nhận xét về các bất thường giải phẫu động mạch vành trên chụp cắt lớp vi tính hai nguồn năng lượng - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh động mạch vành (ĐMV) là bệnh thường gặp và là nguyên nhân
chính gây tử vong cho các bệnh nhân tim mạch ở các nước phát triển [1].
Theo ước tính, ở Mỹ có khoảng 7 triệu người bị bệnh ĐMV và hàng năm có
thêm 350.000 người bị đau thắt ngực mới [2]. Ngoài các nhóm bệnh lý xơ
vữa mạch vành, phình mạch vành, thông động mạch vành với các hệ thống
mạch khác thì bất thường giải phẫu động mạch vành cũng là một trong những
nhóm nguyên nhân được đề cập tới tuy với tần suất ít gặp hơn. Bất thường
mạch vành có thể gây nên các triệu chứng từ đau ngực, khó thở, ngất và trong
một số trường hợp rối loạn huyết động nặng có thể gây đột tử do tim. Trong
vài thập kỷ trước đây, việc chẩn đoán bất thường giải phẫu động mạch vành
dựa trên chụp động mạch vành qui ước. Tuy nhiên, kỹ thuật này có hạn chế
do đây là một kỹ thuật xâm lấn, ngoài ra cũng có hạn chế đánh giá mối liên
quan giữa động mạch vành và các cấu trúc lân cận. Gần đây với sự ra đời của
các thế hệ máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy với độ phân giải thời gian và không
gian cao giúp đánh giá được các mạch có khẩu kính nhỏ và di động nhiều như
động mạch vành. Đây là kỹ thuật không xâm lấn giúp đánh giá chính xác các
bất thường giải phẫu mạch vành về gốc xuất phát, đường đi cũng như đoạn
tận. Theo nhiều nghiên cứu các tác giả thế giới kết luận, chụp cắt lớp vi tính
64 dãy là biện pháp tốt hơn chụp động mạch vành qui ước trong đánh giá các
bất thường giải phẫu gốc xuất phát và đoạn gần của động mạch vành [17, 18].
Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về vai trò của CLVT đa dãy trong chẩn
đoán bất thường giải phẫu mạch vành. Chụp CLVT 64 dãy trong đánh giá
bệnh lý hẹp ĐMV nói chung và trong đánh giá bất thường giải phẫu mạch
vành còn tồn tại một số nhược điểm như bệnh nhân bắt buộc phải sử dụng
thuốc hạ nhịp tim trước chụp, thời gian khảo sát dài, không chụp được trong


2


TỔNG QUAN
1.1. GIẢI PHẪU HỆ ĐỘNG MẠCH VÀNH [6-10]
Tim được cấp máu bởi hai ĐMV: ĐMV phải và ĐMV trái. Hai động
mạch này tạo thành một hệ thống riêng không tiếp nối với các nhánh của các
động mạch khác.

Hình 1.1. Giải phẫu hệ thống động mạch vành [1]
1.1.1. Động mạch vành phải (Right coronary artery-RCA)
Tách từ động mạch chủ ngay trên bờ bám của van bán nguyệt phải vào
lỗ động mạch chủ.
Từ nguyên uỷ, đầu tiên động mạch chạy ra trước sang bên phải giữa
thân động mạch phổi và tiểu nhĩ phải rồi chạy xuống dưới sang phải trong
phần phải của rãnh vành xuống mặt hoành. Từ đây động mạch chạy sang trái,
tới gần rãnh liên thất sau, tiếp nối với động mạch vành trái và tận hết bởi
nhánh liên thất sau (right posterior descending), chạy trong rãnh liên thất sau
tới mỏm tim tiếp nối với nhánh liên thất trước (nhánh của động mạch vành


4

trái). Nhánh liên thất sau cho các nhánh vách gian thất cấp máu cho 1/3 sau
vách gian thất.
Động mạch vành phải chia thành các nhánh:
+ Các nhánh nhĩ và thất.
+ Nhánh nón.
+ Nhánh nút xoang nhĩ.
+ Các nhánh tâm nhĩ.
+ Nhánh nhĩ trung gian.
+ Nhánh nút nhĩ thất.

thất sau và nhánh sau thất trái. Hoặc chia theo thành ba đoạn gần - giữa - xa
theo chiều cong chữ C của động mạch.

