu cầu của việc
hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ trong toàn bộ hệ thống giáo
dục trẻ mầm non. Phương pháp hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng
cho trẻ mầm non phải biết vận dụng những thành tựu nghiên cún lý luận dạy
học mầm non của nước ta và trên thế giới để xác định mục tiêu, nội dung và

1
3


phương pháp dạy học đó phù họp với sự phát triển của khoa học giáo dục mầm
non nói riêng và khoa học giáo dục nói chung
1.4.4.

Tâm lý học mầm non


1
4


đặc điểm phát triển của cơ thể trẻ như: đặc điểm hoạt động của hệ xương, hệ
cơ, hệ tiêu hóa, hệ thần kinh... ở trẻ nhỏ, để xây dựng nội dung, phương pháp,
biện pháp, hình thức dạy học phù họp với những đặc điểm sinh lý của trẻ theo
các lứa tuổi khác nhau.
1.4.7.

Các khoa học khác

Ngoài những ngành khoa học kế trên, phương pháp hình thành các biếu
tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non còn có liên hệ chặt chẽ với nhiều
ngành khoa học khác nữa như: lý thuyết xác suất thống kê toán học. Dựa vào
những kiến thức của các ngành này để tiến hành phân tích, xử lý số liệu thu
được qua quan sát, thực nghiệm...
1.5.

Vai trò, nhiệm vụ của việc tổ chức và hình thành biểu tượng

về tập họp, số lượng, phép đếm cho trẻ mầm non.
1.5.1.

Vai trò

1.5.1.1.

Trong cuộc song hằng ngày


Thực tế cho thấy việc hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mầm
non đã góp phần hình thành và phát triển hoạt động nhận thức cho trẻ,
giúp trẻ chuyển từ tư duy trực quan hành động sang tư duy trực quan
hình tượng rồi đến tư duy logic.

-

Góp phần hình thành khả năng nhận thực thế giới xung quanh và giúp
trẻ tìm được sự liên hệ giữa các biểu tượng toán học với thế giới xung
quanh.

-

Góp phần hình thành và rèn luyện các thao tác tư duy: so sánh, phân
tích, tổng hợp, khái quát hóa.

-

Góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi mầm non.

-

Góp phần phát triển và thúc đẩy các quá trình tâm lý ở trẻ như: trí nhớ,
chú ý, tưởng tượng...

* Góp phần giáo dục đạo đức, thẩm mỹ:
-

Hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mẫu giáo đã góp phần giáo
dục trẻ ý thức tổ chức, kỷ luật, tính kiên trì, biết đoàn kết, giúp đỡ lẫn

-

Biết định hướng không gian về các phía: Trên - dưới, phải - trái, trước sau.

* Chuẩn bị tâm thế cho trẻ
Trường phổ thông và trường mầm non là hai môi trường có chế độ sinh
hoạt, học tập và các mối quan hệ khác nhau khá nhiều. Ở trường mầm non hoạt
động chủ đạo là vui chơi, thời gian một tiết học thường ngắn (25 - 30 phút).
Mối quan hệ giữa cô và trẻ là mối quan hệ “Cô là mẹ và các cháu là con”. Còn
ở phổ thông hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo, thời gian học kéo dài hơn,
mối quan hệ giữa cô và trẻ là mối quan hệ “giáo viên - học sinh”. Trong giờ
học trẻ phải biết thu nhận các yêu cầu của cô giáo và phải độc lập tư duy, tự
tìm ra cách giải quyết các yêu cầu đó trong quá trình học tập. Cả giáo viên và
học sinh phải có trách nhiệm với xã hội, trách nhiệm đó thể hiện ở các điểm số
trẻ đạt được hằng ngày, là kết quả giảng dạy của giáo viên và thu nhận kiến
thức của học sinh. Vì vậy, trong lứa tuổi mầm non, đặc biệt là lóp 5-6 tuổi cô
cần giúp trẻ có ý thức hơn về hành vi của mình, giúp trẻ nhận thấy có trách
nhiệm của mình trong hoạt động học tập, ý nghĩa của kết quả học tập đối với
cuộc sống mỗi trẻ.

1
7


Trong các giờ hình thành các biểu tượng toán cô nên tăng cường các trò
chơi có luật, đặt ra câu hỏi cho các cá nhân, tập thể dưới dạng các bài toán so
sánh, thêm bớt, chia phần... Làm cơ sở để trẻ chuẩn bị học các phép toán cộng
trừ ở lớp 1. Thông qua các trò chơi, các hoạt động giúp trẻ rèn luyện các thói
quen nhanh nhẹn, khẩn trương, gọn gàng, ngăn nắp, có ý thức tổ chức kỷ luật
trong công việc, đồng thời động viên, khích lệ tính độc lập trong tư duy, bồi

Lên hai tuổi, trẻ đã tích lũy được những biểu tượng về số lượng các vật,
các âm thanh, các chuyển động. Trẻ rất thích thú tạo ra số nhiều các vật giống
nhau, trẻ thu vật lại, xếp đặt các vật với nhau, dịch chuyển chúng từ chỗ này
sang chỗ khác, xếp dải chúng ra...

