Khoá luận tốt nghiệpthực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn tiếng việt - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TlỂu HỌC

===£r)!EBlG8===

ĐẶNG THÙY DƯƠNG

THựC TRẠNG CÁC THAO TÁC TƯ DUY CỦA HỌC
SINH LỚP 5 QUA MÔN TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC •

• • •

Chuyên ngành: Tâm lí học

Người hướng dẫn khoa học ThS. LÊ XUÂN TIÉN

HÀ NỘI – 2015

LỜI CẢM ƠN
Cùng với sự cố gắng phấn đấu của bản thân, để hoàn thả nh đề tài khóa luận này,
chúng tôi nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, đặc biệt là Th.s Lê Xuân
Tiến - Giảng viên môn Tâm lý trường Đại học sư phạm Hà Nội 2.


Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo và bạn bè trong khoa Giáo
dục Tiểu học trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh
lớp 5A1( 2014 - 2015) trường Tiểu học Đại Thịnh B - Mê Linh - Hà Nội đã tạo điều kiện
giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa luận của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015 Sinh viên



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục là quốc sách hàng đàu. Đầu tư cho giáo dục là đàu tư để phát triển
con người và xã hội. Đầu tư cho Giáo dục ttên tất cả các lĩnh vực, ngành học, cấp
học.
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt cơ sở
ban đàu cho việc hình thành và phát triển toàn diện, hài hòa nhân cách của con
người. Ngày nay, đất nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, quá
trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng đẩy mạnh. Điều đó đòi hỏi ngành
giáo dục phải đào tạo những người lao động tự chủ, sáng tạo, có năng lực. Trên
cơ sở đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra mục tiêu cốt lõi của quá trình dạy học
trong nhà trường nói chung và của trường Tiểu học nói riêng là hình thành, rèn
luyện cho học sinh phương pháp tự học, phương pháp phát hiện và giải quyết vấn
đề. Thực tiễn dạy học cho thấy nhiệm vụ của mỗi giáo viên là rèn luyện và phát
triển tư duy cho học sinh thông qua các nội dung dạy học các môn học, để sau khi
ròi ghế nhà trường, học sinh có đủ năng lực tư duy và những phẩm chất cần thiết
cho hoạt động cải biến xã hội. Trong hệ thống giáo dục phổ thông thì Tiểu học là
bậc học nền tảng, vì yậy rèn luyện tư duy cho học sinh cần thực hiện ngay khi bắt
đầu bậc học này.
Trong các môn học ở trường Tiểu học thì môn Tiếng Việt là một trong các
môn học có có nhiều giờ và thông qua các hoạt động học tập học s inh Tiểu học
được phát triển đúng mức một số khả năng trí tuệ và thao tác tư duy quan trọng.
Trong đó, môn Tiếng Việt 5 hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử
dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp ừong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi. Và thông qua việc dạy và học sẽ góp phần rèn
luyện các thao tác tư duy. Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với mỗi giáo viên là biết lựa


chọn nội dung thích hợp và tổ chức các hoạt động vừa sức để từng bước rèn luyện

Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Tìm hiểu khái niệm thao tác trong Tâm lí học
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận về tư duy và các thao tác tư duy của học sinh Tiểu
học
- Tìm hiểu về đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5 có liên quan đến đề tài khóa luận
6.2.

Phương pháp quan sát
Dự giờ, quan sát việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh qua tiết

học bài mói và tiết học thực hành của môn Tiếng Việt lóp 5 để quan sát sự biểu
hiện các thao tác tư duy của học sinh.
6.3.

Phương pháp thực nghiệm phát hiện
Xây dựng các bài tập đo để phát hiện thực trạng các thao tác tư duy của học

sinh lớp 5 qua môn Tiếng Việt
6.4.

Phương pháp xử lí số liệu
Dùng toán thống kê để xử lý số liệu, so sánh đối chiếu để rút ra kết luận

6.5.