Hình 1.2. Giải phẫu hệ động mạch vành phải [11]
Động mạch vành trái:
Thân chung (Left main): tách từ bờ trái xoang vành, dài khoảng 1,5 cm,
đường kính không thay đổi, chia thành hai nhánh: động mạch liên thất trước
(LAD) và động mạch mũ (LCX), một số trường hợp còn tách thêm nhánh
phân giác (Ramus).
Động mạch liên thất trước (LAD): cho nhánh đầu tiên là nhánh chéo 1


6

(Diagonal1-D1) cấp máu cho bờ tự do thất trái, đây là đoạn gần, sau đó cho
các nhánh gian thất cấp máu cho vách gian thất trước, từ nhánh chéo 1 (D1)
đến nhánh chéo 2 (D2) là đoạn giữa, sau đó là đoạn xa.
Động mạch mũ (LCX): cho các nhánh bờ (OM), từ chỗ xuất phát đến
nhánh bờ 1 (OM1) là đoạn gần, từ nhánh bờ 1 (OM1) đến nhánh bờ 2 (OM2)
là đoạn giữa, sau đó là đoạn xa.

Hình 1.3. Giải phẫu hệ động mạch vành trái [11]
1.1.3. Hiện tượng ưu thế (Dominant) [6,7]
ĐMV nào tách ra nhánh xuống sau (PDA) và nhánh sau thất trái thì
được gọi là động mạch ưu thế.
- Ưu thế động mạch vành phải: Chiếm 80% các trường hợp.
- Ưu thế động mạch vành trái: Chiếm 10% các trường hợp. Động mạch
gian thất sau và/ hoặc nhánh sau thất trái xuất phát từ động mạch mũ. Lúc
này, ĐMV trái cấp máu cho toàn bộ thất trái. ĐMV phải thường nhỏ hơn
ĐMV trái.

- ĐM vành phải ( right coronary artery- RCA)
1. Đoạn gần (proximal – RCA) là đoạn mạch từ lỗ xuất phát ĐMV
phải đến chỗ phân chia nhánh bờ nhọn thứ nhất.
2. Đoạn giữa (middle-RCA) là đoạn mạch từ chỗ phân chia nhánh bờ
nhọn thứ nhất đến chỗ phân chia nhánh bờ nhọn thứ ba.
3. Đoạn xa (distal-RCA) là đoạn ĐM từ sau vị trí chia nhánh bờ nhọn
đến chỗ phân chia nhánh ĐM liên thất sau.
4. ĐM liên thất sau hay xuống sau (posterior descending artery –
PDA) là đoạn ĐM tách ra từ ĐM vành phải (trong trường hợp ưu
thế phải) hoặc ĐMV trái (trong trường hợp ưu thế trái) chạy trong
rãnh liên thất sau.
5. Thân chung ĐMV trái (LM- left main) là nhánh ĐM tách ra từ
xoang vành trái chạy ra trước sang trái, nằm giữa thân ĐM phổi và
tiểu nhĩ trái, thường chạy tới rãnh vành thì chia thành hai nhánh.
- ĐM xuống trước trái hay còn gọi là ĐM liên thất trước (Left
anterior descending – LAD) là một nhánh tách ra từ thân chung
ĐMV trái chạy trong rãnh liên thất trước tới mỏm tim
6. Đoạn gần ( Proximal - LAD) là đoạn ĐM đi từ thân chung ĐMV
trái đến chỗ phân chia nhánh vách thứ nhất ( là nhánh đầu tiên tách
ra từ ĐM liên thất trước chạy xuyên vào trong vách liên thất).
7. Đoạn giữa (Middle - LAD) là nửa trên của đoạn ĐM đi từ nhánh
vách thứ nhất đến ngang vị trí chia nhánh vách thứ hai.
8. Nhánh chéo thứ nhất (First diagonal – D1) là nhánh mạch đầu tiên
tách ra từ ĐM liên thất trước chạy sang thất trái, hợp với thân một
góc nhọn.
9. Nhánh chéo thứ hai (Second diagonal – D2) là nhánh mạch thứ hai
tách ra từ ĐM liên thất trước chạy sang thất trái, hợp với thân một
góc nhọn.
10. Đoạn xa (Distal – LAD) là đoạn ĐM đi từ nhánh vách thứ hai đến
kết thúc nhánh ĐM liên thất trước.

17 nhánh, đoạn chính và các nhánh không hằng định theo sơ đồ sau.


