TRƯỜNG ðẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ MÔN GIẢI PHẪU
CHUYÊN ðỀ GIẢI PHẪU BỆNH:
GIẢI PHẪU GAN VÀ ỨNG DỤNG TRONG
CẮT LỚP VI TÍNH
Người thực hiện : Ths, Bs.NGUYỄN PHƯỚC BẢO QUÂN
Giáo Viên hướng dẫn : PGS.TS. NGUYỄN VĂN HUY
Mã số : 62.72.05.01
Mc Lc
Phn I : Gii phu gan
1. V trớ v ủi chiu 1
2. Kớch thc v trng lng 1
3. Hỡnh th ngoi v liờn quan 1
3.1. Mt trờn 1
3.2. Mt di .2
3.3. B gan 3
4. Cu trỳc gan 3
4.1. Bao gan 3
4.2. Nhu mụ gan 4
5. Phõn chia thựy gan 5
5.1. Phõn chia thựy gan theo hỡnh th bờn ngoi 5
5.2. Phõn chia gan thnh
thnh
cỏc phn cú cp mỏu v dn lu mt riờng bit 5
6. Cỏc thnh phn mch mỏu, ng mt ca gan 13
6.1. Tnh mch ca 13
6.2. ng mch gan 15
6.3. Tnh mch gan 17
phần sát bờ bên P) khoảng 15-17 cm, bề dày của phần tương ứng cực trên thận
P là khoảng 10-12 cm.
3. Hình thể ngoài và liên quan
Nhìn bên ngoài thì gan có mầu ñỏ nâu trơn bóng; nắn có mật ñộ chắc, nhưng
dễ lún, dễ bị nghiền nát và dễ vỡ. Hình dạng gan thay ñổi ít nhiều theo thể tạng,
nhìn chung thì gan có dạng hình nêm mà phần nhọn của hình nêm tương ứng
với bờ trước và bên T của gan.
3.1. Mặt trên (mặt hoành)
Mặt trên áp sát ngay dưới cơ hoành và có dạng hình vòm với phần cong lồi
hướng lên trên, sang phải và ra sau; mặt trên gan ñược chia ra 4 phần :
+ Phần trên tương ñối phẳng, áp sát một phần dưới vòm hoành nhờ vào dây
chằng liềm, qua cơ hoành phần trên gan liên quan với ñáy phổi P, màng tim và
màng phổi và ñáy phổi T.
+ Phần trước có một diện tiếp xúc với thành bụng trước, trên bề mặt gan phần
Hình 1.1: Vị trí và diện ñối chiếu của gan
(hình từ sách GP GS Nguyễn Quang Quyền) 2
trước có rãnh của dây chằng liềm và rãnh này kéo dài ra phía trước ñến tận bờ
dưới gan, nơi ñây dây chằng tròn chạy từ rốn lên và tiếp tục ñi vào trong nhu
mô gan ñến tiếp nối với nhánh trái tĩnh mạch cửa.
+ Phần phải của mặt trên gan là phần gan nhìn sang P, ñây là vùng mà mặt
hoành ñối diện với các cung sườn VII ñến XI bên P. Phần P cách mạn sườn bởi
cơ hoành, màng phổi và bờ mỏng của ñáy phổi P .
+ Phần sau là phần nhỏ nhất của mặt hoành, có hình tam giác với phần rộng ở
bên P và phần hẹp ở bên T, nơi ñây có vùng trần của gan và thuỳ ñuôi. Vùng
trần là phần gan tiếp xúc trực tiếp với cơ hoành không có lá phúc mạc bao phủ,
Các rãnh nêu trên tạo thành hình chữ H, là mốc giải phẫu quan trọng trong
phân chia thuỳ gan.
