Kiến thức, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người chế biến trong các trường mầm non xã tam hiệp, huyện thanh trì, hà nội năm 2014 - Pdf 31

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhắc tới thế hệ măng non chắc hẳn trong mỗi chúng ta đều nhớ đến câu nói
của Bác lúc sinh thời: “Trẻ em như búp trên cành- biết ăn biết ngủ, biết học
hành là ngoan”. Thật vậy mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được chăm sóc, nuôi
dưỡng và phát triển. Trong đó mặt nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ đang được
gia đình, xã hội quan tâm và chú trọng một cách đặc biệt. Trẻ em cần dinh dưỡng để
phát triển về thể lực và trí lực [21].
Hiện nay vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang trở thành thời sự “nóng
bỏng”, là mối quan tâm lớn của toàn xã hội [24]. Vệ sinh an toàn thực phẩm
rất cần thiết đối với con người, càng quan trọng hơn đối với các trường mầm
non, bởi vì hiện nay 100% trẻ đều tham gia ăn bán trú tại trường. Trong khi
các trường mầm non học sinh đang ở lứa tuổi 2 đến 5 tuổi, đây là giai đoạn phát
triển thể chất, chưa có ý thức tự bảo vệ sức khỏe cho mình như vấn đề dinh dưỡng
hay vệ sinh an toàn thực phẩm và đặc biệt ăn uống của các em phụ thuộc hoàn toàn
vào nhà trường. Nhà trường không chỉ đảm bảo dinh dưỡng, phong phú, hấp dẫn mà
còn phải đảm bảo cả về chất lượng an toàn của thực phẩm [23].
Theo số liệu thống kê báo cáo hàng năm của cục vệ sinh an toàn thực phẩm
(VSATTP) giai đoạn 2006- 2010 tổng cả nước có 944 vụ ngộ độc thực phẩm, làm
33.168 người bị ngộ độc phải nhập viện và 259 người tử vong. Trung bình mỗi năm
có 189 vụ ngộ độc thực phẩm, 6.633 người mắc và 52 người tử vong [7]. Ngày
03/10/2014 tại tỉnh Hòa Bình, bệnh viện Đa Khoa tiếp nhận 25 học sinh trường
mầm non thị trấn Chi Nê, huyện Lạc Thủy có biểu hiện ngộ độc thực phẩm.
Các vụ ngộ độc thực phẩm có xu hướng ngày càng tăng và có xu hướng lan
rộng ra nhiều quốc gia. Ở những nước đang phát triển như tại Úc hiện nay mỗi năm
vẫn có khoảng 4,2 triệu ca ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm
[12]. Ngày 22/5/2013 xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm ở các trường tiểu học và trường
cấp hai tại tỉnh Thanh Hải- Trung Quốc làm 500 học sinh phải nhập viện [31]. Tại
Ấn Độ, ngày 16/7/2013 xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tại ngôi trường thuộc bang
Bihar làm 80 em nhập viện, trong đó có 27 em tử vong [31].

1

sức khoẻ, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa
các tác nhân vật lý, hoá học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải
là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe con người.
- An toàn thực phẩm (ATTP): là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại
đến sức khỏe, tính mạng con người.
- Tác nhân gây ô nhiễm: là yếu tố không mong muốn, không được chủ động
cho thêm vào thực phẩm có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến an toàn thực phẩm.
- Thời hạn sử dụng thực phẩm: là thời hạn mà thực phẩm vẫn giữ được giá
trị dinh dưỡng và bảo đảm an toàn trong điều kiện bảo quản được ghi trên nhãn theo
hướng dẫn của nhà sản xuất.
- Chế biến thực phẩm (CBTP): là quá trình xử lý thực phẩm đã qua sơ chế
hoặc thực phẩm tươi sống theo phương pháp công nghiệp hoặc thủ công để tạo
thành nguyên liệu thực phẩm hoặc sản phẩm thực phẩm.
- Ngộ độc thực phẩm (NĐTP): là tình trạng bệnh lý do hấp thụ thực phẩm bị
ô nhiễm hoặc có chứa chất độc.
- Nguy cơ ô nhiễm thực phẩm (NCÔNTP): là khả năng các tác nhân gây ô
nhiễm xâm nhập vào thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
- Bếp ăn tập thể (BATT): là cơ sở chế biến, nấu nướng phục vụ cho một tập
thể cùng ăn tại chỗ hoặc ở một nơi khác.
- Nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm: Có 4 nhóm [24].
+ Ngộ độc do vi sinh vật: vi khuẩn, virus…