10

Hình 1.5. Sơ đồ 17 nhánh ĐMV [12]
Trong đó, ĐMV phải (RCA) cũng được phân thành ba đoạn gần, giữa
và đoạn xa như trên, nhánh động mạch liên thất sau (PDA) và thêm nhánh
thất trái sau ( Posterior left ventricular branch) là nhánh tách từ đoạn xa RCA
ở vùng điểm chạy sang trái nuôi dưỡng cho mặt hoành thất trái (nhánh số 4
trên sơ đồ hình 1.5)
Ngoài ra ĐMV phải còn cho các nhánh không hằng định khác
- Nhánh nón ĐM (conus branch-CB) là nhánh tách ra từ ĐMV phải
hay ĐM liên thất trước chạy đến nuôi dưỡng cho nón ĐM phổi.
- Nhánh nút xoang nhĩ (sinus-atrial nodal branch) là nhánh ĐM tách
ra từ ĐMV phải hay ĐM mũ đến nuôi dưỡng cho hai tâm nhĩ và nút
nhĩ xoang.
- Các nhánh vào trước và sau thất phải, nhánh trước và sau nhĩ phải,
đồng thời còn cho các nhánh vào thất trái và nhĩ trái.
Động mạch vành trái (LM) cũng chia thành ĐM liên thất trước và ĐM
mũ, các ĐM này cũng phân thành ba đoạn gần, giữa và xa như trên; ngoài ra
thêm nhánh phân giác hay nhánh trung gian (ramus intermedius branch -RI) là


11

nhánh tách ra từ thân chung ĐM vành trái giữa ĐM liên thất trước và ĐM mũ
(nhánh số 17 trên sơ đồ hình 1.5).
1.2. BẤT THƯỜNG GIẢI PHẪU HỆ ĐỘNG MẠCH VÀNH
[13,14,15,17,19]

2 đến 4

Vị trí

Xoang vành phải và trái

Hướng đoạn gần

450 đến 900 từ thành ĐM chủ

Thân chung

Chỉ ở bên trái (LAD và LCX)

Đoạn gần

Thẳng hướng, từ gốc tới đoạn tận

Đoạn giữa

Ngoài cơ tim (dưới thượng tâm mạc)

Các nhánh

Tương ứng với vùng cơ tim

Vùng chi phối liên quan

RCA (bờ tự do thất phải), LAD
(trước vách), OM (bờ tự do thất trái).

o Dò động mạch vành ( coronary artery fistula).
o Bất thường về tuần hoàn bàng hệ (vòng nối): nối thông hệ
động mạch vành và hệ thống động mạch khác ngoài tim như
động mạch phế quản, vú trong, màng tim, trung thất trước…
Một số tác giả khác lại phân chia bất thường giải phẫu hệ thống động
mạch vành thành hai nhóm là bất thường giải phẫu có nguy cơ và bất thường
giải phẫu lành tính hay không có nguy cơ [17]; việc phân chia này dựa vào
các bất thường giải phẫu có nguy cơ có thể gây rối loạn huyết động thực sự
dẫn đến khả năng có thiếu máu cơ tim hoặc đột tử do tim. Các bất thường này
bao gồm: xuất phát bất thường của ĐMV từ ĐM phổi; xuất phát ĐMV từ bên
đối diện như RCA xuất phát từ xoang vành trái, LM xuất phát từ xoang vành
phải, đoạn đầu đi kẹp giữa ĐM chủ và ĐM phổi (interarterial course); cầu cơ
động mạch vành và dò vành.
1.2.1. Bất thường lỗ xuất phát [17]
1.2.1.1. Xuất phát cao (high take off): xuất phát cao của RCA hoặc LM
phía trên xoang vành, tại vị trí trên điểm nối giữa phần xoang vành và phần
ống của ĐM chủ lên. Bất thường này ở cả RCA và LM chiếm khoảng 6%
trường hợp chụp ĐMV ở người lớn [48]. Xuất phát cao thường không gây
triệu chứng, nhưng nó có thể gây khó khăn cho việc chụp ĐMV qui ước trong
trường hợp nghi ngờ có tổn thương ĐMV, trong đó RCA xuất phát cao và
lệch sang trái nằm phía trên xoang vành trái thường gây ra khó khăn lớn cho
việc đưa ống thông để chụp ĐMV.
1.2.1.2. Nhiều lỗ xuất phát (multiple ostia) : có thể LAD và LCX xuất
phát riêng lỗ từ xoang vành trái không có thân chung; hoặc nhánh xoang vành
(conus branch) xuất phát trực tiếp từ xoang vành phải riêng lỗ với RCA. Cũng
tương tự như bất thường xuất phát cao, bất thường này thường gây khó khăn