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Tìm hiểu giáo án, kế hoạch dạy học của giáo viên, kết quả học tập của học

sinh, vở bài tập của học sinh

hành động tư duy đó được nâng cao trong quá trình học tập”.
Tác giả Vũ Thị Nho đã nhận xét: Từ lớp 3 trở đi trẻ bắt đầu nắm được các
mối quan hệ của khái niệm, trẻ không chỉ lĩnh hội được các thao tác thuận mà còn
biết loại trừ. Trong giai đoạn này, những thao tác tư duy được hình thành và phát
triển mạnh. Trẻ em lớp 3, lớp 4 lĩnh hội được khái niệm về từ loại, cấu trúc ngữ
pháp, cấu trúc nhóm trong toán học. Bà kết luận: “Đến giai đoạn thứ hai, phần
lớn học sinh nhỏ đã biết khái quát ừên cơ sở những biểu tượng đã tích lũy được
trước đây thông qua sự phân tích, tổng hợp bằng trí tuệ” [7,79].


Khi trình bày ứng dụng các thành tựu của Tâm lí học vào dạy Tiếng Việt, tác
giả Nguyễn Trí cho rằng ngôn ngữ của học sinh Tiểu học phát triển mạnh cả về
ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng. Tuy nhiên, học sinh Tiểu học còn mắc nhiều lỗi
phát âm, lỗi dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả và thường lúng túng khi trình bày bài
mới hoặc viết. Ông nhận xét: “Khi khái quát hóa, các em bắt đàu biết dựa vào các
dấu hiệu bản chất bên trong, những dấu hiệu chung để tìm ra khái niệm, quy luật.
Các em đã nhìn thấy một sự vật có thể diễn biến theo nhiều hình thức, một hiện
tượng có thể có nhiều nguyên nhân. Các em có khả năng lập luận cho phán đoán
của mình” [11,22].
Tác giả Nguyễn Ke Hào nhận xét: “Đen cuối bậc học, các em có thể phân
tích đối tượng mà không cần tới những hành động trực tiếp đối với đối tượng, các
em có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối
tượng dưới dạng ngôn ngữ” [12,206]
Bùi Văn Huệ, nghiên cứu đặc điểm tư duy của học các lớp cuối cấp Tiểu học
cho rằng: “Học sinh đã thoát khỏi sự “ám thị” của những dấu hiệu trực quan và
ngày càng dựa nhiều hơn vào những tri thức được hình thành trong quá trình học
tập nên đã nhìn thấy các dấu hiệu bản chất của đối tượng và tách chúng ra khỏi
các dấu hiệu không bản chất để làm nên sự khái quát đúng đắn” [6,126].
Điểm qua các công trình nghiên cứu ở trên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lí
luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài. Tuy nhiên, chưa có công trình nào

khác.

1.2.2.

Khái niệm tư duy trong tâm lí học

Trong lĩnh vực tâm lí học, tư duy được hiểu như sau:
“Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những
mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách
quan mà trước đó ta chưa biết. [12,92].

Với tư cách là một mức độ mới thuộc nhận thức lí tính, tư duy khác xa về
chất so với nhận thức cảm tính, tư duy do con người là chủ thể có những đặc
điểm cơ bản sau:
- Tính “có vẩn đề” của tư duy


Không phải ở hoàn cảnh nào trong thực tiễn con người cũng có thể tư duy.
Muốn kích thích được tư duy đồng thời phải có ba điều kiện sau:
+ Thứ nhất: Phải gặp hoàn cảnh (tình huống) có vấn đề tức là hoàn cảnh
(tình huống) có chứa đựng một mục đích mới, một vấn đề mới, đòi hỏi phải có
một cách thức giải quyết mới để đạt được mục đích đó.
+ Thứ hai: Hoàn cảnh có vấn đề đó phải được cá nhân nhận thức đầy đủ,
được chuyển thành nhiệm vụ cá nhân. Tức là lúc này cá nhân phải phân tích cái
gì đã biết, đã cho, cái gì chưa biết cần được giải quyết, phải tìm. Đồng thời phải
có nhu cầu (động cơ) tìm kiếm nó, giải quyết nó.
+ Thứ ba: Cá nhân phải có những tri thức công cụ cần thiết để giải quyết


Ạ4A

và dạy học, cụ thể:
+ Không có khả năng tư duy thì học sinh không thể hiểu biết, không thể cải
tạo tự nhiên, xã hội và bản thân mình.
+ Muốn thúc đẩy tư duy thì phải đưa học sinh vào tình huống có vấn đề
+ Phát triển tư duy phải tiến hành song song vói phát triển ngôn ngữ vì
ngôn ngữ là phương tiện của tư duy.
+ Phát triển tư duy phải được tiến hành thông qua hoạt động vui choi và các
dạng hoạt động khác.
+ Phát triển tư duy phải gắn liền với rèn luyện cảm giác, tri giác, tính nhạy
cảm, năng lực quan sát và trí nhớ của học sinh.