Ngoài mốc chữ H ra, nổi bật ở mặt dưới gan còn có các ấn lõm của các tạng
kế cận gan. Bên trái của rãnh dọc T thì có ấn lõm của dạ dày tương ứng với mặt
trước-trên của dạ dày. Phần phía trước rãnh ngang và nằm giữa rãnh dọc T và
rãnh dọc P là thùy vuông của gan, thùy vuông liên quan mật thiết với môn vị
của dạ dày và phần trên của tá tràng cùng ñại tràng ngang. Phía bên P của rãnh
dọc P có ba ấn lõm, một ở phía trước và tương ñối nông thì tương ứng với ñại
tràng góc gan, một ở phía sau và sâu hơn thì tương ứng với thận và tuyến
thượng thận P, cuối cùng là ấn lõm của ñoạn xuống của tá tràng, ấn lõm này
nằm giữa ấn lõm của thận và cổ túi mật (hình 1.3).
3.3. Bờ dưới
Mặt trên và mặt dưới của gan hợp thành bờ dưới gan. Trên bờ dưới gan có
thể nhận ra hai mốc giải phẫu quan trọng, một tương ứng với chỗ ñi vào gan của
dây chằng tròn ñó là khuyết của dây chằng tròn, một là khuyết của giường túi
mật ñối diện với sụn sườn thứ IX bên P.
4. Cấu trúc của gan
Từ nông vào sâu thì nhu mô gan ñược cấu tạo bởi bao gan, nhu mô gan
4.1. Bao gan
Gan ñược bao bọc bởi hai lớp, lớp thanh mạc ở bên ngoài và lớp xơ ở bên
trong.
Hình 1.3 : Hình mặt dưới của gan với mốc chữ
H và các ấn lõm của các tạng. Hình từ [9].
tĩnh mạch cửa-ñộng mạch gan- ống mật ñịnh vị ở mỗi góc của lục giác (hay nói
cách khác 5 ñến 6 tiểu thuỳ vây quanh một bộ ba tĩnh mạch cửa-ñộng mạch
gan- ống mật); các tế bào gan sắp xếp thành từng dảy gồm hai lớp tế bào, các
Hình 1.4: ðơn vị cấu tạo của nhu mô gan
là tiểu thùy gan là khối lục giác với bộ ba
cửa ở ngoại vi và tĩnh mạch trung tâm
tiểu thùy ở giữa
. H×nh tõ [9]
5
dảy này ñi từ tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy hướng ra ngoài như hình nan hoa;
xen kẽ các dảy tế bào là những xoang mạch (sinusoid) có chức năng như những
mao mạch làm nhiệm vụ trao ñổi chất giữa các ống mạch, tế bào gan và mô kẽ.
5. Phân chia thuỳ gan
Có hai cách phân chia thùy gan, phân chia theo hình thể bên ngoài và phân
chia gan ra thành các phần có sự cấp máu và dẫn lưu mật riêng biệt.
5.1. Phân chia gan theo hình thể bên ngoài
Phân chia gan theo hình thể bên ngoài ñược nêu lên bởi các nhà giải phẫu cổ
ñiển, sự phân chia này dựa vào các mốc giải phẫu bên ngoài như dây chằng liềm
ở mặt hoành gan; các rãnh dọc T, rãnh dọc P, cửa gan ở mặt tạng của gan làm
nên các mốc ranh giới giữa các phần khác nhau của gan gọi là các thùy gan.
- Ở mặt hoành thì dây chằng liềm phân chia gan thành thuỳ P và thuỳ T, theo
tỷ lệ về thể tích thì thùy P lớn hơn thùy T nhiều.
- Ở mặt tạng thì bên T của rãnh dọc T là thuỳ T; bên P của rãnh dọc P thì
thuộc về thùy P; giữa hai rãnh dọc dọc P và rãnh dọc T thì gồm có hai thùy khác
ngăn cách nhau bởi cửa gan, thuỳ vuông ở phía trước cửa gan và thuỳ ñuôi ở
phía sau của cửa gan (hình 1.3).
5.2. Phân chia gan thành các phần có sự cấp máu và dẫn lưu mật riêng
ñến các trường phái chính sau:
+ Quan ñiểm của C.H. HJORTSJO người Thuỵ ðiển (1948) là người ñầu
tiên nêu lên vấn ñề phân thuỳ gan
[5]
.