14


Trong loại bất thường này, lỗ ĐMV có thể ở vị trí bình thường hoặc xuất phát
cao hoặc thấp. ĐMV xuất phát bất thường từ bên đối diện hoặc xoang không
vành có thể có bốn hướng đi chính tùy thuộc theo mối quan hệ giải phẫu với
ĐM chủ hoặc ĐM phổi bao gồm: (a) đi kẹp giữa ĐM chủ và ĐM phổi, (b) sau
ĐM chủ, (c) trước ĐM phổi, (d) dưới van ĐM phổi, đi dọc theo đường ra thất
phải. Trong các bất thường hướng đi trên thì ĐM vành xuất phát bất thường
và đi kẹp giữa ĐM chủ và ĐM phổi là bất thường có nguy cơ, có thể gây đột
tử; các bất thường còn lại là bất thường lành tính. Khi ĐM chủ giãn xuất hiện
trong gắng sức, bất thường xuất phát ĐM vành phải từ xoang vành trái với
góc xuất phát bị gập góc sẽ trở nên hẹp nhiều hơn có thể làm giảm cung lượng
vành ở phía xa gây thiếu máu cơ tim. ĐM vành trái xuất phát từ xoang vành
phải với đoạn xuất phát đi giữa hai đại ĐM chiếm khoảng 75% các trường
hợp và bất thường này cũng có nguy cơ gây đột tử do lỗ xuất phát gập góc đột
ngột, đoạn đi trong cơ bị kéo dài và bị chèn ép bởi rãnh giữa xoang vành phải
và xoang vành trái. Động mạch mũ (LCX) và liên thất trước (LAD) có thể
xuất phát từ xoang vành phải. Phần lớn các trường hợp LCX xuất phát từ
xoang vành phải đều có hướng đi phía sau của ĐM chủ (retroaortic course),
đây là bất thường không có nguy cơ. LAD xuất phát từ xoang vành phải
thường phối hợp với các bệnh lý tim bẩm sinh như tứ chứng Fallot, thất phải
hai đường ra, hoán vị đại động mạch; rất hiếm gặp LAD xuất phát từ xoang
vành phải ở các trường hợp tim bình thường. Có thể gặp bất thường đi kẹp
giữa hai đại động mạch hoặc đi phía trước ĐM phổi. Có thể gặp trường hợp
RCA hoặc LM xuất phát từ xoang không vành, tuy nhiên bất thường này rất
hiếm gặp ở các trường hợp tim bình thường, bất thường này thường phối hợp
với hoán vị đại động mạch.


16

Hình 1.6. Động mạch vành trái xuất phát bất thường từ xoang vành phải

compression). Chụp cắt lớp vi tính đa dãy cho phép thấy rõ đoạn đi vào cơ
tim của động mạch mà không thấy được trên chụp ĐMV qui ước, cũng như
giúp đo được chiều dài và bề dày của cầu cơ [17]. Nghiên cứu của tác giả
Pyung Jin Kim và cộng sự [20] trên 300 bệnh nhân được chụp MDCT 64 dãy
và chụp ĐMV xâm nhập cho thấy tần suất của cầu cơ ĐMV là 58% và chụp
ĐMV xâm nhập chẩn đoán cầu cơ dựa vào dấu hiệu chèn ép động học ở thì
tâm thu là 13,3%. Cầu cơ ĐMV được chia làm hai loại là cầu cơ hoàn toàn
(full encasement) và cầu cơ không hoàn toàn (partial encasement) với tiêu
chuẩn cầu cơ như sơ đồ minh họa bên dưới. Tác giả kết luận, dấu hiệu chèn
ép động học thấy được trong hầu hết (97,5% trường hợp) có cầu cơ hoàn toàn
ở động mạch liên thất trước. Tác giả cũng kết luận hạn chế của nghiên cứu là
chưa có chuẩn vàng trong chẩn đoán cầu cơ ĐMV là giải phẫu bệnh, tuy
nhiên tác giả cũng đưa ra nhận định tỷ lệ cầu cơ trong nghiên cứu là 58%
tương tự với tỷ lệ 54-88% cầu cơ ĐMV trên giải phẫu bệnh, cao hơn nhiều so
với tỷ lệ cầu cơ trên chụp ĐMV qui ước.


