Xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con cái lứa tuổi thiếu niên - Pdf 31

MỤC LỤC
1. Mở đầu
1.1.

Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

1.2.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.

Lịch sử vấn đề và giả thiết khoa học

1.3.1.

Lịch sử vấn đề

1.3.2.

Vấn đề tồn tại

1.3.3.

Vấn đề nghiên cứu

1.3.4.

Giả thiết khoa học

1.4.

2. 2

Giải pháp

2.2.1. Thỏa hiệp
2.2.3. Hiểu và tôn trọng lẫn nhau
2.2.4. Cùng tìm điểm chung của nhau

2. 3

Kết luận và kiến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Mở đầu
1.1.

Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

Trong xã hội hiện đại, chức năng giáo dục của gia đình vô cùng quan trọng đối
với sự phát triển của một con người. Đó là quá trình gia đình dạy dỗ, rèn luyện để đứa
trẻ từ “con người sinh học” thành “con người xã hội”. Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề
xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con cái là vấn đề nóng bỏng và cần được quan tâm.
Xung đột tâm lý bắt nguồn từ sự khác biệt trong nhận thức giữa cha mẹ và con cái về
cùng một vấn đề. Lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi dễ xảy ra xung đột tâm lý với cha mẹ
nhất. Xung đột tâm lý kéo dài sẽ tạo nên những vết hằn không tốt trong tâm lý con trẻ
về cha mẹ.
Khai thác đề tài này, nhóm thực hiện mong muốn tìm hiểu về thực trạng xung
đột tâm lý giữa cha mẹ và con cái lứa tuổi thiếu niên ở trường Đinh Thiện Lý. Từ đó,

1.3.

Lịch sử vấn đề và giả thiết khoa học

1.3.1. Lịch sử vấn đề
a. Các bài nghiên cứu về xung đột tâm lí

Sau khi đọc và nghiên cứu tài liệu, nhóm nhận thấy khái niệm “xung đột tâm
lí” được đề cập đến khá nhiều trong các công trình tâm lí học. Một số bài viết nghiên
cứu về xung đột tâm lí như:Bài viết “Xung đột tâm lý trong giao tiếp nhóm bạn bè của
học sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Xuân Thức (đăng trên Tạp chí Tâm lí học, số 3
(72), 3-2005) đã chỉ ra nguyên nhân gây ra xung đột trong nhóm bạn bè học sinh tiểu
học và xu hướng giải quyết mâu thuẫn của nhóm học sinh tiểu học. Bài viết “Xử lí
xung đột giữa giáo viên và phụ huynh học sinh từ việc xử phạt học sinh” của Đỗ Quốc
Huy đã đặt ra và giải quyết một tình huống trong thực tiễn giáo dục đó là việc xử phạt
học sinh.
Bên cạnh đó, một số tác giả đã đề cập đến vấn đề xung đột tâm lí giữa các
thành viên trong gia đình: “đó là xung đột về nhận thức, quan điểm, thái độ và những
thói quen hành vi ứng xử trong tổ chức đời sống sinh hoạt của các thành viên ở gia
đình” (Ngô Công Hoàn). Tác giả Lê Đức Phúc trong “Xung đột trong gia đình” đã
đưa ra 5 cấp độ xung đột thường thấy trong cuộc sống hằng ngày: cấp độ cá nhân, cấp
độ cha mẹ, cấp độ cha mẹ - con, cấp độ anh chị em trong gia đình và cấp độ nhiều thế
hệ.
Bên cạnh đó, một số bài báo cũng đề cập đến vấn đề giải quyết xung đột trong
gia đình như: Xung đột tâm lí giữa cha mẹ và trẻ từ 5-11 tuổi. Tuy nhiên, bài báo chỉ

3


lướt qua một số phương pháp giải quyết xung đột mà chưa có căn cứ minh chứng cụ

Đa số học sinh lứa tuổi thiếu niên trường Đinh Thiện Lý và cha mẹ rất ít khi
xảy ra xung đột tâm lí. Bên cạnh đó, tỉ lệ học sinh và cha mẹ thường hay xảy ra xung
đột tâm lí vẫn còn cao. Và đa số họ chưa biết cách giải quyết xung đột tâm lí.
1.4.

Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

1.4.1. Cơ sở lí luận
1.4.1.1.
Xung đột tâm lý
a. Khái niệm “xung đột tâm lý”

Khái niệm “xung đột” được hiểu là sự tương tác, đối đầu công khai trong mối
quan hệ mâu thuẫn giữa hai bên bằng hành vi có thể quan sát được. Đó là “sự va chạm
nhau, mâu thuẫn, đụng độ, chống đối nhau”. Từ điển Tiếng Việt có chỉ ra một số khái
niệm tương tự với “xung đột”, trong đó khái niệm “sự va chạm” thường được các nhà
tâm lý học sử dụng nhiều hơn cả. “Sự va chạm” có ý nghĩa rất rộng, từ những biểu
hiện ở mức độ thấp “sự tranh chấp”, “sự đấu tranh”,… đến mức độ cao và có cường
độ mạnh hơn như “sự đối lập”, “sự đối kháng”, nhưng những biểu hiện này đều có đặc
điểm giống nhau là đều thể hiện sự tương tác, đối đầu công khai trong các mối quan
hệ. Từ điển Xã hội học thì cho rằng: “Xung đột là những mâu thuẫn tranh chấp, giữa
hai hoặc nhiều nhóm cá nhân hay nhóm tổ chức, quốc gia về quyền lợi hoặc giá trị”.
Xung đột tâm lý có thể định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy theo chủ ý
của tác giả muốn nhấn mạnh khía cạnh nào của hiện tượng: nguyên nhân xung đột,
quá trình xung đột, kết quả xung đột, mặt biểu cảm của xung đột. Xung đột tâm lý là
một khái niệm rộng vì vậy khó có thể đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh để thỏa mãn
yêu cầu nghiên cứu xét về nhiều góc độ khác nhau. Nhà tâm lý học L.A.Karpencô cho
rằng: “Xung đột tâm lý là sự va chạm có tính đối kháng của các định hướng, khuynh
hướng không tương hợp nhau về nhận thức ở trong một cá nhân, trong mối quan hệ
liên nhân cách của các cá nhân hay nhóm người có mối liên hệ với những trải nghiệm

triển. Vì vậy, khi mâu thuẫn được hòa giải, tức xung đột được giải quyết thì tâm lý
con người sẽ phát triển theo chiều hướng tích cực hơn.
b. Đặc điểm xung đột tâm lý
6


- Sự khác biệt về nhận thức
Tình huống xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con cái lứa tuổi thiếu niên có thể
xuất hiện khi họ có nhận thức khác nhau đối với những vấn đề khác nhau. Nhận thức
là những kinh nghiệm của cá nhân về thế giới đối tượng xung quanh, là tri thức, ý kiến
hay niềm tin đối với môi trường, đối với bản thân hay hành vi của mình. Do sự hình
thành “cảm giác về sự trưởng thành” và “cảm giác người lớn” nên lứa tuổi thiếu niên
có nhu cầu thoát khỏi sự kiểm soát và bảo trợ của bố mẹ, thoát khỏi những quy tắc và
trật tự cha mẹ đưa ra. Về phía cha mẹ, do thói quen gia trưởng muốn điều khiển và
kiểm soát con, chưa thích ứng và nhận thức được sự thay đổi nhanh chóng về mặt tâm
lý của con.
Sự khác biệt về mặt nhận thức giữa cha mẹ và con được thể hiện qua những
khía cạnh sau:
+ Nhận thức về hình thức bên ngoài của con
Đối với lứa tuổi thiếu niên, ý thức về hình thức bên ngoài là một nhân tố quan
trọng của tự ý thức về bản thân, muốn tự quyết định cách ăn mặc, kiểu tóc, dáng đi để
chứng tỏ bản thân. Con không còn phụ thuộc vào cha mẹ và tự muốn quyết định cách
ăn mặc của mình dẫn đến việc cha mẹ bắt đầu chê trách con về hình thức bên ngoài,
về kiểu quần áo, đầu tóc và do đó xảy ra xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi
thiếu niên.
+ Nhận thức về sử dụng thời gian của con
Lứa tuổi thiếu niên hay cảm thấy bị gò bó bởi những quy định về thời gian của
cha mẹ, là lứa tuổi mà sự phát triển của cảm giác “đã lớn” giúp con ý thức được về
quyền của mình. Từ đó, không muốn thực hiện giờ giấc sinh hoạt theo đúng quy định
của cha mẹ nữa. Do bị cha mẹ thúc ép về giờ giấc, đứa con có những biểu hiện không