+ Trường phái của Mỹ mà ñại diện là HEALEY & SCHROY (1953) phân
chia gan theo phân chia ñường mật. Sau Healey & Schroy là GOLDSMITH và
WOODBURN với quan ñiểm ñơn giản hóa hơn về phân chia gan
[9,24]
.
+ Trường phái của Pháp mà ñại diện là C. COUINAUD (1957) phân chia
gan theo phân chia của tĩnh mạch cửa trong gan.
+ Trường phái Việt Nam của G.S TÔN THẤT TÙNG (1962) phân chia gan
theo phân chia ñường mật và dung hòa về mặt danh pháp giữa trường phái Mỹ
và Pháp. Sau ñó, G.S TRỊNH VĂN MINH
[5]
cũng ñã nêu lên quan ñiểm của
mình về một vài thay ñổi khi phân chia phân thùy VIII (chia thành hai là VIII
trong và VIII ngoài).
+ Gần ñây hơn, nhiều hội nghị quốc tế ñược tổ chức ñể thống nhất cách phân
chia và cách gọi tên các ñơn vị gan chức năng như hội nghị Nomina Anatomica
(1985) tại London, hội nghị Terminologia anatomica (1997) tại São Paulo, và
7
gần nhất là hội nghị về “Thuật ngữ giải phẫu phân thuỳ gan và cắt gan” của Hội
gan-tuỵ-mật quốc tế (IHPBA) thông qua tại Brisbane (2000).
5.2.1. Phân chia gan theo G.S Tôn Thất Tùng
G.S Tôn Thất Tùng
[4]
sang trái và hơi ra trước, ở bờ dưới gan thì khe bên T ñi ñến một ñiểm cách 1
ñốt ngón tay với ñiểm giữa của ñoạn nối khuyết dây chằng tròn và dây chằng
tam giác T, ở mặt trên gan thì cách bờ T của tmcd 1cm; ở các gan có gan T bé
thì khe bên T gần như có hướng từ P sang T. Khe bên T chia cắt thùy bên của
gan T thành hai phần, một ở ngoài khe và một ở giữa khe bên T và khe rốn.
Khe phụ giữa gan P, khe này thường không rõ rệt lắm, nằm ngang qua giữa
gan P và phân chia các phân thùy trước và phân thùy sau của gan P thành các
phần ở trên và ở dưới khe.
Tóm lại theo G.S TÔN THẤT TÙNG, cách phân chia và thuật ngữ gọi tên
như sau:
+ Chữ "thuỳ" chỉ dành ñể gọi 2 thuỳ phải và trái cổ ñiển ngăn cách nhau
bởi khe rốn.
+ Còn hai phần gan ñược dẫn lưu bởi ống gan phải và trái ñược gọi là hai
"nửa gan phải và nửa gan trái", ngăn cách nhau bởi khe giữa gan.
+ Mỗi nửa gan lại ñược chia thành 2 “phân thuỳ”; nửa gan phải ñược chia
thành 2 " phân thuỳ trước và phân thuỳ sau", ngăn cách nhau bởi khe bên phải;
nửa gan trái ñược chia thành 2 "phân thuỳ giữa và phân thuỳ bên", ngăn cách
hau bởi khe rốn .
+ Riêng thuỳ ñuôi cổ ñiển ñược phân thành "phân thuỳ lưng".
+ Các phân thuỳ trước, phân thuỳ sau, phân thuỳ bên lại ñược chia thành
những ñơn vị nhỏ hơn, gọi là "hạ phân thuỳ". Gọi tên các hạ phân thùy thì
giống như cách ñánh số thứ tự theo chữ số La Mã "từ I ñền VIII" của
COUINAUD. Cụ thể như sau:
. Thuỳ ñuôi hay phân thuỳ lưng không chia, ñược coi như hạ phân thuỳ I.
. Phân thuỳ bên hay thuỳ trái cổ ñiển chia thành 2 hạ phân thuỳ II và III,
ngăn cách nhau bởi khe bên trái .
. Phân thuỳ giữa không chia, ñược ñánh số như hạ phân thuỳ IV.
