Thực trạng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHNo & PTNT huyện Thanh Trì, Hà Nội - Pdf 74

Thực trạng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại NHNo & PTNT huyện Thanh Trì, Hà Nội.
2.1 Khái quát quá trình hoạt động kinh doanh tại
NHNo & PTNT huyện Thanh Trì, Hà Nội.
2.1.1 Thực trạng các DNVVN hiện nay ở Việt Nam.
ở nớc ta mặc dù với xuất phát điểm là một nền kinh tế yếu kém, chủ yếu là
sản xuất nhỏ nhng sau khi thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế nớc ta đã và đang
phát triển nhanh, ổn định, giảm lạm phát, tăng xuất khẩu và thu hút vốn đầu t nớc
ngoài, quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới ngày càng mở rộng
và phát triển. Cũng trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng và Nhà nớc ta
đã nhận thức đợc vai trò của nền kinh tế thị trờng đa thành phần, đa sở hữu nên đã
có những chủ trơng, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi để phát triển những
tế bào của nền kinh tế- đó là các loại hình doanh nghiệp trong đó có các DNVVN.
Bức tranh thực tế trong phát triển kinh tế nớc ta hiện nay cho thấy DNVVN
chiếm một vị trí rất quan trọng. Toàn bộ khu vực DNVVN tạo ra khoảng 31% giá
trị tổng sản lợng công nghiệp hàng năm, khoảng 24%- 25% GDP trong toàn quốc.
Nếu căn cứ vào tốc độ tăng trởng GDP của các DNVVN nh hiện nay có thể thấy
rằng tốc độ tăng trởng, tiềm năng phát triển để đạt đợc những mục tiêu kinh tế- xã
hội đã đề ra trong giai đoạn tới phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của các
DNVVN chứ không phải chỉ có phụ thuộc vào các công trình, dự án lớn.
Theo số liệu thống kê, năm 1991 cả nớc có 132 doanh nghiệp, công ty
TNHH đăng ký kinh doanh, hầu hết là các DNVVN. Đến thời điểm 1/7/1995, cả
nớc có 23.708 doanh nghiệp thì trong đó 87,8% thuộc vào loại hình DNVVN tức
là khoảng 20.815 doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn dới 1 tỷ đồng là 70,3%, vốn
từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng chiếm 17,5%. Nếu dựa vào tiêu chí vốn thì DNVVN chiếm
99,6% trong tổng số doanh nghiệp t nhân, chiếm 97,4% trong tổng số các HTX,
chiếm 94,7% trong tổng số các công ty TNHH, chiếm 42,4% trong tổng số các
công ty cổ phần và chiếm 65,9% trong tổng số các doanh nghiệp nhà nớc.
Sau năm 1995, con số điều tra chính xác về DNVVN cha đợc thực hiện nh-
ng nếu coi DNVVN chiếm đại đa số trong các doanh nghiệp t nhân, thì giai đoạn
sau năm 2000, năm đầu tiên sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực thi hành thì

