TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁÒ DỤC TIỂU HỌC
PHẠM THỊ THẢO
TÌM HIẺU HÀNH ĐỘNG PHÂN TÍCH CỦA HỌC SINH LỚP
3 QUA MÔN ĐẠO ĐỨC VÀ MÔN TIÉNG VIỆT
KHOÁ LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •
Chuyên ngành: Tâm lí học
Người hướng dẫn khoa học GVC.TS. NGUYỄN ĐÌNH MẠNH
HÀ NỘI – 2015
Đe hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “Tìm hiểu hành động phân tích của học sinh
lớp 3 qua môn Đạo đức và môn Tiếng việt”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn 1'ất tận tình của
thầy giáo - TS. Nguyễn Đình Mạnh , sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu
học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, sự giúp đỡ của cô giáo chủ nhiệm lóp 3A 3, cô giáo
chủ nhiệm lớp 3A4 cùng các em học sinh lóp 3A3 và 3A4.
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiếu học,
các cô giáo ở trường Tiểu học Trung Nhị - Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn thể các em học
sinh lớp 3A3 và 3A4 Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo - TS. Nguyễn Đình
LỜI CẢM
Mạnh đã tận tình hướng dẫn và tạo nhũng điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội,26 tháng 4 năm 2015 Sinh viên thực hiện
Phạm thị thảo
trọng nhất là giáo viên phải hiểu rõ đặc điểm, bản chất của quá trình học sinh lĩnh
hội và vận dụng tri thức của các môn học.
Đối với học sinh Tiểu học, hành động phân tích là hành động tiên quyết
trong việc lĩnh hội, tiếp thu và vận dụng tri thức để giải bài tập. Khi đứng trước
một tình huống có vấn đề, để giải quyết nhiệm vụ học tập của mình, học sinh phải
tiến hành phân tích tình huống, ngữ liệu, giả thiết... trên cơ sở đó các em mới có
thể lập kế hoạch giải quyết nhiệm vụ học. Đây là giai đoạn định hướng hành
động. Giai đoạn này quyết định kết quả phần thực hiện hành động. Hành động
phân tích vừa là cơ sở, vừa là công cụ để học sinh thực hiện các hành động học
khác.
Có thế nói: hành động phân tích là một hành động không thế thiếu trong
quá trình học sinh tiếp thu và vận dụng tri thức.
Là sinh viên khoa Giáo dục Tiếu học, nhận thấy các công trình nghiên cứu
về hành động phân tích còn chưa nhiều, đặc biệt chưa có một công trình nào
nghiên cứu về hành động phân tích của học sinh lớp 3,vì vậy tôi chọn đề tài: “Tìm
hiếu hành động phân tích của học sinh lớp 3 qua môn Đạo đức và môn Tiếng
việt”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm phát hiện đặc điểm hành động phân tích của học sinh lớp
3, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp nhằm phát triển hành động phân tích cho học
sinh qua môn Đạo đức và môn Tiếng việt.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: thực trạng hành động phân tích qua môn Tiếng
việt và môn Đạo đức của học sinh.
- Khách thể nghiên cún: 92 học sinh lóp 3 Trường Tiểu học Trung NhịPhúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Giả thuyết khoa học
Hành động phân tích đã được hình thành và phát triển ở học sinh lớp 3, tuy
nhiên trình độ thực hiện hành động phân tích để học bài mới và thực hành là
6.4.
Phương pháp trắc nghiệm
Thiết kế các bài tập trắc nghiệm môn Tiếng việt và môn Đạo đức để đo
thực trạng hành động phân tích của học sinh.
6.5. Phương pháp thực nghiệm
- Thực nghiệm phát hiện: thiết kế một hệ thống bài tập môn Tiếng việt và
Đạo đức để đo thực trạng thực hiện hành động phân tích của học sinh lớp
3.
- Thực nghiệm hình thành: Hoàn thành giáo án và dạy thử một số tiết môn
Tiếng việt và môn Đạo đức đế phát triển hành động phân tích cho học sinh.