18

Hình 1.7. Phân loại cầu cơ.
A, Hình vẽ. B, Hình cắt ngang chụp
CLVT động mạch vành vuông góc
với trục dài của LAD (vị trí trung tâm
của hình) chỉ ra vị trí của LAD (nốt
trắng) chạy bình thường trong lớp
thượng tâm mạc, xa vị trí rãnh liên
thất (hình ngoài cùng bên trái). Cầu


không


(45%), nhĩ phải (25%), động mạch phổi (15%). Đích đến là buồng tim trái
hiếm gặp hơn chỉ chiếm khoảng dưới 10% trường hợp. Đối với dò vào buồng
tim phải, rối loạn huyết động sẽ tương tự như trường hợp shunt trái – phải;
còn trong trường hợp dò vào buồng tim trái rối loạn huyết động sẽ tương tự
như hở chủ. Tưới máu cơ tim có thể bị giảm tại vùng cơ tim được cấp máu
bởi nhánh động mạch vành dò bất thường do hiện tượng cướp máu [17].
1.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BẤT THƯỜNG GIẢI PHẪU
HỆ ĐỘNG MẠCH VÀNH
1.3.1. Chụp động mạch vành quy ước (conventional coronary arteryCCA) [2,6, 9,18]
Hiện nay chụp ĐMV quy ước vẫn là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác
định có hẹp hay không hẹp ĐMV [2,6,9]. Tuy nhiên trong đánh giá các bất
thường giải phẫu mạch vành đặc biệt là các bất thường giải phẫu gốc xuất
phát và đoạn gần thì chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MDCT) lại có ưu thế hơn so
với chụp động mạch vành qui ước do việc tái tạo hình ảnh đa thể tích giúp
đánh giá tốt hơn tương quan của hệ động mạch vành với các cấu trúc giải
phẫu lân cận. Một nghiên cứu của Shi và cộng sự [18] trên hệ thống máy chụp
CLVT 16 dãy đã chỉ ra chụp động mạch vành quy ước chỉ đánh giá chính xác
53% các trường hợp bất thường giải phẫu hệ thống động mạch vành.
1.3.2. Chụp cộng hưởng từ [6,9]
Với sự phát triển ngày càng nhanh của các thế hệ máy CHT với từ lực
cao, có phần mềm khảo sát tim mạch, giúp đánh giá sâu hơn các cấu trúc
buồng tim, cơ tim, van tim và động mạch vành. Hiện tại, phần lớn các ứng
dụng của cộng hưởng từ tim là trong đánh giá tưới máu và sống còn cơ tim.
Khảo sát hệ thống động mạch vành trên CHT chỉ chiếm một phần nhỏ, chủ
yếu là đánh giá các bất thường gốc xuất phát ĐMV cũng như tình trạng hẹp


20



chẩn đoán trong khoảng dao động nhịp tim rộng, tuy nhiên nhịp tim càng cao
thì chất lượng ảnh càng giảm. Nghiên cứu của Sebastien Leschka và cộng sự
trên máy 64-MDCT năm 2008 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về
chất lượng hình ảnh và giá trị chẩn đoán giữa nhóm bệnh nhân nhịp tim < 60
chu kỳ/phút và nhóm bệnh nhân nhịp tim ≥ 60 chu kỳ/phút [25]. Phần lớn các
tác giả đều cho rằng nhịp tim phải < 65 chu kỳ/phút mới cho chất lượng hình
ảnh đủ để chẩn đoán. Để có thể đạt được nhịp tim thấp như mong muốn, đòi
hỏi bệnh nhân có nhịp tim cao phải dùng thuốc hạ nhịp tim β-blocker trước
khi chụp, đây chính là hạn chế lớn nhất của chụp ĐMV bằng 64- MDCT. Vì
vậy, không thể chụp được với các trường hợp nhịp tim cao mà có chống chỉ
định với thuốc hạ nhịp tim β-blocker, các trường hợp nhịp tim vẫn cao (> 70
chu kỳ/phút) sau khi dùng đủ liều thuốc hạ nhịp, nhịp tim không đều, loạn
nhịp, bệnh nhân không nín thở tốt (người lớn tuổi, trẻ em).
- Do thời gian quay của bóng dài (330 mili giây), độ phân giải thời gian
dài (165-200 mili giây), bước chuyển bàn chậm (Pitch 0,2), vì vậy thời gian
khảo sát dài từ 8 đến 10 chuyển đạo của tim, thời gian nín thở khá dài khoảng
từ 8 đến 12 giây. Vì vậy, các bệnh nhân lớn tuổi, nín thở kém, bệnh nhi không
phối hợp tốt, chất lượng hình ảnh sẽ không tốt do nhiễu ảnh chuyển động của
tim và hô hấp, đặc biệt là ở vị trí đổi góc đột ngột hay vị trí chia nhánh ĐMV.
- Liều chiếu xạ cao: từ 8 đến 25 mSv. Trong khi liều nhiễm xạ cho
bệnh nhân khi chụp một phim X-quang thường quy lồng ngực là 0,1 mSv, và
liều bức xạ tự nhiên trong một năm mà một người phải chịu là 2-5 mSv. Một
số nghiên cứu trên thế giới cho thấy những phụ nữ đã từng chụp CLVT ĐMV
bằng máy MDCT-64 dãy có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn những phụ nữ
không có tiền sử này; tỷ lệ mắc ung thư tăng lên 0,04% đối với bệnh nhân
được chụp MDCT-64 dãy ĐMV 1 lần/ năm.