3


+ Ngộ độc do hóa chất: hóa chất bảo vệ thực vật, sử dụng phụ gia không đúng…
+ Ngộ độc do bản thân thực phẩm chứa chất độc tự nhiên: nấm độc, cóc, sắn độc…
+ Ngộ độc do thực phẩm bị biến chất:

Vệ sinh an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành,

định là những bệnh thường do truyền nhiễm hoặc do chất độc trong tự nhiên, gây ra
bởi tác nhân xâm nhập vào cơ thể thông qua việc tiêu hóa thực phẩm. Mỗi người
đều có nguy cơ mắc bệnh truyền qua thực phẩm.
Bệnh truyền qua thực phẩm là khái niệm bao gồm cả NĐTP và nhiễm trùng
thực phẩm, do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm tác nhân gây ngộ độc thực phẩm, ảnh
hưởng đến sức khỏe, tính mạng của con người. Hiện tượng dị ứng do mẫn cảm của
cá thể với một loại thức ăn được xác định nào đó không được coi là bệnh truyền qua
thực phẩm [3].
1.2. Tình hình ngộ độc thực phẩm
1.2.1. Trên thế giới:
Vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề được quan tâm ngày
càng sâu sắc trên phạm vi mỗi quốc gia bởi sự liên quan trực tiếp của nó đến sức
khỏe và tính mạng con người, ảnh hưởng đến sự duy trì và phát triển giống nòi,
cũng như quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với xu hướng phát
triển của xã hội và toàn cầu hóa, bệnh truyền qua thực phẩm và ngộ độc thực phẩm
đang đứng trước nhiều thách thức mới, diễn biến mới về cả tính chất, mức độ và
phạm vi ảnh hưởng.
Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO-2000), hơn 1/3 dân số các
nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm. Đối với
các nước đang phát triển, tình trạng lại càng trầm trọng hơn rất nhiều. Hàng năm

5


các bệnh tiêu chảy do thực phẩm và nước gây ra là nguyên nhân dẫn đến 2,2 triệu
người tử vong trong đó có tới 1,9 triệu trẻ em [12].
Thực tế cho thấy các bệnh do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm chất độc hoặc tác
nhân gây bệnh đang là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng ở các nước đã phát triển
cũng như các nước đang phát triển và đây là vấn đề sức khỏe của toàn cầu.
1.2.2. Tại Việt Nam