6.6. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động
Phân tích các sản phẩm của học sinh: vở bài tập, bài kiếm tra để đánh giá
hành động phân tích của học sinh.
6.7. Phương pháp xử lí số liệu
Dùng toán thống kê đế xử lí số liệu, so sánh, đối chiếu để rút ra kết
luận.
7. Phạm vi nghiên cứu
Đe tài chỉ nghiên círu đặc điểm hành động phân tích của
học sinh lóp 3 trong quá trình học bài mới, giải bài
tập môn Tiếng việt và môn Đạo đức.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đe tài này bước đầu tìm hiểu đặc điểm hành động phân tích của học sinh
lớp 3 qua việc học bài mới, giải bài tập và thử nghiệm biện pháp hình thành và
phát triển hành động phân tích của học sinh qua việc tổ chức cho học sinh tiếp thu
tri thức mới.
nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ” [3, tr 101, 102]. Đánh giá vai trò của
hành động phân tích trong học tập, ông khẳng định: “Hành động phân tích là hành
động tiên quyết trong việc lĩnh hội trí thức, khái niệm khoa học của học sinh Tiểu
học” [3, tr 103].
Nguyễn Kế Hào đã nhận xét: “Đến cuối bậc Tiểu học các em có thể phân
tích đối tượng mà không cần tới những hành động trục tiếp với đối tượng, các em
có khả năng phân tích những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng
ngôn ngữ” [10, tr 2006].
Bùi Văn Huệ, Phạm Thị Hạnh Mai, Nguyễn Xuân Thức đã chỉ ra rằng:
hành động phân tích phải do mỗi học sinh tự thực hiện, giáo viên chỉ là người
hướng dẫn hay tổ chức. “Học sinh phải hành động thực sự (chứ không phải chỉ
quan sát hay nghe kể...) mà làm biến đổi đối tượng lĩnh hội. Nhờ đó phát hiện
được logic của đối tượng nghiên cứu, phát hiện ra mối quan hệ chung của hệ
thống đối tượng cần khảo sát” [4, tr 218].
Đánh giá về vai trò của hành động phân tích, Lê Khanh đã khẳng định:
“Hành động phân tích là phương tiện quan trọng nhất
đi sâuvào đối tượng,
phát hiện ra nguồn gốc xuất phát của khái niệm cũng
như cấu tạo logic của
nó” [7, tr 87].
Điểm qua các công trình nghiên cún, cung cấp cho chúng tôi cơ sở lí luận
và thực tiễn về hành động phân tích của học sinh cuối bậc Tiểu học. Tuy nhiên
chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm hành động phân tích của học sinh
lớp 3 đã được hoàn thiện và giảm tải.
Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể, chủ thể là con người đang tiến hành
hoạt động.
Hoạt động bao giờ cũng có mục đích, mục đích là mô hình về sản phẩm mà
chủ thể đạt được sau khi kết thúc hoạt động.
Hoạt động được thực hiện theo cơ chế gián tiếp, trong quá trình hoạt động
con người phải sử dụng công cụ.
1.2.1.2. Khái niệm hành động
Hoạt động bao giờ cũng được tiến hành bằng các hành động cụ thể và là tổ
họp các hành động. Hành động được A.N.Lêônchiép định nghĩa là quá trình bị chi
phối bởi các biểu tượng về kết quả phải đạt được, nghĩa là quá trình nhằm một đối
tượng được ý thức cần phải chiếm lĩnh. Khái niệm mục đích quan hệ với hành
động cũng giống khái niệm động cơ quan hệ với hoạt động.
Mục đích của hành động là đối tượng chủ thể cần chiếm lĩnh, nó chứa đựng
nội dung tâm lĩ và kĩ thuật hình thành, vì vậy nó có khả năng tồn tại độc lập, tồn
tại trong mối quan hệ với hành động, dẫn đến hành động có tính độc lập và tính
xác định cao. Trong tình huống độc lập, hành động được thực hiện nhằm giải
quyết hai câu hỏi: Đạt được cái gì và đạt được cái đó bằng cách nào, như thế nào?