22


các khoảng trống hình ảnh này mặc dù tốc độ bước chuyển bàn rất cao, phối
hợp với phạm vi bao phủ của detector rộng, thời gian quét rút ngắn xuống còn
0,25 giây, cho phép đánh giá toàn bộ tim chỉ trong một nhịp tim.
Máy sử dụng hai nguồn phát tia X chạy đồng thời với hai mức năng
lượng khác nhau là 140 kv và 80 kv dẫn tới việc thu nhận được các mức độ
tập trung khác nhau, do đó có thể dễ dàng phân loại được cấu trúc hóa học
của mô được khảo sát, từ đó giúp hạn chế hiệu ứng thể tích từng phần gây
nhiễu ảnh.
1.4.2. Chụp ĐMV bằng máy DSCT [6,8,23-26,28-32]
Nguyên lý chụp CLVT ĐMV là máy phải chọn được hai thời điểm
trùng nhau để chụp: thời điểm tim không co bóp (giai đoạn tâm trương) và
thời điểm thuốc cản quang ngấm tối đa vào hệ mạch vành. Do đó, những
trường hợp nhịp tim cao, không đều, bệnh nhân không phối hợp nín thở tốt là
thách thức với máy 64-MDCT một nguồn phát. Tuy nhiên, với hệ thống
DSCT do tốc độ di chuyển bàn cao, thời gian quét ngắn, nên máy có thể chụp
được ĐMV ở các loại nhịp tim khác nhau: nhanh, chậm, không đều [6, 28]
Máy có 3 chế độ chụp (mode) tùy thuộc vào nhịp tim bệnh nhân trong
quá trình chụp: Sequence, Flash, Spiral.
- Mode Sequence hay còn gọi là “Step and shoot” mode: Áp dụng cho
mọi loại nhịp tim, kể cả trường hợp nhịp tim cao, không đều. Máy tự động
chọn các chu chuyển tim tốt nhất để phát tia (thường là 3 chu chuyển tim, có
thể là 4 chu chuyển tùy thuộc vào trường chụp của mỗi bệnh nhân) và bỏ qua
các chu chuyển tim không đều. Do đó, liều chiếu xạ cho bệnh nhân thấp, chỉ
từ 2,1-4,1 mSv. Đây là chế độ chụp được áp dụng nhiều nhất [29]


24

Hình 1.8. Sơ đồ nhịp tim minh họa mode Sequence

Phần lớn các nghiên cứu cho thấy thời điểm tái tạo tốt nhất là ở thì tâm trương
với bệnh nhân nhịp tim thấp; đối với bệnh nhân nhịp tim trung bình và cao, tái
tạo ở cả thì tâm thu và tâm trương đều cho chất lượng hình ảnh đủ để chẩn
đoán. Theo Adler và cộng sự (2010) [28] thời điểm tái tạo tốt nhất ở thì tâm
thu trong khoảng 35-50% của chu chuyển tim (R-R) đối với nhịp tim > 70 chu
kỳ/phút, đối với nhịp tim < 70 chu kỳ/phút thời điểm tái tạo tốt nhất là ở thì
tâm trương trong khoảng 60-75% chu chuyển tim. Trong trường hợp chất


Trích đoạn ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHÂN ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHÂN Chất lượng hình ảnh theo bệnh nhân và đoạn mạch Chất lượng hình ảnh theo bệnh nhân và đoạn mạch HIỆN TƯỢNG ƯU THẾ ĐỘNG MẠCH VÀNH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status