trực tiếp chế biến không tốt, điều kiện vệ sinh cơ sở không đảm bảo, nguyên liệu
thực phẩm không an toàn, phương pháp chế biến, bảo quản không đúng quy định.
1.2.3. Thực trạng ATTP tại bếp ăn tập thể trong các trường học.
Trên địa bàn Hà Nội, theo thống kê của chi cục vệ sinh an toàn thực phẩm tình
hình ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể năm 2011 có 29 vụ ngộ độc thực phẩm
với 2.656 người mắc và có 2.491 người phải nhập viện [8].
Một số vụ điển hình xảy ra gần đây tại BATT ở các trường học như:
Ngày 25/12/2013, trên địa bàn xã Phước Thể, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình
Thuận đã xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tại trường mầm non Phước Thể làm 165 cháu
phải nhập viện sau ăn bữa chiều, thực đơn của trẻ ngày hôm đấy là ăn phở [10].
Ngày 18/04/2014 đã xãy ra trường hợp ngộ độc thực phẩm tại trường tiểu học
Long Bình quận 9 có khoảng 100 em trong số 545 học sinh ăn trưa bị ngộ độc thực
phẩm. Thực đơn các em ăn là cơm chiên Dương châu, canh súp và bánh Flan [5].
Khoảng 6h30 ngày 13/10/2014, bệnh viện Bà Rịa (phường 12- tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu) đang cấp cứu 33 học sinh trường trung học cơ sở Nguyễn Gia Thiều do
ngộ độc thực phẩm. Các cháu ăn bún, phở ở căng tin của nhà trường [6].
Hậu quả của những vụ NĐTP này là hàng trăm cháu phải nghỉ học, kèm theo
đó là sự lo âu của các phụ huynh và dư luận xã hội không chỉ trên địa bàn xảy ra.
Cơ sở giáo dục mầm non là nơi tập trung đông trẻ nhỏ, cơ thể còn non nớt, sức đề
kháng kém, trẻ chưa có ý thức tự bảo vệ sức khỏe cho mình. Chính vì vậy, ngoài
việc dạy dỗ các cháu, nhà trường còn có nhiệm vụ rất quan trọng là nuôi dưỡng,
chăm sóc để trẻ có sức khỏe tốt, phát triển một cách toàn diện về thể lực và trí lực.
Muốn vậy, BATT tại các trường mầm non (MN) phải được vận hành theo
đúng quy định về ATTP. Đây là vấn đề rất cấp bách đối với các lãnh đạo, chính
quyền và ngành y tế trong công tác đảm bảo ATTP tại BATT, nhất là bếp ăn tại các
trường MN.
Theo kết quả báo cáo công tác kiểm tra về VSATTP của trung tâm y tế Thanh
Trì tại các bếp ăn tập thể năm học 2013- 2014 cho biết các trường MN trên địa bàn
xã Tam Hiệp tuy chưa có vụ ngộ độc nào xảy ra trên địa bàn nhưng vẫn còn một số
vấn đề đáng chú ý như thực hành vệ sinh của nhân viên nhà bếp chưa thật tốt, thể


quận Cầu Giấy của tác giả Nguyễn Thị Bích San năm 2010 cũng cho kết quả chỉ có
69,9% nhân viên có kiến thức đúng, 54,5% thực hành đúng về ATTP. Kết quả cũng đã

8


chỉ ra đào tạo chuyên môn về CBTP an toàn, trình độ văn hóa, tuổi nghề, tập huấn về
ATTP, điều kiện cơ sở vật chất, công lập và dân lập có liên quan đến kiến thức, thực
hành của người chế biến [18].
Năm 2004 nghiên cứu của Trần Thu Hương cho biết kiến thức, thực hành về
VSATTP còn hạn chế ở cả 2 đối tượng là người chế biến và cô giáo. Kiến thức
chung về VSATTP của người chế biến là 63,8%, cô giáo là 57,3%. Hiểu biết về
VSATTP trong chế biến của giáo viên là 48,5%, người chế biến là 59,6%. Thực
hành VSATTP của người chế biến là 59,6%. Mức độ ô nhiễm bàn tay của cô giáo
và người chế biến là khá cao [27].
Theo WHO việc ô nhiễm TP đã phản ánh tình trạng mất vệ sinh trong chế
biến, bảo quản và vận chuyển thực phẩm. Tình trạng thiếu vệ sinh nơi CBTP, gây ô
nhiễm thức ăn do ruồi, nhặng, côn trùng, nguồn nước… Vì vậy giải quyết vấn đề
rác, vệ sinh môi trường cũng là việc cần quan tâm. Kinh nghiệm trên thế giới chỉ ra
rằng, trong mọi việc làm khi cộng đồng có nhận thức và thực hành tốt thì sẽ mang
lại hiệu quả rõ rệt, vì vậy người trực tiếp CBTP có vai trò đặc biệt quan trọng đối
với công tác ATTP tại các bếp ăn. Thuật ngữ “Vệ sinh thực phẩm” gắn liền với “Vệ
sinh cá nhân”. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích San năm 2010 có nói một NCB
nếu không đảm bảo về mặt vệ sinh cá nhân cũng như không được trang bị đầy đủ
kiến thức về vệ sinh ATTP thì sẽ dẫn đến việc thực hành vệ sinh ATTP không đảm
bảo làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm TP [18]. Đặc biệt đối với vệ sinh cá nhân thì vệ
sinh bàn tay được quan tâm và chú trọng nhất vì đây được coi như một con đường
lây truyền mầm bệnh vào TP. Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Uynh và các cộng
sự mô tả tình hình thực hiện điều kiện VSATTP của các bếp ăn tập thể tại huyện
Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013 thì tỷ lệ kiến thức đúng về VSATTP của