muốn biết một cái gì đó và làm việc đó một cách thực sự, đồng thời các em muốn tự
mình xây dựng kế hoạch cho tương lai. Đối với cha mẹ, việc học hành của con chiếm
vị trí số một trong tất cả những mối quan tâm của họ. Cha mẹ tìm mọi cách khuyến
khích, động viên hoặc trách phạt nặng nề nếu con không nghe theo yêu cầu của họ.
8


- Cha mẹ có thái độ coi nhẹ khả năng độc lập của con
Thái độ của cha mẹ đối với con thường được thể hiện ở những khía cạnh như
đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thói quen hành vi… Lứa tuổi thiếu niên không còn thái độ
an phận coi mình là trẻ con mà xu hướng muốn vươn lên thành người lớn được thể
hiện rất rõ rệt. Thái độ coi nhẹ khả năng độc lập của con xảy ra ở con sự phản đối
dưới dạng những kiểu bướng bỉnh và chống đối khác nhau.
c. Các giai đoạn xung đột tâm lý

d. Những biểu hiện của xung đột tâm lý

9


e. Những nhân tố ảnh hưởng đến xung đột tâm lý
❖ Những nhân tố thuộc về phía con

- Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi thiếu niên
Lứa tuổi thiếu niên là giai đoạn tuổi mà nét đặc trưng của nó là sự phát triển
mạnh mẽ của cơ thể, sự chín muồi về giới tính và sự cân bằng bị phá vỡ do ảnh hưởng
của dậy thì. Do đó, tuổi thiếu niên thường hay bị ức chế, uể oải và thờ ơ. Một số khác
trở nên cáu kỉnh, mất bình tĩnh, bắt đầu vi phạm kỉ luật, đôi khi mắc những hành vi
hoàn toàn không phải là bản chất của chúng.
- Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi thiếu niên

không được phép làm). Đôi khi những khám phá này đi quá đà như thử hút thuốc lá,
uống rượu, sử dụng các chất gây nghiện,…
❖ Những nhân tố thuộc về phía cha mẹ

- Đặc điểm nghề nghiệp của cha mẹ: Cha mẹ phải dành phần lớn thời gian cho công
việc xã hội nhiều hơn việc quan tâm đến con. Do đó, khi có xung đột với con, cha mẹ
bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố chủ quan của chính bản thân mình mà họ không nhận
biết, đó là sự mệt mỏi của cha mẹ ở nơi làm việc, thời gian cha mẹ gần gũi con hạn
chế và cả uy tín của cha mẹ đối với con.
- Khả năng tiếp nhận cái mới chậm hơn con: Trong nhận thức, cha mẹ thường
không dễ dàng chấp nhận những cái mới nhưng con rất dễ chấp nhận và bắt chước. Sự
khác biệt này đã trở thành nguyên nhân gây ra xung đột giữa cha mẹ và con, khi cha
mẹ ngăn cản, không cho con được thoả mãn nhu cầu độc lập của chúng.
- Nghiêm khắc với con: Trong nhận thức của nhiều cha mẹ, con họ lúc nào cũng còn
nhỏ và cần phải dạy dỗ nhiều điều thì mới “nên người”, do đó họ có thái độ giáo dục
con rất nghiêm khắc, coi nhẹ đặc điểm phát triển tâm lý và nhu cầu độc lập của con.
Cha mẹ thường hay quát mắng, đánh đập con khi con không vâng lời. Chính cách giáo
dục nghiêm khắc này đã không còn phù hợp với con ở lứa tuổi thiếu niên và vì vậy là
nguyên nhân gây ra nhiều xung đột của con với cha mẹ.