Đe thực hiện một hành động nào đó, ít nhất phải thoả mãn hai điều kiện:
Một mặt về phía chủ thể cần ý thực được đối tượng cần chiếm lĩnh, mặt khác về
phía khách quan hoạt động bị chi phối bởi 2 yếu tố là những hoàn cảnh vật chất
bên ngoài (xã hội, tự nhiên) và logic kĩ thuật để hình thành đối tượng. Như vậy
hành động phải thực hiện nhiệm vụ (nhiệm vụ là mục đích đề ra trong những hoàn
cảnh nhất định). Muốn vậy là phải có phương thức hành động là thao tác. Thao tác
là cơ cấu kĩ thuật của hành động, là phương thức triển khai của hành động [6],
thao tác không phải là đơn vị tâm lí độc lập, nó không có mục đích riêng mà chỉ là
phương tiện để thực hiện mục đích của hành động nào đó phù hợp với nó về logic:
“Thao tác được sinh thành từ hành động, nó là kết quả của việc cải tổ hành động,
do việc đưa hành động này vào hành động kia do diễn ra “kĩ thuật hoá hành
bao gồm một hệ thống các thao tác. Thao tác vốn là một hành động học được chủ
thể dùng nó để thực hiện một hành động khác. Các thao tác của một hành động
học tập phải thỏa mãn các điều kiện: tính chất tuyến tính (các thao tác được sắp
xếp theo thời gian) tính chất hữu hạn (số lượng các thao tác không thừa không
thiếu) tính chất xác định, tính chất hiệu quả. Xét hình thức tồn tại của khái niệm
thì hành động học tập có 3 loại: thao tác vật chất, thao tác tinh thần, thao tác trí óc.
Việc chuyển hóa hành động học tập thành thao tác học cho học sinh phải được
tiến hành trên 2 phương diện: luyện tập và rút gọn hành động học, tiếp theo phải
đưa thao tác đó vào trong hành động khác.
Hành động có ba hình thức (xét theo quá trình chuyển vào trong). Đối
tượng của hoạt động học là tri thức khoa học, khái niệm khoa học. Một khái niệm
khoa học (với tư cách là sản phẩm tâm lí) có ba hình thức tồn tại cơ bản:
❖ Hình thức vật chất: ở đây khái niệm được khách quan hóa,trú ngụ
trên các vật chất hay vật thay thế.
❖ Hình thức “mã hóa”: trong trường hợp này, logic của khái niệm
chuyển vào trú ngụ ở một vật liệu khác (kí hiệu, lời nói).
❖ Hình thức tinh thần: cư ngụ trong tâm lí cá thể.
Tương ứng với ba hình thức tồn tại của khái niệm (sản phẩm giáo dục) là
ba hình thức của hành động học. Đó là:
❖ Hình thức hành động vật chất trên vật thật hoặc vật thay thế. Ở đây
chủ thể dùng những thao tác vật chất, tác động trục tiếp vào đối
tượng. Chính thông qua hành động này làm cho logic của khái niệm
trú ngụ trên vật thật (hoặc vật thay thế) được bộc lộ ra ngoài.
❖ Hình thức hành động với lời nói và các hình thức mã hóa khác tương
ứng với đối tượng. Mục đích của hình thức hành động này là dùng
lời nói cũng như các hình thức mã hóa khác để chuyển logic của
khái niệm đã được phát hiện ở hành động vật chất vào trong tâm lí
của chủ thể hành động.
viên động viên, nhận xét đánh giá kịp thời thì dần dần hình thành mối quan hệ
thân thiết giữa học sinh với tri thức. Nghĩa là câu hỏi học để làm gì được trả lời
qua tùng tiết học thì động cơ học tập được hình thành.
b.Nhiệm vụ học tập
Nhiệm vụ học tập là hình thức cụ thể hóa nội dung học thành mục đích và
phương tiện học.