. Phân thuỳ trước chia thành 2 hạ phân thuỳ V và VIII.
9
Hình 1.5. Phân chia gan và danh pháp theo
GS T.T.Tùng: gan ñược chia thành 2 thuỳ cổ
ñiển, 2 nửa gan, 5 phân thuỳ, và 8 hạ phân
thuỳ. Ghi chú: S.P là rãnh giữa gan, S.L.D là
khe bên P, S.O là khe rốn, S.L.G là khe bên
trái .Hình từ [5].
Hình 1.6: Phân chia phân thùy gan theo C.H.
Hjortsjo.
Ghi chú: H.G.S khe chính; N.G.S khe phụ; d.c
– pt lưng ñuôi, i- pt trung gian; v.c-pt bụng ñầu;
dl-pt lưng bên; v.l – pt bụng bên. Hình từ [5]. 10
5.2.4. Phân chia gan theo C. COUINAUD
Khác với các tác giả trên thì ở ñây tác giả C. COUINAUD sử dụng sự phân
chia của tĩnh mạch cửa ñể phân chia gan. C. COUINAUD vẫn lấy khe giữa (khe
cửa chính) ñể chia gan thành hai phần bằng nhau và vẫn gọi tên như tác giả Mỹ
là nửa gan P và nửa gan T. Sau ñó mỗi nửa gan ñược chia thành hai phần, mỗi
phần ñược gọi tên là khu vực. Khe cửa bên P chia nửa gan P thành hai khu vực,
11
COUINAUD bao gồm hạ phân thùy III và IV. Riêng thùy ñuôi cổ ñiển thì ñược
C.COUINAUD xếp thành khu vực lưng riêng biệt. Cuối cùng, các khu vực gan
nói trên (ngoại trừ khu vực lưng và khu vực bên T) ñược phân thành hai phần:
phần trước và phần sau, tác giả ñặt tên cho mỗi phần là phân thùy và ñược ñánh
số từ I ñến VIII như sau: phân thùy I là thùy ñuôi cổ ñiển; phân thùy II là phân
khu bên T (nằm bên T của khe cửa T); phân thùy III là nằm giữa khe rốn và khe
cửa T; phân thùy IV là nằm giữa khe cửa chính và khe cửa T; phân thùy V là
nửa trước của khu vực cạnh giữa P; phân thùy VIII là nửa sau của khu vực cạnh
giữa P; phân thùy VI là nửa trước của khu vực bên P; phân thùy VII là nửa sau
của khu vực bên P.
5.2.5. Thuật ngữ giải phẫu quốc tế mới (Terminologia Anatomica)
Trong thuật ngữ giải phẫu quốc tế mới (Terminologia Anatomica) ñược
thông qua tại São Paulo (1997)
[5]
, những nét chính sau ñược thống nhất :
Về cơ sở ñể phân thuỳ gan: ñã dựa theo sự phân chia của cả bộ ba tĩnh
mạch cửa, ñộng mạch gan và ống mật (như ñề nghị của TRỊNH VĂN MINH,
1972).
Về thuật ngữ, ñã quan tâm ñến cả 2 cách gọi:
+ Theo từ giải phẫu cổ ñiển: các thuỳ phải, trái vẫn ñược bảo lưu, (như ñề
nghị của TÔN THẤT TÙNG, 1962).
+ Theo từ chức năng: cách sắp xếp hệ thống các ñơn vị phân chia bậc I, II,
III ñã không theo một trường phái cũ nào, mà hoàn toàn theo những tên gọi
mới: ñơn vị phân chia bật I là phần gan (pars hepatis, part of liver, or liver),
ñơn vị phân chia bật II là tiểu phần hay phần phân chia (divisio, division), ñơn
vị phân chia bật III phân thuỳ (segmentum, segment).