1.2.3.

Phân ỉoại tư duy

Dựa vào các tiêu chí khác nhau, người ta phân chia tư duy thành các loại
khác nhau. Sau đây là cách phân loại phổ biến được ứng dụng vào phân loại tư
duy lứa tuổi tiểu học:
- Tư duy trực quan - hành động
Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm yụ được thực hiện nhờ sự cải tổ
thực tế các tình huống và nhờ các hành động vận động có thể quan sát được.


- Tư duy trực quan - hình ảnh
Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực hiện bằng sự cải
tổ tình huống trên bình diện hình ảnh. Loại tư duy này chỉ có ở người, xuất hiện
từ 3 tuổi trở lên.
- Tư duy trừu tượng (tư duy từ ngữ - logic)
Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ dựa trên việc sử dụng các
khái niệm, các kết cấu logic, được tồn tại và vận hành nhờ ngôn ngữ.


1.2.5.

Các thao tác tư duy

Xét về bản chất thì tư duy là một quá trình cá nhân thực hiện các thao tác trí
tuệ nhất định để giải quyết các vấn đề hay nhiệm vụ được đặt ra. Cá nhân có tư
duy hay không chính là ở chỗ học sinh có tiến hành các thao tác này ừong đầu
mình hay không, cho nên các thao tác này còn gọi là những quy luật bên trong
của tư duy (quy luật nội tại của tư duy).
Tư duy là một mức độ thuộc nhận thức lí tính và bao gồm các thao tác
sau:
1.2.5.1.

Phân tích - tổng hợp

Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành
các “bộ phận”, các thành phàn khác nhau. Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để
hợp nhất các thành phần đã được tách rời nhờ sự phân tích thành một chính thể.
Phân tích và tổng họp có mối liên hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo thành một sự
thống nhất không tách rời được. Sự phân tích được tiến hành theo hướng tổng
hợp còn sự tổng họp được thực hiên theo kết quả của phân tích.
1.2.5.2.

So sánh

So sánh là quá ừình dùng óc xác định sự giống hay khác nhau, sự đồng nhất
hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng
nhận thức (sự vật, hiện tượng).
1.2.5.3.

hoạt động có đối tượng, có phương pháp và có tổ chức chuyên biệt.
• Hoạt động học tạo ra sự phát triển tâm lí trẻ em, đó là sự phát triển tâm lí
các quá trình tâm lí, hình thành các thuộc tính tâm lí và nhân cách học sinh, đáng
chú ý ở bậc học này là sự phát triển trí tuệ của các em.
• Hoạt động học được hình thành ở học sinh bằng phương pháp nhà trường
do giáo viên tổ chức và điều khiển.
Hoạt động học gồm 3 yếu tố cấu thành: động cơ học, nhiệm vụ học và hành
động học.