nay DNVVN khu vực nông thôn đang ngày càng phát triển góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế không những trong nông nghiệp mà trong toàn bộ nền
kinh tế theo hớng công nghiệp hoá. Một số địa phơng, DNVVN của các làng nghề
ở nhiều xã đã tạo ra giá trị sản lợng tiểu thủ công nghiệp từ 150- 250 tỷ đồng/
năm, chiếm tới trên 90% GDP của các xã đó. Đáng chú ý là đã có nhiều làng nghề
hàng năm, kim ngạch xuất khẩu khá lớn nh Bát Tràng (Hà Nội) xuất khẩu 10 triệu
USD, La Phù (Hà Tây) xuất khẩu 15 triệu USD
Theo xu thế tất yếu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bộ phận
lao động d thừa ở nông thôn dịch chuyển sang khu vực phi nông nghiệp, nhng nếu
lao động trong nông nghiệp giảm dần mà không tìm kiếm đợc việc làm thì quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá lại tạo ra đội ngũ lao động thất nghiệp trong
nông thôn, nông dân mất đât, mất việc làm, lâm vào cảnh khó khăn. Hớng chuyển
dịch khác là số lao động tách khỏi nông nghiệp tập trung vào đô thị lớn để tìm
kiếm việc làm sẽ dẫn đến việc tạo ra dân số ở đô thị quá lớn, làm nảy sinh nhiều
vấn đề kinh tế, xã hội môi trờng nhng DNVVN đợc thành lập trong nông thôn đã
giải quyết đợc vấn đề đó.
Hàng năm nớc ta có khoảng 1 triệu ngời đến tuổi lao động vì vậy vấn đề
việc làm đợc coi là một vấn đề của xã hội. Hiện nay, hàng vạn doanh nghiệp t
nhân và các cơ sở tiểu thủ công nghiệp đã thu hơn 10 triệu lao động có việc làm,
chiếm khoảng 27% lực lợng lao động đang làm trong các ngành kinh tế, đặc biệt
góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm cho khu vực nông thôn, nâng cao
thu nhập cho nông dân nông thôn với mức lơng khoảng 500-700 ngàn đồng/tháng.
Đánh giá đúng đắn tiềm năng và vai trò của các DNVVN trong sự nghiệp
phát triển kinh tế nớc nhà, Đảng và Nhà nớc đã có nhiều chính sách nhằm khuyến
khích hoạt động và kích thích tăng trởng các DNVVN, cụ thể nh sự ra đời của
Hiệp hội các DNVVN nhằm t vấn cho các doanh nghiệp hớng đầu t có hiệu quả:
về sản phẩm, về số lợng, giá cả, sử dụng công nghệ ; thành lập Quỹ bảo lãnh TD
trợ giúp DNVVN khi không đủ tài sản thế chấp; nghị định của Chính phủ số
90/2001/NĐ- CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNVVN; Quyết định của
Thủ tớng Chính phủ số 12/2003/QĐ-TTg ngày 17/1/2003 về Hội đồng khuyến

một chiến lợc kinh doanh lâu dài. Một số đại diện của các doanh nghiệp phải thừa
nhận là họ hầu nh có rất ít thông tin về thị trờng liên quan đến doanh nghiệp họ.
Nếu có, nguồn thông tin đó cũng khó đảm bảo độ chính xác và kịp thời, điều này
ảnh hởng không nhỏ đến quyết định kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập
khẩu.
Nhân tố con ngời là rất quan trọng và không thể thiếu đợc trong kinh
doanh. Phần nhiều các chủ doanh nghiệp tự làm, tự học, ít đợc đào tạo bài bản về
quản lý và nghiệp vụ, trình độ tay nghề của ngời lao động cũng yếu kém. Số liệu
điều tra cho thấy, chỉ có 5,13% lao động trong khu vực ngoài quốc doanh có trình
độ đại học, tập trung vào các công ty TNHH và công ty cổ phần, khoảng 42,5%
chủ DNVVN mới thành lập đã từng là cán bộ, nhân viên nhà nớc, 48,4% chủ
DNVVN không có bằng cấp chuyên môn, chỉ có 31,2% có trình độ từ cao đẳng
trở nên. Trình độ văn hoá ngời lao động chủ yếu là văn hoá cấp II và cấp III, số
ngời đợc đào tạo tay nghề chính quy chỉ 10%, một con số quá thấp trong khi tình
trạng thừa thầy, thiếu thợ vẫn đang lan tràn đã ảnh hởng không nhỏ đến tình
hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Về phía Nhà nớc, vai trò của DNVVN hiện nay đã đợc quan tâm nhng còn
nhiều hạn chế. Điều này xuất phát từ chỗ còn thiếu một sân chơi bình đẳng giữa
các DNVVN và các doanh nghiệp quốc doanh, khung pháp lý cho các DNVVN
cha rõ ràng, sự ủng hộ của các cơ quan chức năng còn hạn chế Chính những
nguyên nhân này kiến cho các DNVVN cha phát huy hết hiệu quả hoạt động của
nó. Trong xu thế hội nhập thế giới, đặc biệt sự gia nhập vào AFTA năm 2006 sẽ
tạo ra những cơ hội và phải đối mặt với không ít những thách thức buộc các doanh
nghiệp nói chung và các DNVVN nói riêng ở Việt Nam ngay từ bây giờ cần khắc
phục những hạn chế để có thể vững chắc trong một thơng trờng mới.
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNoTT.
2.1.2.1 Một số thuận lợi và khó khăn trong quá trình kinh doanh.
Thời cơ và thuận lợi
NHNo & PTNT huyện Thanh Trì (sau đây gọi tắt là NHNoTT) nằm ở
huyện Thanh Trì, một huyện ngoại thành ở cửa ngõ phía Nam của thành phố Hà