Để làm tốt việc này, ngoài vấn đề chuyên môn về dinh dưỡng và nấu ăn, thì
những người trực tiếp chế biến ở đây cũng phải có kiến thức và thực hành tốt về
ATTP trong suốt quá trình từ việc lựa chọn TP đến việc sơ chế, chế biến, bảo quản
và sử dụng TP [25]. Do vậy, việc bảo đảm ATTP trên địa bàn có nhiều loại hình sản
xuất, kinh doanh thực phẩm là một vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp. Đặc biệt
công tác kiểm tra, giám sát còn chưa bao quát được, do hàng năm chỉ có một lần
thanh tra và như các cơ sở được cấp giấy chứng nhận “Đủ điều kiện VSATTP”.
Chính vì vậy việc tìm hiểu những lý do và nguyên nhân sâu xa của những sai phạm
về ATTP của các trường học là cơ sở để các cơ quan chức năng đưa ra giải pháp
phù hợp với tình hình hiện nay.
Hiện nay thực phẩm của trẻ được ban giám hiệu các nhà trường ký hợp đồng
hàng năm với các công ty nhà nước, các chủ hàng TP luôn đảm bảo TP tươi ngon,
chất lượng tốt, giá cả phù hợp với thị trường.
Hàng ngày khâu giao nhận TP được ban giám hiệu quản lý chặt chẽ, phân
công giáo viên, cô trực tiếp nấu ăn, kế toán, thủ kho giao nhận trực tiếp TP trong
ngày. Chính vì vậy TP để chế biến món ăn cho trẻ luôn đảm bảo chất lượng tốt.
Cơ sở vật chất của nhà trường: đầu tư đầy đủ đồ dùng trang thiết bị hiện đại
phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ như: tủ cơm ga, tủ hấp sấy bát, bàn
sơ chế, các dụng cụ bằng Inox, máy khử ozon, máy lọc nước 1h lọc được 125m3 ...
Trường thực hiện theo quy trình bếp 1 chiều từ khâu giao nhận thực phẩm
đến khâu sơ chế và chế biến luôn đảm bảo đúng vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy
định của ngành [1].

11


CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Người trực tiếp chế biến trong 8 bếp ăn tập thể ( 4 trường công lập, 4 trường

2.6. Phương pháp thu thập số liệu
- Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi ( phiếu phỏng vấn người chế biến tại
bếp ăn tập thể) có cấu trúc, thông tin người chế biến tại bếp ăn để đánh giá kiến
thức, thực hành.
- Phỏng vấn mỗi người chế biến thực phẩm 2 lần. Cụ thể như sau:
+ Lần 1: vào cuối tháng 3/2014 khi người chế biến chưa được tập huấn về
VSATTP.
+ Lần 2: vào cuối tháng 6/2014 sau khi người chế biến đã đựơc tập huấn về
VSATTP vào ngày 12/05/2014.

2.7. Biến số nghiên cứu:
- Thông tin chung: tuổi, giới tính, mô hình trường, trình độ chuyên môn,
thời gian công tác.
- Kiến thức chung về ATTP của người chế biến trong bếp ăn:
+ Kiến thức về thực phẩm an toàn của người chế biến (từ câu 1 đến câu 4).
+ Kiến thức về ngộ độc thực phẩm của người chế biến (từ câu 5 đến câu 8).
+ Kiến thức về sức khoẻ của người lao động (từ câu 9 đến câu 11).
+ Kiến thức về sử dụng thức ăn của người chế biến (từ câu 12 đến câu 15).
+ Kiến thức về ATTP của người chế biến (câu 16).
- Thực hành chung về ATTP của người chế biến trong bếp ăn:
+ Thực hành về sử dụng trang phục và quy trình chế biến (câu 1 đến câu 2).
+ Thực hành về vệ sinh khi tiếp xúc với thực phẩm (từ câu 3 đến câu 5).
+ Thực hành về sử dụng thực phẩm (từ câu 6 đến câu 10).
+ Thực hành về ghi chép và vệ sinh hàng ngày (từ câu 11 đến câu 15).
+ Thực hành về ATTP của người chế biến (câu 16).
13