Thực hiện hoạt động học và các loại hình hoạt động khác, học sinh tiểu học
có sự phát triển tâm lí đạt tr ình độ mới so với giai đoạn trước đó, một trình độ
phát triển tâm lí mà nếu không được qua nhà trường thì con người sẽ không bao
giờ đạt được. Giai đoạn phát triển này được tổ chức trong nền văn minh nhà
trường theo hai giai đoạn nhỏ: Giai đoạn thứ nhất gồm các lớp 1, 2 và 3 còn gọi là
cấp độ I bậc Tiểu học và giai đoạn thứ hai gồm lớp 4 và lớp 5 gọi là cấp độ II bậc
Tiểu học. Hai giai đoạn có sự khác biệt nhau về cấp độ phát triển tâm lí và trình
độ thực hiện hoạt động học với tư cách là hoạt động chủ đạo, chứ không có sự
thay đổi đột biến, không phát triển theo chiều hướng mới như bước chuyển giai
đoạn trước tuổi học lên giai đoạn học sinh tiểu học.
Hoạt động học được tổ chức khoa học, thích hợp với đặc điểm tâm lí lứa
tuổi học sinh Tiểu học. Bắt đầu từ lớp 1, hình thành phương pháp tiến hành hoạt
động học và trong hoạt động này tư duy của trẻ phát triển đạt trình độ mới: Ở lớp
1 bắt đầu hình thành các thao tác trí óc, ở bậc Tiểu học hình thành được những
yếu tố ban đầu cho tư duy lí luận. Do vậy, các em biết sử dụng hành động phân
tích và các hành động hoạt động học tập khác để chiếm lĩnh đối tượng học tập.
Hoạt động học tập của học sinh tiểu học được hình thành định hình ở giai đoạn
thứ nhất nghĩa là đến lớp 3 các em đã biết cách học. Tuy nhiên ở trình độ này, học
sinh chưa thể tự học mà hoạt động của các em cần được tiến hành với sự tổ chức
và giúp đỡ của giáo viên.


- Nhận biết được thái độ, tình cảm chủ đích của ngưòi nói trong giao tiếp. Nghe và
nắm được nội dung và chủ đích của các bài viết về khoa học thưởng thức, về đạo
đức, thẩm mĩ, về tình bạn,... phù hợp với lứa tuổi; bước đầu đánh giá, nhận xét
được một số thông tin đã nghe. Nghe và nắm được đại ý, đề tài của các tác phẩm
hoặc đoạn trích văn xuôi, thơ, kịch,...., bước đàu biết nhận xét về nhân vật và
những chi tiết có giá trị nghệ thuật trong tác phẩm; nhớ và kể lại được nội dung
tác phẩm.
- Ghi được ý chính của các bài đã nghe.
+ Kỹ năng nói:
Nói trong hội thoại: Biết dùng lời nói hội thoại phù hợp với quy tắc giao
tiếp trong gia đình, trong nhà trường và nơi công cộng. Biết giải thích rõ thêm
vấn đề đang trao đổi; tán thành hay bác bỏ một ý kiến. Nói thành bài: Biết phát
triển một chủ đề đơn giản trước lớp, biết giới thiệu về lịch sử, văn hóa, về các


nhân vật tiêu biểu.. .của địa phương với khách, thuật lại được một câu chuyện đã
học hoặc một sự kiện đã biết; bước đầu có kĩ thay đổi ngôi kể.
+ Kỹ năng đọc:
Tốc độ đọc khoảng 120 tiếng/phút. Đọc thành tiếng và đọc thầm: Biết cách
đọc phù hợp với các loại văn bản khác nhau (nghệ thuật, hành chính, khoa học,
báo chí...). Biết đọc một màn kịch, hay một YỞ kịch ngắn có giọng đọc phù hợp
với nhân vật và tình huống kịch. Biết đọc diễn cảm một bài thơ hoặc một đoạn
văn đã học, đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 4. Đọc hiểu: Biết tìm đại ý, tóm
tắt bài văn, chia đoạn, rút ra dàn ý của bài, nhận ra các mối quan hệ giữa các nhân
vật, sự kiện trong bài. Bước đầu biết đánh giá nhân vật, chi tiết và ngôn ngữ trong
các bài tập đọc có giá tn văn chương, hiểu các kí hiệu, các dạng viết tắt, các số
liệu trên sơ đồ, biểu đồ, bảng hiệu. Kĩ năng phụ trợ: Biết dùng từ điển, biết ghi
chép các thông tin đã đọc, thuộc lòng một số bài văn vần và đoạn văn xuôi.
+ Kỹ năng viết:

Nội dung, chương ừình môn Tiếng Việt 5
Tới lớp 5 - lớp cuối cấp Tiểu học, các bài học có nội dung những vấn đề lớn