- Mục đích học tập là hình thức cụ thể hóa đối tượng học, đối tượng học tri
thức nói chung còn mục đích học là tri thức trong từng bài. Mỗi mục đích học
hình thành cho học sinh một năng lực mới. Mục đích học chỉ thực sự hình thành
khi học sinh thực hiện hoạt động học.
- Phương tiện học là những cái học sinh dùng để đạt được mục đích học,
có 2 loại phương tiện:
+ Phương tiện bên ngoài: đồ dùng học tập (do quá trình khác làm ra).
+ Phương tiện bên trong: vốn kinh nghiệm, tri thức đã hình thành ở học
sinh, loại phương tiện này do chính mỗi học sinh tạo ra. Đây là phương tiện chủ
yếu trong hoạt động học.
Quá trình học tập là quá trình học sinh xác lập mối quan hệ mục đích phương tiện để tạo ra sản phẩm mới đạt được mục đích học tập. Trong quá trình
học tập luôn có sự chuyển hóa từ mục đích thành phương tiện, đó là quy luật cơ
bản của hoạt động học tập. Quá trình học là quá trình giải quyết nhiệm vụ học,
mỗi nhiệm vụ học mang lại cho học sinh những cái mới và được thế hiện ở kết
quả học tập, kết quả đó có thể là nắm vững tri thức mới hoặc kĩ năng mới. Đe giải
quyết nhiệm vụ học thì học sinh phải hiểu được nhiệm vụ học trên cơ sở phân tích
nhằm phát hiện các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố trong nhiệm vụ học
cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố đó, từ đó vạch ra kế hoạch giải quyết nhiệm
vụ học. Đây là giai đoạn định hướng hành động, giai đoạn này quyết định chất
lượng phần thực hiện hành động [1, tr 72].
c.Hành động học
Học sinh thực hiện nhiệm vụ học bằng các hành động học. Có 3 loại hành
mạnh cơ bắp ở bên ngoài trí óc.
+ Thao tác tinh thần đối lập với thao tác vật chất.
+ Thao tác trí óc là thao tác tinh thần nhưng ở người không phải thao tác
tinh thần nào cũng là thao tác trí óc. Thao tác trí óc đòi hỏi sự chuẩn xác cao, đòi
hỏi một sự rạch ròi.
1.3.
Đặc điếm tâm lí của học sinh lóp 3
Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh Tiểu học. Hoạt động
này bắt đầu hình thành ở lớp 1 và định hình ở lớp 3. Đến lớp 4, lóp 5, học sinh sử
dụng hoạt động học để lĩnh hội nôi dung các môn học. Sự hình thành và phát triển
hoạt động học quy định những biến đổi cơ bản nhất trong các quá trình tâm lí,
thuộc tính nhân cách và trong sự xuất hiện các cấu tạo tâm lí mới đặc trung cho
lứa tuổi Tiểu học. Do hoạt động học định hình ở học sinh lớp 3 mà các phẩm chất
tâm lí mới được hình thành ở các em:
+ Tính chủ định là khả năng xác định mục đích của hành động và tập trung
sức lực để đạt được nó. Học sinh lóp 3 có khả năng điều khiển sự chú ý của mình
théo các yêu cầu của các giờ học. Tính chủ định được thể hiện rõ trong các quá
trình nhận thức, đòi sống tình cảm và ý chí của học sinh. Ở kĩ năng nhận thức
được mục đích của hành động, tìm kiếm và lựa chọn các phương tiện để đạt chúng
và vượt qua các khó khăn, cản trở.
+ Kĩ năng làm việc trí óc là khả năng lập kế hoạch và thực hiện hành động
cho mình ở bên trong. Khi tiến hành hoạt động học và giải quyết các nhiệm vụ ở
các môn học, học sinh lớp 3 có khả năng tìm kiếm, so sánh và lựa chọn các
phương án hành động, sắp xếp trật tự hành động vào một trật tự nhất định và lựa
chọn các phương tiện để thực hiện chúng.