Hình 1.9: Hình minh họa phân chia gan thành các ñơn vị chức năng; hình A- khe giữa gan
minh họa bằng mặt phẳng ñi qua tmg giữa, B- khe bên P minh họa bằng mặt phẳng ñi qua
tmg P, C- khe bên T minh họa bằng mặt phẳng ñi qua tmg T, D- khe phụ bên P và T minh
họa bằng mặt phẳng ñi qua ngành P và T tmc, E- Các thùy gan ñược tô bởi các màu khác
nhau, F- riêng HPT
ñuôi nằm ở phần lưng ñược xếp thành HPT I. Hình từ [12]. A
B
C
D
E
vào khoảng 72% theo GUERRIER (hình 1.11).
- Ngành phải ngắn có chiều dài khoảng 1-3cm và khẩu kính từ 0,8-1,4cm
sau khi tách ra một nhánh bên nhỏ cho phần P của phân thuỳ ñuôi, thì sớm chia
ñôi thành hai ngành cùng: nhánh phải trước và nhánh phải sau.
Hình 1.10: Các vòng nối giữa hệ cửa
và hệ chủ: vòng nối quanh thực quản,
vòng nối cạnh rốn, vòng nối trực
tràng, vòng nối cạnh ñại tràng và
vòng nối sau phúc mạc.Hình từ [12]
14
+ Nhánh phải trước tách ra từ mặt trước của nó 1-3 nhánh bên cho hạ phân
thùy V, rồi chia hai nhánh tận cho hạ phân thùy VIII.
+ Nhánh phải sau tách ra 4-6 nhánh toả hình nan quạt về phía bờ P gan,
trong ñó có 1-3 nhánh ñầu cho HPT VI, và phần còn lại cho HPT VII.
- Ngành trái tĩnh mạch cửa dài và nhỏ hơn, gồm hai ñoạn: (1) ñoạn I chạy
ngang trong cửa gan dài ñộ 3-5cm, qua phía trước của thuỳ ñuôi , tách ra 2-3
nhánh nhỏ ra sau cho thuỳ ñuôi, và (2) ñoạn II (còn gọi là ñoạn rốn) nối tiếp
ñoạn ngang chạy hướng ra trước, hơi phình to, nằm trong ñáy của khe dây
chằng tròn, chỗ phình to này một số tác giả gọi là ngách REX; ñầu trước của
ñoạn rốn tận hết bởi dây chằng tròn, ñầu sau của nó có chỗ bám của dây chằng
Biến thể giải phẫu về vị trí của ñoạn ñầu thân tĩnh mạch cửa
Thông thường thì thân tmc nằm sau tụy, ñôi khi thân tmc nằm trước tụy, tuy
nhiên tỷ lệ biến thể này nhỏ .
Biến thể giải phẫu của hợp lưu thân tĩnh mạch cửa
Thông thường thì tĩnh mạch mạc treo tràng dưới (tm mttd) hợp lưu cùng tĩnh
mạch lách (tml), rồi sau ñó mới hợp lưu với tĩnh mạch mạt treo tràng trên (tm
mttt). Tuy nhiên cũng có thể là tm mttd hợp lưu với tm mttt rồi sau ñó mới hợp
lưu với tml, cũng có thể là cả ba tm hợp lưu cùng một lúc.
Biến thể giải phẫu của phân nhánh của thân tĩnh mạch cửa
Thông thường thì tại cuống gan thì thân tmc chia thành hai ngành, tuy nhiên
cũng có tỷ lệ là thân tmc chia thành ba là do ngành P không tồn tại mà tại nơi
ñây lại chia ra nhánh phân thùy trước và nhánh phân thùy sau, tỷ lệ này theo
GUERRIER và RAPP là 7%, theo COUINAUD là 7,7%.
Biến thể giải phẫu như nhánh tm phân thùy sau phân ra từ thân tmc trước
chỗ chia ñôi -loại này theo COUINAUD chiếm khoảng 4,8%,
Theo một nghiên cứu của AKGUL E.