đặt ra cho đất nước, dân tộc và toàn thể loài người như:
- Yêu Tổ quốc (Việt Nam - Tổ quốc em)
- Bảo vệ hòa bình, vun đắp tình hữu nghị giữa các dân tộc (cánh chim hòa bình)
- Sống hài hòa với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên (Con người với thiên nhiên)
- Bảo vệ môi trường (Giữ lấy màu xanh)
- Chống bệnh tật, đói nghèo, lạc hậu (Vì hạnh phúc con người)
- Sống, làm việc theo pháp luật, xây dựng xã hội văn minh (Ngưòi công
dân)
- Bảo vệ an ninh, trật tự xã hội (Vì cuộc sống thanh bình)
- Giữ gìn và phát huy bản sắc, truyền thống dân tộc (Nhớ nguồn)
- Thực hiện bình đẳng nam nữ (Nam và nữ)
- Thực hiện quyền trẻ em (Những chủ nhân tương lai)
Các kĩ năng giao tiếp dạy ở các lớp cũng đòi hỏi cao dần về mức độ, chẳng
hạn: Từ yêu càu đọc trơn nâng lên đọc thầm, rồi đọc lướt nắm ý; từ yêu cầu giao
tiếp thông thường nâng lên yêu cầu giao tiếp chính thức. Yêu càu về từng phân
môn trong môn học Tiếng Việt được thể hiện rõ như sau:


- Phân môn Tập đọc: Rèn cho học sinh các kỹ năng đọc, nghe và nói. Cũng
như ở các lớp dưới, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi
tìm hiểu bài, phân môn Tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên
nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, tăng cường khả năng diễn đạt, trang
bị một số hiểu biết ban đầu về tác phẩm văn học (như đề tài, cốt truyện, nhân
vật, ...) và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh. Tuy vậy, các bài tập đọc ở
lớp 5 có số lượng từ nhiều hơn, việc luyện đọc chú ý đến yêu cầu biểu cảm hơn,
câu hỏi tìm hiểu bài chú trọng khai thác hàm ý và nghệ thuật biểu hiện nhiều hơn.
Các văn bản mở đầu mỗi tuần thường là truyện kể hoặc kịch, các văn bản ở giữa

2.2.1.

Khái quát về khách thể nghiên cứu

Kết quả học tập các môn
Lớp 5A1 có tổng số học sinh là 37 học sinh, trong đó có 18 HS nữ, 29 HS

nam. Nhìn chung, các môn học: Đạo đức, Khoa học, Địa lí, Lịch sử thì kết quả
học tập của các em tương đối đồng đều. Cụ thể: Môn đạo đức và môn địa lí có số
lượng học sinh giỏi bằng nhau là 75,6%; số học sinh khá - giỏi môn Khoa học là
62,1% và số học sinh khá - giỏi môn Lịch sử là 40.5%. số học sinh yếu kém ở các
môn học này dao động từ 2 - 3 HS chiếm 5,4 - 8,1%. Đặc biệt, trong hai môn
Toán, Tiếng việt được coi là trọng tâm của Tiểu học thì tôi thấy chất lượng học
tập của học sinh trong hai môn này thấp hơn so với những môn học trên. Cụ thể:
Môn Toán số lượng học sinh khá — giỏi rất thấp chỉ có 16,2% (6HS); học sinh
yếu - kém cao hơn 2 học sinh chiếm 24,3%. Đối vói môn Tiếng Việt, học sinh khá
- giỏi tuy cao hơn môn Tiếng Việt, tuy nhiên số lượng vẫn thấp. Học sinh khá giỏi chỉ có 13 học sinh tương với 35,1%; học sinh yếu - kém là 10,8%. Có thể
thấy, học sinh yếu - kém trong các môn vẫn còn tồn tại.

2.2.2.

Kết quả học tập môn Tiếng việt
Như đã trình bày ở trên, môn Tiếng Việt có số lượng học sinh khá - giỏi

tương đối thấp. Cụ thể: Học sinh khá - giỏi chỉ có 35,1%; học sinh yếu - kém
chiếm 10.8% (4HS); còn lại là học sinh trung bình cao nhất chiếm 54,1% (18HS).