2.8. Tiêu chuẩn đánh giá :
2.8.1. Đánh giá về kiến thức


2.11. Hạn chế của đề tài:
Sai lệch thông tin trong nghiên cứu này có thể xảy ra vì những biến số về
VSATTP không thể đo lường chính xác được mà chỉ đánh giá qua yếu tố chủ quan
của người phỏng vấn.
Nghiên cứu chỉ xác định tỷ lệ kiến thức và thực hành đúng của NCBTP ở
một thời điểm nhất định.
Hạn chế của đề tài là chỉ khảo sát về kiến thức và thực hành VSATTP, chưa
khảo sát đến những điều kiện về cơ sở vật chất của bếp ăn nên cũng hạn chế một số
biện pháp can thiệp nhằm cải thiện tình hình VSATTP và kết quả nghiên cứu chỉ có
giá trị trên địa bàn xã Tam Hiệp.

15


CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Các thông tin chung:
Bảng 3.1. Thông tin chung:
TT

1

Chỉ số

Tuổi

2

Giới tính

Tổng

58

100

Nam
Nữ
Tổng
Công lập
Bán công
Tư thục
Tổng
Sơ cấp
Trung cấp
Cao đẳng, đại học
Tổng
Dưới 36 tháng
Từ 36 tháng trở lên
Tổng

1
57
58
46
0
12
58
0
54

Chỉ số
Định nghĩa về thực phẩm an toàn
Nguyên nhân gây ra thực phẩm
16

Kiến thức đạt
Trước can thiệp
Sau can thiệp
n
%
n
%
39
67,2
55
94,8
24
41,4
54
93,1


không an toàn
Tác hại của thực phẩm không an

3

toàn
Bảo quản thực phẩm trong tủ lạnh


n
%
n
%

Chỉ số
Nguyên nhân gây ô nhiễm thực
phẩm trong quá trình chế biến
Nguyên nhân gây ra ngộ độc thực
phẩm
Thông báo khi có ngộ độc thực
phẩm
Bệnh phẩm giữ lại khi có ngộ độc

29

50

55

94,8

19

32,8

57

98,3


xúc và chế biến thực phẩm
Xử trí khi mắc bệnh

17

Sau can thiệp

n

%

n

%

42

72,4

57

98,3

16

27,6

56

96,6


1

Sử dụng thức ăn thừa

45

77,6

55

94,8

2

Thời gian chế biến đến bữa ăn

56

96,6

57

98,3

3

Nơi lưu mẫu thực phẩm

56

Bảng 3.6. Thực hành về sử dụng trang phục và quy trình chế biến:
Thực hành đạt
STT

Chỉ số

Trước can thiệp

Sau can thiệp

n

%

n

%

1

Trang phục khi chế biến thực phẩm

21

36,2

52

89,7


n

%

n

%

1

Tiếp xúc với thực phẩm đã nấu chín

58

100

58

100

2

Rửa tay

32

55,2

52


n

%

1

Xử lý thực phẩm trong ngăn đá

36

62,1

52

89,7

2

Che đậy thức ăn chín

57

98,3

58

100

3


57

98,3

Trước can thiệp ĐTNC có thực hành về sử dụng TP đều rất thấp có trên 62,1%,
sau can thiệp tất cả thực hành của ĐTNC về sử dụng thực phẩm đều trên 89,7%.

Bảng 3.9. Thực hành về ghi chép và vệ sinh hàng ngày:

20


Thực hành đạt
STT
1
2
3

Chỉ số

Trước can thiệp

Vệ sinh bếp
Ghi chép giao nhận thực
phẩm hàng ngày
Quy trình kiểm thực 3 bước
hàng ngày

Sau can thiệp


91,4

4

Đựng rác và chất thải

32

55,2

52

89,7

5

Thời gian đổ rác

49

84,5

56

96,6

Thực hành đúng về ghi chép và vệ sinh hàng ngày trước can thiệp trên
55,2%, sau can thiệp tất cả thực hành của ĐTNC về ghi chép và vệ sinh hàng
ngày đều trên 89,7%.