1
8


Trẻ lên ba tuổi, trẻ đã phân biệt được khái niệm: một, nhiều, ít... Trẻ dễ
dàng thực hiện các nhiệm vụ được giao như: mang một quả bóng hay mang
nhiều khối nhựa, trẻ đã có phản ứng với câu hỏi “có bao nhiêu”, một số trẻ đã
sử dụng các từ số: ba ,năm, tám... nhung không ứng chúng với số lượng vật
tương úng qua đó chứng tỏ rằng trẻ đã có những suy nghĩ liên quan len câu hỏi
về số lượng của nhóm vật.
Ở trẻ nhỡ, những biểu tượng tập hợp được phát triển và mở rộng, trẻ có
khả năng nhận biết tập họp ngay cả khi các phần từ của chúng là những vật
không giống nhau. Điều đó chứng tỏ đã có sự phát triển ở trẻ nhỏ có khả năng
nhận biết dấu hiệu chung của tập hợp bất kỳ và bỏ qua những dấu hiệu khác
của chúng
Trẻ mẫu giáo lớn có khả năng phân tích chính xác các phần tử của tập
họp, các tập con trong tập lớn. Trẻ khái quát được một tập lớn gồm nhiều tập
con và ngược lại nhiều tập họp riêng biệt có thể gộp lại với nhau theo một đặc
điểm chung nào đó để tập thành một tập lớn. Khi đánh giá độ lớn của các tập
họp, trẻ mẫu giáo lơn ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như màu sắc, kích thước,
vị trí sắp đặt của các phần tử trong tập họp
CHƯƠNG 2. TỒ CHÚ C VÀ HÌNH THÀNH BIỀU TƯỢNG VÈ
TẬP HỢP, SÓ LƯỢNG, PHÉP ĐẾM CHO TRẺ MẦM NON
2.1.


vật theo dấu hiệu nào đó.
* Dạy trẻ tạo nhóm vật từ các vật riêng rẽ và tách từng vật ra từ một
nhóm vật giống nhau, để trẻ hiểu từng vật, từng vật... Họp lại với nhau
tạo nên một nhóm vật và tù’ nhóm vật ta có thế tách ra từng vật, từng
vật một. Như vậy trẻ nhận biết số lượng “một” và “nhiều” vật hay
nhóm không còn vật nào.
Ví dụ: Cho trẻ quan sát những chú vịt rồi cho mỗi cháu cầm một chú vịt
đi chơi, cho trẻ nói: Mỗi cháu có một chú vịt, trong chuồng không còn chú
vịt nào. Rồi lại cho các cháu mang vịt để vào chuồng cho trẻ nhận xét “mỗi
cháu đã bỏ một chú vịt vào chuồng, chuồng có nhiều vịt, cháu không có chú
vịt nào”
* Dạy trẻ tạo nhóm vật theo dấu hiệu chung
-

Lúc này trẻ đã biết trả lời câu hỏi “bao nhiêu”, “có mấy” và giáo viên
bắt đầu dạy cho trẻ tạo nhóm đồ vật theo các dấu hiệu: màu sắc, kích
thước, hình dạng...

2
0


-

Thao tác:
+ Cô phát cho mỗi trẻ một rổ đựng đồ chơi với các dấu hiệu khác nhau.
+ Cho trẻ quan sát, yêu cầu trẻ chọn trong rổ các đối tượng có dấu

hiệu nào đó.
+ Cô cho trẻ nhận xét

Nhặt tất cả những hình to và hình
nhỏ
riêng ra.

Trẻ tạo được 2 nhóm hình theo kích
thước

Trong khi trẻ thực hiện các yêu cầu của cô, cô cần hướng dẫn trẻ nhặt
hết, chọn hết, chọn tất cả, nhặt tất cả. Và trẻ dùng các từ đó khi nhận xét