501.100
221.904
65.403
10.682
15,01
5,05
2. Công nghiệp
3. Thơng mại
128.846
54.967
159.475
65.000
30.629
10.033
18,4
18,7
201.724
78.481
42.249
13.481
26,4
20,74
(Nguồn: Uỷ ban nhân dân huyện Thanh Trì)
Nh vậy, xu hớng phát triển kinh tế của huyện Thanh Trì chủ yếu tăng mạnh
ở các ngành công nghiệp và thơng mại dịch vụ, năm 2001 GTSX ngành công
nghiệp tăng 18,4% so với năm 2000, sang năm 2002 tăng ở mức cao hơn là 26,4%
so với cùng kỳ năm trớc, ngành thơng mại, dịch vụ cũng tăng tơng tự, năm 2001
tăng 18,7% so với năm 2000 và tiếp tục tăng trong năm 2002 ở mức 20,74% so
với năm 2001 trong khi đó GTSX ngành nông nghiệp tăng nhng ở tốc độ yếu chỉ
từ 2%- 5%, do nguyên nhân chính là việc thu hẹp đất sản xuất. Điều kiện thuận

xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chi phối quá trình phát triển của nền kinh
tế.
Tuy rằng huyện Thanh Trì nằm sát với nội thành Hà Nội nhng vẫn mang
tính chất một vùng nông thôn nên dù có phát triển nhng phát triển cũng rất hạn
chế, cái gì cũng mới manh nha nên kinh tế của huyện không thể một sớm, một
chiều mà vững mạnh và ổn định đợc.
Vị trí ngoại thành cũng có nhiều bất lợi nh không đợc nhiều ngời biết đến
nên các giao dịch hầu nh cũng bó hẹp trong huyện; cơ hội tiếp cận nhanh, chính
xác các thông tin của thị trờng vẫn bị hạn chế; không có điều kiện tiếp xúc thờng
xuyên với các khu công nghiệp, thơng mại lớn của đất nớc nên cơ hội tìm kiếm
khách hàng có nhu cầu lớn cũng rất ít
Do từ trớc đến nay phần lớn đất để dùng làm nông nghiệp nên diện tích
dành cho công nghiệp và thơng mại, dịch vụ rất hạn chế, quá trình đô thị hoá
nhanh cũng không thay đổi ngay đợc lề, lối ở nông thôn, trong nông nghiệp mà
điều đó cần thời gian, thêm vào đó là trình độ dân trí của ngời dân nông thôn chủ
yếu là trình độ văn hoá thấp vì vậy việc tiếp thị các dịch vụ của ngân hàng còn
khó khăn do họ cha hiểu hết tác dụng của các dịch vụ đó.
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trởng của các ngành công nghiệp,
thơng mại, dịch vụ có tăng hơn nhng tỷ trọng GTSX của các ngành này trong tổng
GTSX toàn huyện lại không ở mức cao nhất.
Đồ thị 2.2 Tỷ trọng các ngành kinh tế ở huyện Thanh Trì
(Đơn vị:%)
Đồ thị 2.2 cho thấy tỷ trọng GTSX của ngành công nghiệp trung bình chỉ
hơn 30% tổng GTSX toàn huyện. Năm 2000 ngành công nghiệp chiếm 33,15%,
ngành thơng mại chiếm 14,15%, cộng cả hai ngành không bằng GTSX do ngành
nông nghiệp tạo ra, năm 2001 tơng đơng ở con số trớc, công nghiệp chiếm 36,6%,
thơng nghiệp chiếm 14,93% nhng GTSX hai ngành cộng lại đã lớn hơn ngành
nông nghiệp và năm gần đây nhất, năm 2002 ngành công nghiệp đã tăng GTSX,
chiếm tỷ trọng 40,25%, ngành thơng nghiệp chiếm 15,47% tổng GTSX toàn
huyện. Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hoá nhanh thì tỷ trọng này vẫn cha phù hợp,