(100%)
46

OR = 41

(10,9%)
15

(89,1%)
43

(100%)
58

p = 0.000

(25,9%)

(74,1%)

(100%)

Tư thục
Công lập
Tổng

Tổng
12

χ2, OR, CI, p

(60%)

(100%)

3

25

28

(10,7%)

(89,3%)

(100%)

15

43

58

(25,9%)

(74,1%)

(100%)

Tổng


15

39

54

(27,8%)
0

(72,2%)
4

(100%)
4

(0%)
15

(100%)
43

(100%)
58

(25,9%)

(74,1%)

(100%)


13

33

46

(28,3%)

(71,7%)

(100%)

21

37

58

(36,2%)

(63,8%)

(100%)

Tư thục

Công lập

Tổng


Chưa đạt

(73,3%)

(26,7%)

(100%)

OR = 9,075

Kiến thức

10

33

43

Tổng

χ2, OR, CI, p

CI = [2,363-34,846]
p = 0,001

23


Đạt
Tổng

Tổng số ĐTNC làm ở trường công lập đông hơn trường tư thục là 79.3%.
Bởi vì các trường công lập có quy mô lớn hơn, đông cháu hơn nên cần số lượng
NCB nhiều hơn để đúng với quy định, điều lệ của ngành, nhà nước đề ra.
ĐTNC có trình độ chuyên môn chủ yếu là trung cấp chiếm 93,1% vì NCB
bếp ăn chưa được Đảng và nhà nước quan tâm, có một chế độ ưu đãi nào như công
chức, hỗ trợ 35% như giáo viên trực tiếp giảng dạy. Chính vì vậy những người có
trình độ cao hơn họ tìm những nơi làm việc có thu nhập cao hơn để đáp ứng nhu
cầu cuộc sống.
Đa số ĐTNC ở đây tuổi đời còn khá trẻ chính vì vậy mà tuổi nghề cũng
không cao. Những người làm việc dưới 36 tháng chỉ chiếm 46,6% còn lại chủ yếu là
làm việc trên 36 tháng chiếm 53,4%.
4.2. Kiến thức của người chế biến thực phẩm tại các BATT.
* Kiến thức về thực phẩm an toàn của người chế biến:
Nguyên nhân gây ra TP không an toàn có 93,1% người chế biến đều biết là
do các tác nhân sinh học, hoá học và vật lý. So với nghiên cứu của Phạm Thị Thanh
Vân năm 2012 cũng cho kết quả tương tự 88,6% [22]. Đây là điểm đáng lưu ý vì
trong thời điểm hiện nay việc lạm dụng các hóa chất trong bảo quản thực phẩm là
vấn đề mà cả xã hội quan tâm, vì ảnh hưởng của các hóa chất này không chỉ gây ra
các bệnh cấp tính mà còn có nguy cơ gây ra các bệnh mãn tính ảnh hưởng về lâu dài
đối với sức khỏe con người.
Tỷ lệ NCB biết được tác hại của TP không an toàn gây ra các bệnh nguy
hiểm cho người sử dụng cũng rất cao chiếm 96,6%, Kết quả của chúng tôi cao hơn
rất nhiều so với kết quả nghiên cứu của Ngô Thị Nhu, Nguyễn Quốc Huy năm 2010
chỉ với 61,7% người dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định biết tác hại của thực
phẩm gây ra [17]. Kết quả nghiên cứu tác hại thực phẩm không an toàn của Nguyễn
Văn Uynh và cộng sự năm 2013 không khả quan hơn so với kết quả của chúng tôi
là 68,2% [20]. So với nghiên cứu ở các nước phát triển về các tác hại của thực phẩm
không an toàn gây ra thì nghiên cứu của chúng tôi cũng cao hơn so với nghiên cứu
của Marsha Surujlal và Neela Badrie, Đại học West Indies với đối tượng tương tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status