11


- Thiếu kinh nghiệm nuôi dạy con: Cha mẹ thiếu kinh nghiệm thường là người gây
ra xung đột với con vì nhiều lý do. Việc nuôi dạy con đòi hỏi cha mẹ phải có những
kiến thức và kinh nghiệm nuôi dạy con nhất định. Khi con bước vào lứa tuổi tiếu niên
thì nhiệm vụ của cha mẹ là thay đổi cách ứng xử với con, giảm bớt sự kiểm soát và
xây dựng những quy tắc mới của gia đình cho phù hợp với sự phát triển tâm lý và nhu
cầu độc lập của con.
❖ Nhân tố gia đình

nếu sự phát triển được định hướng đúng, được tạo thuận lợi thì các em sẽ trở thành
công dân tốt. Ngược lại, nếu không được định hướng đúng, bị tác động bởi yếu tố tiêu
cực thì sẽ xuất hiện hàng loạt các nguy cơ dẫn đến việc trẻ em đứng bên bờ của sự
phát triển lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân cách.
Thứ hai, thời kỳ này tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh mẽ,
đặc biệt trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng,
trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương lai của mình và
những hành động cá nhân tương ứng.
Thứ ba, trong suốt thời kỳ thiếu niên đều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ lại, hình
thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lý, về hoạt động, tương tác xã hội và tâm lý,
nhân cách, xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành. Từ đó, hình thành cơ sở
nền tảng và vạch chiều hướng cho sự trưởng thành thực thụ của cá nhân, tạo nên đặc
thù riêng của lứa tuổi.
Thứ tư, tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn trong
quá trình phát triển. Ngay các tên gọi của thời kỳ này: thời kỳ “quá độ”, “tuổi khó
khăn”, “tuổi khủng hoảng”… đã nói lên tính phức tạp và quan trọng của những quá
trình phát triển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên. Sự phức tạp thể hiện qua tính hai mặt
của hoàn cảnh phát triển của trẻ. Một mặt có những yếu tố thúc đẩy phát triển tính
cách của người lớn. Mặt khác, hoàn cảnh sống của các em có những yếu tố kìm hãm
sự phát triển tính người lớn: phần lớn thời gian các em bận rộn, ít có nghĩa vụ với gia
đình; nhiều bậc phụ huynh quá chăm sóc trẻ, không để các em phải chăm lo cho việc
gia đình.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu
-

Phương pháp khảo sát, thống kê:

+ Đối tượng: học sinh khối 7-8-9 trường Đinh Thiện Lý
13


1

Ngày hoàn Công việc thực

Người phụ trách

hiện

thành

hiện

13/8/2014

13/8/2014

-Gặp gỡ, trao đổi,

Tú Anh, Thiên

xác định hướng

Hà, cô My

nghiên cứu.
14

Kết quả

Ghi chú

tượng, phạm vi,
lịch sử vấn đề và
phương pháp
nghiên cứu.
4

1/9/2014

5/9/2014

- Thiết kế phiếu

Tú Anh, Thiên Hà

khảo sát.
- Gửi phiếu khảo

Cô My

sát cho chuyên gia
tâm lý thẩm định
5

5/9/2014

7/9/2014

- Chỉnh sửa và
hoàn thiện phiếu
khảo sát.

15


+ Đếm phiếu

tuần, ở lại

+ Tính phần trăm,

trường trễ

làm các bảng số

để thống kê

liệu

số liệu

+ Thống kê, phân
tích kết quả khảo
sát
- Thiết kế ppt cho
vòng sơ khảo.
8

25/9/2014

26/9/2014


- Phân tích

Thiên Hà, Tú Anh

nguyên nhân dẫn
đến xung đột
12

6/10/2014

12/10/2014 - Xây dựng giải
pháp cho học sinh

Tú Anh, Thiên


và phụ huynh
13

13/10/2014 26/10/2014 - Viết bài luận

Tú Anh, Thiên Hà

14

27/10/2014 2/11/2014

Tú Anh, Thiên Hà

- In bài, đọc –

Nữ (262 hs)
Số lượng

%

hs)

Nam (238 hs)
Số lượng

%

(hs)

Tổng (500 hs)
Số lượng

%

(hs)

Mẹ

166

63

102

43


27

Qua hai biểu đồ này, ta thấy được con gái có tỉ lệ xung đột với mẹ nhiều hơn
con trai và chiếm phần lớn (63%). Con trai tuy tỉ lệ xung đột với mẹ nhiều hơn (43%)
17


nhưng vẫn có phần đồng đều hơn con gái. Tỉ lệ xung đột với cha của con trai cũng
nhiều hơn. Qua đó, ta thấy có sự khác nhau về mực độ xung đột theo giới tính. Cùng
giới thì con gái và mẹ có nhiều xung đột hơn cũng như con trai và cha.