Môn Tiếng Việt bao gồm nhiều phân môn. Tuy nhiên về chất lượng học ở
các phân môn này cũng chưa đồng đều nhau. Cụ thể: Trong phân môn Tập đọc:

- Mức độ 1 (Khá - giỏi): Học sinh hoàn thành được cả ba câu hỏi, phân
tích đầy đủ và tổng hợp lại để tìm ra được câu nào là câu ghép chính
xác, đầy đủ.
- Mức độ 2 (Trung bình): Học sinh trả lời được các câu hỏi tuy nhiên khi
tổng họp lại ở câu số 3 thì những học sinh này vẫn cần đến câu hỏi gợi
ý của giáo viên.
- Mức độ 3 (Yếu - kém): Học sinh không trả lời được hoặc làm sai ở câu
hỏi 1 và 2 dẫn đến việc đưa ra kết quả sai ở câu hỏi cuối.
■=> Qua bài tập trên, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1. Thực trạng thao tác phân tích - tổng họp của bài tập 1
Mức đô 1 ■

Mức đô 2 ■

Mức đô 3 •

SL

Tỉ lệ %

SL

Tỉ lệ %

SL

Tỉ lệ %

11


câu có nhiều cụm chủ ngữ - vị ngữ tạo thành? Vậy Hiếu hãy xem cho cô có
những câu nào có trên một cụm chủ ngữ - yị ngữ?
Từ sự gợi ý của giáo viên, Hiếu đã tìm ra được câu ghép:
-

“Hễ con chó to đi chậm, con khỉ cấu hai tai chó giật giật”

-

“Con chó chạy sải thì khỉ gò lưng như người phi ngựa”
-

“ Chó chạy thong thả, khỉ buông thõng hai tay, ngồi ngúc nga ngúc ngoắc”
Những học sinh đạt mức độ trung bình có khả năng phân tính tốt tuy nhiên

năng lực tổng hợp vẫn còn yếu thể hiện ở việc các em phân tích câu hỏi (1) và (2)
khá tốt nhưng khi tổng hợp lại để trả lời cho câu hỏi(3) thì các em vẫn còn rất
lúng túng. Vì vậy giáo viên cần quan tâm hướng dẫn để học sinh phát triển thao
tác phân tích - tổng hợp một cách hoàn chỉnh hơn.
Có 18,9 học sinh ở mức độ yếu - kém, đây là những học sinh ngay từ câu
hỏi số (1) đã đánh sai số thứ tự câu trong đoạn văn để từ đó làm sai câu hỏi số (3).
Ví dụ: Em Linh khi đánh số thứ tự câu trong đoạn văn đã cho câu “Mỗi lần
dời nhà đi” là một câu, tương tự như vậy cứ sau mỗi dấu “phẩy” Linh lại cho đó
là một câu. Từ đó dẫn đến việc xác định sai chủ ngữ, vị ngữ và không thể tìm
đúng câu ghép.
b) Bài tập 2:

Biển luôn thay đổi tùy theo sắc mây trời. Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm
xanh, như dâng cao lên, chắc nịch. Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi


SL

Tỉ lệ %

SL

Tỉ lệ %

9

27,1

15

40,5

12

32,4

Qua bảng số liệu trên cho thấy, ở bài tập 2 số lượng học sinh khá - giỏi đã
giảm đi so với bài tập 1. Chỉ có 27,1% , đây là những học sinh hoàn thành câu
hỏi (1) và (2) tương đối tốt. Khi đến câu hỏi (3), những học sinh này đã biết phân
tích các vế câu ghép để tìm ra những đặc điểm để đưa ra kết luận ch ính xác là:


“Không thể tách mỗi cụm chủ ngữ - vị ngữ trong các câu ghép nói trên thành một
câu đơn được” và các em cũng đã giải thích được YÌ sao có câu trả lời đó. Trong
đó, có 2 - 3 HS trình bày tương đối tốt, có khoa học: Các em đã biết các dung dấu
gạch chéo”/” để tách các vế câu ghép. Ví dụ bài làm của học sinh Đoàn Tuấn Vũ

Trích đoạn Thực trạng thao tác so sánh Nội dung và phương pháp dạy học Các biện pháp phát triển các thao tác tư duy cho học sinh lớp PHỤ LỤC 2 Giáo án
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status