[7]
ở 655 trường hợp thì tác giả xếp các
loại phân chia của thân tmc như sau: loại A -phân nhánh bình thường từ thân
tmc thành ngành P và T tmc; loại B -thân tmc phân thành 3 nhánh tận (do nhánh
giữa P và bên P ñược hình thành sớm nên không có ngành P tmc); loại C -
nhánh giữa P xuất phát từ ngành T tmc; loại D - ngành T tmc lại xuất phát từ
nhánh giữa P của ngành P tmc; loại E - nhánh giữa P xuất phát từ thân tmc.
Theo AKGUL E. thì loại A gặp trong 86,2% trường hợp; loại B,C, D, E lần lượt
gặp trong 12,3%, 0,9%, 0,3 %, và 3% trường hợp.
6.2. ðộng mạch gan
6.2.1. Nguyên ủy, ñường ñi và liên quan
ðộng mạch gan chung là nhánh lớn nhất trong 3 nhánh tận của ñộng mạch
thân tạng (ñộng mạch lách, vị T và gan chung); ñộng mạch gan chung tiếp tục
chạy ra trước, hơi xuống dưới, và sang phải, bắt chéo bờ trái tĩnh mạch cửa, ñể
Hình 1.13: Biến thể giải phẫu của
ñộng mạch gan ngoài gan, hàng
trên là biến thể chỉ có 1 ñộng mạch
gan riêng với nguyên ủy khác nhau
gặp trong 61/120, hàng giữa là biến
thể có 2 ñộng mạch gan riêng với
nguyên ủy khác nhau gặp trong
50/120, hàng dưới là biến thể có 3
ñộng mạch gan riêng với nguyên
ủy khác nhau, gặp trong 9/120.
Hình từ [5].
17
Theo GS Trịng Văn Minh nghiên cứu trên 120 phẫu tích gan thì có thể có
các kiểu biến thể về vị trí và số lượng của ñộng mạch gan như hình minh hoạ
(hình1.13). Trong ñó, kiểu biến thể thường gặp là ngành P ñộng mạch gan cấp
máu cho gan P có nguồn gốc từ ñộng mạch mạc treo tràng trên, còn ngành T
ñộng mạch gan cấp máu cho gan T có nguồn gốc từ ñộng mạch vị trái.
Gần ñây, có sự ñồng thuận về xếp loại biến thể giải phẫu phân nhánh ñộng
mạch gan ngoài gan theo của MICHELL
[18]
thành 10 loại từ loại I ñến loại X
Biến thể giải phẫu về phân nhánh trong gan
Nhánh cho phân thuỳ giữa trái cũng có thế xuất phát từ ngành phải hoặc từ
bộ phân thùy giữa . Tĩnh mạch gan trái
Hình 1.14: Hệ thống tĩnh mạch gan, hình A- sơ ñồn 3 tĩnh mạch gan dẫn lưu
máu cho 3 khu vực trở về tmcd ở gần mặt trên gan; hình B- tiêu bản ñúc
khuôn-ăn mòn bộc lộ hệ thống tĩnh mạch gan với 3 màu khác nhau cho 3 khu
vực (in lại với sự cho phép của GS Trịnh Văn Minh).
A
B
A
B
C
Hình 1.15: Biến thể giải phẫu của tĩnh mạch gan, A- biến thể hợp lưu của 3 tmg,
B- bi
ến thể giải phẫu của tmg giữa, C- biến thể giải phẫu của tmg T, D- biến thể
giải phẫu của tmg P. Hình từ [13].