Tổng chi 18.047 13.577
Lãi 4.555 7.612
(Nguồn: Phòng kinh doanh)
Nh vậy, hai năm qua hoạt động kinh doanh của NHNoTT đã cơ bản có lãi,
có nguồn để thực hiện mở rộng quy mô sản xuất, tháng 2/2001 đa vào hoạt động
một chi nhánh nữa là chi nhánh Linh Đàm, năm 2002 mở thêm 2 phòng giao dịch
Vĩnh Tuy và Khơng Đình để gần dân hơn, dễ dàng tiếp cận với khu công nghiệp
và 2 phờng nội thành Hạ Đình, Khơng Đình, bên cạnh đó NHNoTT không ngừng
nâng cao cơ sở hạ tầng bằng việc xây lại trụ sở chi nhánh ngân hàng cấp 4 là ngân
hàng Cầu Biêu vào cuối năm 2000 và cuối năm 2002 là ngân hàng Lĩnh Nam,
thông qua hoạt động đó ngân hàng đã tạo hình ảnh tốt cho khách hàng của mình.
Cũng từ quỹ thu nhập này, đời sống của cán bộ nhân viên từng bớc đợc cải thiện,
tạo ra sự phấn khởi trong lao động nên hiệu quả công việc cũng đợc nâng lên.
Năm 2001 tổng thu của NHNoTT đạt 22.602 trđ trong khi chi ra khoảng
18.047 trđ nên chênh lệch giữa thu chi là 4.555 trđ, nhng bớc sang năm 2002 cả
tổng thu và tổng chi đều giảm, thu giảm 1.413 trđ, tơng đơng với 6,25%, tổng chi
giảm 4.470 trđ tơng đơng 24,76%, nhng do tốc độ giảm của tổng chi nhanh hơn
tốc độ giảm của tổng thu, nên kết quả lãi cuối cùng thu đợc là 7.612 trđ, tăng
3.057 trđ so với cùng kỳ năm 2001, tơng đơng với mức tăng 67,13%. Điều này
cho thấy, mặc dù thu có giảm nhng chi của ngân hàng đã rất tiết kiệm chỉ chi cho
những việc cần thiết, đó là cố gắng lớn trong công tác quản lý tài chính của
NHNoTT nên quỹ thu nhập cuối cùng của ngân hàng ngày càng mạnh, tạo đà cho
các hoạt động tiếp theo của NHNoTT đợc phát triển cả về số lợng và chất lợng.
Hoạt động huy động vốn
Với t cách là một trung gian tài chính chủ yếu thực hiện nghiệp vụ đi vay
để cho vay truyền thống nên ở mỗi ngân hàng hoạt động huy động vốn, tạo nguồn
ổn định cho ngân hàng có ý nghĩa quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Vì vậy, ngân hàng thờng xuyên quan tâm bổ sung nguồn vốn của mình thông qua
rất nhiều hình thức nh tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, qua
phát hành chứng chỉ tiền gửi, đi vay, phát hành trái phiếu hoặc tạo vốn thông

1.420 trđ (chiếm 31% chênh lệch thu- chi của năm 2001). Bên cạnh đó NHNoTT
còn linh hoạt xử lý lãi tiền gửi để thu hút nguồn tiền gửi của công ty phân lân Văn
Điển, số tiền thờng xuyên gửi tại NHNoTT là 6tỷ (trớc đây gửi tại NHĐT).
Bớc sang năm 2002, theo kế hoạch phải huy động đợc 300 tỷ đồng vậy nên
ngay từ đầu năm, tất cả cán bộ nhân viên NHNoTT đều nhận định rõ trách nhiệm
của mỗi ngời. Tiếp tục bám sát các dự án có tiền đền bù, trong đó hai chi nhánh
ngân hàng Lĩnh Nam và ngân hàng Linh Đàm là có nguồn vốn tăng trởng rất
mạnh do vị thế của 2 ngân hàng này gần nội thành hơn nên giá đất bán cao, tuy
nhiên vẫn không quên khai thác nguồn vốn ở ngân hàng Cầu Biêu và Ngũ Hiệp,
nơi có dự án khu du lịch sinh thái tại xã Đông Mỹ, Khu công nghiệp Liên Ninh.
Trong tơng lai gần nguồn vốn của NHNoTT sẽ tăng trởng mạnh từ: Dự án cầu
Thanh Trì, vành đai 3 đờng 70, khu đô thị mới Pháp Vân- Tứ Hiệp.
Tính đến cuối năm 2002, tổng nguồn vốn huy động là 317.074 triệu đồng, đạt
105,69% so kế hoạch cấp trên giao, tăng 96.481 triệu đồng so với cùng kỳ năm ngoái
tức là tăng 43,74%. Cơ cấu nguồn vốn đến 31/12/2002 nh sau:
Tiền gửi không kỳ hạn: 45.636 trđ chiếm tỷ trọng 14,4%
Tiền gửi có kỳ hạn <12
th
:201.687 trđ chiếm tỷ trọng 63,6%
Tiền gửi kỳ phiếu: 65.751trđ chiếm tỷ trọng 20,7%
Tiền gửi ngoại tệ: 4.000 trđ chiếm tỷ trọng 1,3%
Nếu xét theo loại tiền gửi, bao gồm tiền gửi VNĐ và tiền gửi bằng ngoại tệ,
thì năm sau luôn cao hơn năm trớc, tuy nhiên tiền gửi VNĐ vẫn chiếm đại đa số,
khoảng 98% trở nên, năm 2002 đạt 313.074 trđ tăng so với năm 2001 là 95.427trđ
tơng đơng 43,84%, tiền gửi ngoại tệ những năm 2000 trở về trớc không đợc huy
động đến năm 2001 hình thức huy động này mới xuất hiện với số lợng (quy đổi
VNĐ) là 2.946 trđ và năm 2002 là 4.000 trđ, tăng 1.054 trđ tơng ứng 35,77% so
với năm 2001 chiếm tỷ trọng 1,3% trong tổng nguồn vốn huy động. Việc huy
động tiền gửi bằng ngoại tệ đạt con số ít nh vậy là do lợng ngoại tệ trên địa bàn rất
ít vì chủ yếu là dân nông nghiệp, ít liên quan đến các giao dịch quốc tế, thêm vào