Tổng quát, tỉ lệ con cái xảy ra xung đột với mẹ là nhiều nhất, chiếm 54%. Mẹ
luôn thể hiện sự quan tâm, lo lắng của mình nhiều hơn cha. Điều đó có thể khiến phần
lớn
con
cái
cảm
thấy

không thích, khó chịu về điều này. Người mẹ thường có những cuộc nói chuyện với
đồng nghiệp, bạn bè,… thường thì họ sẽ nói về con cái của bản thân, sau khi nghe
được những gì con của người khác đã đạt được, người mẹ thường đặt ra những tiêu
chuẩn cao hơn với khả năng của con cái mình vì thấy con người ta đã làm được nên
con mình cũng có thể. Đa số người mẹ sẽ so sánh con cái của chính mình với con cái
người khác, điều này là điều con cái vô cùng khó chịu.

18




17

Thình thoảng

85

38

153

55

238

48

Hiếm khi

104

47

67

24

171

34

Thường xuyên

Nguyên nhân

SL

%

SL

%

SL

%

Quản lý thời gian

120

24%

155

31%

225

45%


200

40%

150

30%

150

30%

Ứng xử

175

35%

175

35%

150

30%

20


BIỂU ĐỔ THỂ HIỆN MỨC ĐỘ XẢY RA XUNG ĐỘT



Im lặng và ấm ức lên đến 322/500. Đa số con cái đều cố gắng im lặng cho qua chuyện
nhưng nỗi ấm ức về những gì cha mẹ nói sẽ còn dai dẳng trong lòng.

Đến 212/300 cha mẹ nghĩ rằng mình đã nhẹ nhàng khi xảy ra xung đột với
con. Nhưng tại sao con cái vẫn im lặng và cảm thấy ấm ức vì điều đó? Qua đó ta thấy
được rằng đa số phụ huynh không có đánh giá đúng về việc mình đã làm khi xung đột
đang diễn ra với con của mình. Hoặc có thể họ đã mong muốn và cố gắng đối xử với
con thật nhẹ nhàng khi xung đột xảy ra nhưng khi xung đột thật sự diễn ra, thật sự có
bao nhiêu phụ huynh kiềm chế được cơn giận vì sự cứng đầu của con mình.
Có 90/300 cha mẹ thừa nhận rằng đã không kìm chế được mà giận giữ, la
mắng con. Và chỉ có 1/300 cha mẹ chiều theo ý con. Tùy theo trường hợp mà điều đó
là tốt hay xấu. Nhưng thật sự rất ít cha mẹ nghe theo ý kiến con của mình vì phần lớn
luôn có một suy nghĩ rằng con mình còn nhỏ nên mình nói gì nó phải hoàn toàn nghe
theo. Điều đó làm con trẻ hình thành nên một tâm lí rằng không nên nói cho cha mẹ
24


nghe những chuyện mình nghĩ hoặc những việc mình làm vì nghĩ cha mẹ sẽ không
đồng ý cũng như cấm đoán. Nó đã gần gần kéo rộng khoảng cách của con và cha mẹ.
2.1.5. Người khơi mào xung đột
Mẹ
Từ phía HS

Cha

Cả cha và mẹ

Con


32

72

24

45

15

63

21

120

40

(500)
Từ phía PH
(300)

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN PHẦN TRĂM NGƯỜI KHƠI MÀO THEO HƯỚNG
NHÌN CỦA CHA MẸ VÀ CON

Qua biểu đồ ta thấy được sự khác nhau về tỉ lệ người khơi mào xung đột qua
nhận định của cha mẹ và con.
Nhìn tổng quát, con cho rằng cha mẹ khơi mào xung đột nhiều hơn mình và
cha mẹ lại cho rằng con khơi mào xung đột nhiều hơn. Điều này nói lên việc cả hai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status