D20
6.4. ðường mật
6.4.1. ðường mật trong gan
6.4.1.1. Nguyên uỷ, ñường ñi, tận cùng
ðường mật trong gan phải
Ống gan P ñược tạo thành bởi sự hợp lưu của ống PT giữa- phải và ống
PT bên-phải; ngoài ra, nó còn nhận thêm một ống nhỏ từ thùy ñuôi, trước khi
hợp với ống gan trái thành ống gan chung. Ống gan P dài trung bình khoảng 6-8
mm, chạy theo hướng ra trước vào trong ñể ñến hợp lưu với ống gan T ngay
phía trước và trên chỗ hợp lưu của ngành T và P tmc (hình 1.16). Ống PT bên-
phải tạo bởi sự hợp lưu của các ống HPT VII và VI. Ống PT giữa-phải ñược tạo
Theo COUINAUD thì có thể xếp biến thể giải phẫu của các ống gan phân
thùy như sau:
+ Loại A: ống bên P kết hợp ống giữa P thành ống gan P rồi kết hợp với ống
gan T thành ống gan chung, loại này có tỷ lệ khoảng 54%
+ Loại B: ống bên P cùng kết hợp ống giữa P và ống gan T thành ống gan
chung, loại này có tỷ lệ khoảng 11%
+ Loại C: ống bên P hoặc giữa P hợp lưu vào ống gan chung, loại này có tỷ
lệ khoảng 23%
+ Loại D: ống bên P hoặc giữa P hợp lưu vào ống gan T, loại này có tỷ lệ
khoảng 8%
+ Loại E: không có hợp nhánh ống mật như trên mà các ống gan phân thùy
hợp lưu riêng biệt, loại này có tỷ lệ khoảng 3%
+ Loại F: ống bên P hợp lưu vào cổ túi mật hoặc ống túi mật, loại này có tỷ
lệ khoảng 1% .
6.4.2. ðường mật ngoài gan
6.4.2.1. Nguyên ủy, ñường ñi và liên quan
Các ñường dẫn mật ngoài gan gồm có: Ống gan chung, tạo bởi 2 ống gan
phải và ống gan trái; Túi mật là túi chứa mật dự trữ, túi mật có ống túi mật nối
thông túi mật với ñuờng mật chính và Ống mật chủ là sự hợp nhất ống gan
chung và ống túi mật, là ñường dẫn mật cuối cùng ñổ vào tá tràng.
Các ống gan và ống mật chủ tạo nên ñường mật chính. Túi mật và ống túi
mật ñược gọi là ñường mật phụ.
22
Ống gan chung : Ống gan chung ñược tạo nên bởi sự hợp nhất giữa ống gan
phải và ống gan trái vị trí ở trước trên và hơi lệch sang phải của chỗ chia ñôi
tĩnh mạch cửa; ống gan chung dài ñộ 2-4cm, ñường kính ñộ 5mm. Khi tới gần
bờ trên tá tràng thì gập ống túi mật, rồi hợp cùng ống túi mật ñể tạo thành ống
mật chủ (hình 1.17).
ni vi c tỳi mt. C tỳi mt hp, cong lờn trờn v ra trc, ri qut ủt ngt ra
sau v xung di, liờn tip vi ng tỳi mt v b tht hp ủú. c bit l
niờm mc c tỳi mt cú ni lờn nhng np nhn, to nờn mt kiu van xon c.
ng tỳi mt: ng tỳi mt ủi t c tỳi mt ti ng mt ch, di ủ 3-4cm, rt
hp ủon ủu (2,5mm) v rng ủon cui (4-5mm), hng ra sau xung
di v sang trỏi, chy trong 2 lỏ ca mc ni nh, sỏt b phi t do ca nú.
ng tỳi mt thng gp ng gan chung trờn khỳc I tỏ trng ủ 1-1,5cm, v
dớnh vi ng gan chung mt ủon ngn trc khi hp nht thnh ng mt ch;
mt trong ng tỳi mt, niờm mc cú 5-10 np nhn hỡnh li lim, hng chch
tng t nh c tỳi mt, liờn tip nhau to thnh mt van xon c.
6.4.2.2. Bin th gii phu
Bin th gii phu v hp lu ng tỳi mt vi ng gan chung
ng tỳi mt cú th di hoc ngn khỏc nhau, cng cú th ủ vo ủng mt
chớnh nhng v tri khỏc nhau nh minh ho hỡnh 1.19 Biến thể giải phẫu về hợp lu ống mật chủ và ống tụy
Bóng gan tụy có thể dài, ngắn; hoặc không có bóng gan tuỵ (ống mật chủ và
ống tuỵ chính đổ riêng rẽ); hay bóng gan tuỵ có vách ngăn ( hình 1.20):
Hỡnh 1.19: Bin
th gii phu