chất lợng phục vụ của NHTT nên tiền gửi của họ chủ yếu theo hình thức không
kỳ hạn để đáp ứng nhu cầu thanh toán nhanh, kịp thời và an toàn.
Tình hình sử dụng vốn
Song song với nghiệp vụ huy động vốn thì nghiệp vụ sử dụng vốn có một
vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nếu huy động tốt
nhng không cho vay đợc sẽ gây ứ đọng vốn, lãng phí vốn và nh vậy nguồn vốn
không đợc sử dụng một cách hiệu quả. Vì vậy, đối với hoạt động này, không riêng
ngân hàng nào mà tất cả các tổ chức TD tham gia vào kinh doanh tiền tệ đều coi
là mục tiêu số một.
Tuy nhiên, do đặc thù của huyện Thanh Trì là chuyên sản xuất nông nghiệp
với diện tích canh tác rất lớn, trong khi đó số lợng các doanh nghiệp trên địa bàn
lại không nhiều cộng với tình hình kinh tế trong nớc gặp khó khăn, môi trờng đầu
t không thuận lợi nên hàng hoá, nông sản nhiều khi không tiêu thụ đợc dẫn đến
nhiều cơ sở sản xuất không dám mở rộng hoạt động kinh doanh. Thêm vào đó là
tình hình tiêu dùng trong nớc tuy có tăng nhng chỉ số tiêu dùng vẫn thấp do ảnh h-
ởng của chu kỳ suy thoái kinh tế thế giới cùng với sự cạnh tranh gay gắt giữa các
đơn vị trên cùng địa bàn đã gây cho NHNoTT gặp không ít khó khăn trong quá
trình mở rộng và nâng cao chất lợng TD. Đứng trớc những khó khăn này,
NHNoTT đã không ngừng phấn đấu hoàn thành các mục tiêu đặt ra trong phơng
hớng đầu năm ở tất cả các mặt trong đó trọng tâm là hoạt động cấp TD, cụ thể là
cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn của mọi thành phần kinh tế với chất lợng
cao nhất. Tổng doanh số cho vay cũng nh d nợ cho vay của NHNoTT tăng trởng
và ổn định qua các năm, d nợ trong hạn đợc mở rộng, NQH ngày càng giảm, vòng
quay vốn TD tăng nhanh là cơ sở cho hoạt động mở rộng và nâng cao chất lợng
TD của ngân hàng.
Biểu 2.5 Tình hình cho vay vốn của NHNoTT qua các năm:

Biểu 2.5 cho thấy tình hình d nợ ở NHNoTT qua các năm 2000, năm 2001
và năm 2002 tơng đối ổn định và tăng trởng đều. Năm 2001 tăng so với năm 2000
là 30.761 trđ tơng ứng 27,77%, năm 2002 tăng trởng có xu hớng chững lại chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status