+ Sự phân tích là khả năng phân tích một cách hợp lí và khách quan những
d. Quan hệ với cộng đằng, xã hội
Kính trọng và biết ơn Bác Hồ và nhũng người có công với đất nước, với
dân tộc.
Có tinh thần đoàn kết, hữu nghị với thiếu nhi quốc tế.
Tôn trọng và sẵn lòng giúp đỡ những người xung quanh.
Biết giữ gìn lời hứa với mọi người. Biết lắng nghe.
Tôn trọng quyền tự do cá nhân của người khác và của bản thân.
Biết cảm thông, chia sẻ với những đau thương, mất mát của người khác.
e. Quan hệ với môi trường tự nhiên
Biết sử dụng tiết kiệm nước và bảo vệ nguồn nước sạch.
Biết bảo vệ, chăm sóc cây trồng, vật nuôi.
1.4.1.2.
Vai trò của chương trình môn Đạo đức lớp 3 đối với sự phát triền hành
động phân tích của học sinh
Chương trình môn Đạo đức ở lóp 3 đáp ứng khá đầy đủ mục tiêu phát triển
toàn diện nhân cách cho trẻ và cung cấp một lượng kiến thức khá phong phú về
nhiều mặt của đời sống xã hội. Đồng thời cũng đóng vai trò rất quan trọng trong
sự phát triển hành động phân tích của học sinh.
Đe lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp chuẩn mực trong các
quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống , học sinh phải phân tích
tình huống, phân tích tâm lí nhân vật, phân tích hoàn cảnh xảy ra tình huống... để
xác định việc làm nào là phù hợp với chuẩn mực hành vi đạo đức, đúng với pháp
luật... Từ đó từng bước hình thành thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản
thân, có trách nhiệm với hành động của mình, yêu thương, tôn trọng con người,
mong muốn đem lại niềm vui hạnh phúc cho mọi người; yêu cái thiện, cái đúng,
cái tốt; không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu.
em lĩnh hội tri thức mới.
Khi làm bài tập, học sinh phải phân tích đầu bài một cách tích cực, xác định
những yếu tố đã cho và những yếu tố cần tìm, xem xét để thấy được mối liên hệ
giữa các yếu tố đó, lựa chọn công cụ (chính là các kiến thức có trong đầu) để giải
quyết bài tập. Qua quá trình lặp lại như vậy thì hành động phân tích của học sinh
dần phát triển.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HÀNH ĐỘNG PHÂN TÍCH CỦA HỌC SINH
LỚP 3
2.1.
Thực trạng hành động phân tích qua môn Đạo đức
Khi gặp tình huống có vấn đề, đế giải quyết tình huống đó thì học sinh
phải tiến hành phân tích đề bài, chia vấn đề thành các câu hỏi nhỏ để suy nghĩ và
tìm câu trả lời. Như vậy, để kiểm tra quá trình phân tích của học sinh, chúng tôi
căn cứ vào việc kiểm tra quá trình học sinh khai thác , phân tích, trả lời các câu
hỏi gợi mở để giải quyết các nhiệm vụ của bài học.
Đe kiểm tra hành động phân tích của học sinh lớp 3 trong môn Đạo đức,
chúng tôi căn cứ vào việc đánh giá quá trình học sinh phân tích tình huống, xử lí
tình huống và kết quả xử lí tình huống của học sinh.
2.1.1.
Đặc điếm hành động phân trích của học sinh trong quá trình xử lí các
bài tập về tri thức
Đe kiểm tra hành động phân tích của học sinh trong quá trình thực hiện các
bài tập về tri thức chúng tôi căn cứ vào việc đánh giá kết quả các bài tập theo từng
tiết học cụ thể.