2
1


nhóm vật cháu vừa tạo ra như: Cháu chọn tất cả các hình tam giác to.
Trong những tiết đầu giáo viên cho trẻ tạo nhóm đồ vật thường là
đồng nhất về màu sắc, hình dạng, chủng loại. Tiết sau có thể phức tạp dần
lên và trong các tiết luyện tập giáo viên cần cho trẻ thấy có thể tạo nên một
tập họp bất kỳ từ các vật riêng rẽ đồng thời cho trẻ thấy tập hợp không phải
là thể thống nhất, chọn vẹn mà có thể gồm nhiều phần mỗi phần có thể khác
nhau về hình dạng, màu sắc số lượng.
Ví dụ: Cô đưa ra một lọ hoa gồm hoa hồng đỏ và hoa hồng vàng (số
hoa bằng số trẻ và hồng đỏ nhiều hơn hồng vàng). Mỗi trẻ chọn một bông
hoa và trẻ trả lời được là: Mỗi cháu có một bông hoa và trong lọ không còn
bông nào. Cô đố lóp mình biết hoa màu nào nhiều hơn? Đe trả lời được câu
hỏi đó cô cho mỗi cháu có hoa màu đỏ nắm tay một cháu có hoa màu vàng.
Khi đó còn thừa bạn có hoa màu đỏ. Cô cho trẻ quan sát và nhận xét: “Số
hoa màu đỏ nhiều hơn số hoa màu vàng”. Cô cho trẻ kiểm tra bằng cách: các
bạn có hoa màu đỏ xếp thành hàng ngang trước mặt, các bạn có hoa màu
vàng xếp kề xuống phái dưới

Cách tiến hành như sau:
-

Cô đưa ra một hộp đựng nhiều đồ chơi. Trẻ nhận xét: Hộp có rất nhiều
đồ chơi

-

Sau đó, cô cho mỗi cháu lên lấy một đồ chơi mang về cho đến hết, trẻ
nhận xét: mỗi cháu có một đồ chơi, trong hộp không còn đồ chơi nào

-

Cô yêu cầu trẻ tập trung hết đồ chơi lại, nhận xét: mỗi cháu đã bỏ 1 đồ
chơi vào trong hộp, hộp có nhiều đồ chơi, cháu không còn đồ chơi nào

-

Gọi 3 - 4 trẻ lên chơi, nhận xét: mỗi bạn có một đồ chơi, trong lóp có
nhiều đồ chơi, các bạn ở dưới không có đồ chơi nào.
Như vậy trẻ được làm quen với một, nhiều, không có
Bước 3: Dạy trẻ tìm các nhóm vật có số lượng là một và nhiều trong

hoàn cảnh tự nhiên.
Các cháu cùng tìm trong lớp học, ngoài lớp học có cái gì nhiều, cái gì có
một.

2
3




Nhóm nào có số lượng ít hơn, nhóm nào có số lượng nhiều hơn?
Khi trẻ đã thành thạo các bước thì tiết học sau của giáo viên hướng dẫn
trẻ bằng lời nói và không nhất thiết phải làm mẫu. Ví dụ: Đe trẻ biết 2 nhóm
này như thế nào với nhau chúng ta phải làm như thế nào? xếp vật thành hàng
ngang bằng tay nào? xếp như thế nào?
c. Dạy trẻ nhận biết sự khác biệt rõ nét về số lượng các nhóm đối
tượng giữa 2 nhóm đồ vật
Trẻ chưa có khả năng đếm cho nên việc dạy trẻ nhận biết sự khác biệt về
số lượng giữa 2 nhóm đồ vật chủ yếu dựa vào trực giác. Bởi vậy nên sự khác
biệt về số lượng giữa 2 nhóm đồ vật phải thật rõ nét và sự chênh lệch về kích
thước không quá nhiều.
Cô tổ chức hoạt động thực tiễn nào đó sao cho kết quả hoạt động có
được là do sự khác biệt về số lượng giữa 2 nhóm đồ vật. Từ đó, cô dạy trẻ biết
nhóm nào nhiều hơn, nhóm nào ít hơn.
Sau khi trẻ biết được nhóm nào nhiều người hơn, nhóm nào ít hơn qua
hoạt động thực tiễn rồi cô kiểm tra lại bằng cách so sánh số lượng 2 nhóm
bằng biện pháp xếp tương úng 1 - 1 để trẻ nhìn thấy kết quả cụ thể.
Sau khi xếp tương ứng 1 - 1 xong, cô chỉ cho trẻ thấy phân thừa của
nhóm nhiều hơn hoặc phần thiếu của nhóm ít hơn. Từ đó trẻ hiểu từ “nhiều
hơn” - “ ít hơn”.
Sau đó cô cho trẻ luyện tập xác định nhóm nhiều hơn - ít hơn

Số người đội 2 nhiều hơn đội 1 vì có 2 người thừa ra và cô chỉ vào 2 bạn
đó để cho trẻ hiểu rõ. Suy ra trẻ hiểu được nhóm này nhiều hơn vì có phần
thừa ra hoặc nhóm này ít hơn vì thiếu 2 phần.
Sau đó cô cho trẻ luyện tập.

2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status