Hoàn thành tôt (A+)
Hoàn thành (A)
Chưa hoàn thành
Lóp
(B)
57,69%
30,77%
11,54%
3A3 (26 học sinh)
3A4
(25 học sinh)
56%
32%
12%
Đây là dạng bài tập tương đôi dễ vì đã có tình huông cụ thể, dạng bài này
chỉ dừng lại ở mức độ tìm, phát hiện. Học sinh chỉ cần nắm chắc kiến thức bài
học và vận dụng thao tác tư duy để xác định những việc làm đó gây ảnh hưởng
tốt hay không tốt đối với hàng xóm là có thể chọn được. Nên kết quả thu được
khá khả quan.
Có 57,69% học sinh lóp 3A3 và 56% học sinh lóp 3A4 đạt mức nhận xét
hoàn thành tốt (A+). Điều này thể hiện các em đã nắm vững được bài học, hiểu
được thế nào là kính yêu Bác Hồ và các hành động thể hiện lòng kinh yêu Bác
Hồ. Hiểu được tại sao đó là các hành động đúng hoặc hành động sai. Khả năng
tư duy và vận dụng kiến thức trong bài học rất tốt.
Có 30,77% học sinh lớp 3A3 và 32% học sinh lóp 3A4đạt mức nhận xét
hoàn thành (A). Điều này thể hiện các em đã nắm tương đối chắc bài học, hiểu
vứt
rác,
xác
súc
vật
chết
..................................................................................................................................
,
không đào xới mặt đường.
Chúng tôi đánh giá theo các tiêu chí sau:
Mức hoàn thành tốt (A+): học sinh điền đúng các chỗ trống và xử lí
nhanh, trình bày sạch sẽ.
Mức hoàn thành (A): học sinh trả lời đúng các chỗ trống tuy nhiên xử lí
còn chậm.
Mức chưa hoàn thành (B): học sinh không hiểu yêu cầu hoặc nội dung
bài tập. Điền không đúng các chỗ trống trong bài.
Kết quả thu được như sau:
Bảng 2: Hành động phân tích của học sinh khi xử lí bài tập điền khuyết.
Kết quả
Hoàn thành tôt (A+)
2.1.2.
Đặc điếm hành động phân trích của học sinh trong quá trình bày tỏ thải
độ đối với tình huống đạo đức.
Căn cứ vào nội dung chương trình, chúng tôi xây dựng một số bài tập liên
quan tới xử lý tình huống đạo đức và yêu cầu học sinh thực hiện việc bày tỏ thái
độ đối với tình huống đạo đức.
Cách tiến hành:
Sau khi học sinh học xong bài “Chăm sóc cây trồng, vật nuôi”, chúng tôi
đưa ra tình huống kèm theo câu hỏi gợi ý và yêu cầu học sinh xử lí tình huống.
Sau đó đánh giá dựa trên kết quả các câu trả lời câu hỏi gợi ý và câu trả lời xử lí
tình huống của học sinh thể hiện trong phiếu bài tập và lập bảng.
Chúng tôi đánh giá theo các tiêu chí như sau:
Mức hoàn thành tốt (A+): học sinh hiểu tình huống, trả lời đúng các câu hỏi
gợi ý và xử lí nhanh, chính xác các tình huống phù hợp với chuẩn mực hành vi
đạo đức mà các em đã học.
Mức hoàn thành (A): học sinh hiểu tình huống, trả lời đúng các câu hỏi gợi
ý tuy nhiên xử lí tình huống còn chậm.
Mức chưa hoàn thành (B): học sinh không hiểu tình huống, không trả lời
được các câu hỏi liên quan đến tình huống đã cho và không xử lí được tình huống.
Tình huống : Trong buổi biểu diễn văn nghệ chào mừng 08/03 thấy các bạn
hát rất hay, múa rất dẻo. Nam vì muốn cổ vũ cho các bạn mà đã rủ An ra vườn
trường bẻ hoa vào tặng các bạn. Neu là An em sẽ làm gì?
Câu hỏi gợi ý:
Câu hỏi 1: Vì sao Nam lại rủ An ra vườn trường bẻ hoa?
Câu hỏi 2: Hành động đó là đúng hay sai?
Câu hỏi 3: Tác hại của hành động đó như thế nào?