ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HẸP NIỆU ĐẠO BẰNG
PHƯƠNG PHÁP CẮT LẠNH QUA NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN XANH PÔN
Phạm Huy Huyên, Ngô Trung Kiên, Vũ Ngọc Thắng
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị của phương pháp cắt lạnh niệu đạo qua nội soi.
Đối tượng và Phương pháp: Hồi cứu bệnh án của 34 bệnh nhân hẹp niệu đạo
được cắt nội soi tại bệnh viện Xanh Pôn từ tháng 8/2010 đến tháng 8/2013
Kết quả nghiên cứu:
- Trong thời gian từ 8/2010– 8/2013, chúng tôi đã điều trị 34 bệnh nhân bị hẹp
niệu đạo bằng phương pháp cắt lạnh qua nội soi.
- Tuổi trung bình 37,3 ± 12,4. Nguyên nhân chủ yếu là do chấn thương niệu đạo
- Kết quả tốt: 27 bệnh nhân (79,41%), trung bình: 5 bệnh nhân (14,71%), xấu:
2 bệnh nhân (5,88%)
Kết luận: cắt lạnh qua nội soi điều trị hẹp niệu đạo là phương pháp điều trị hiệu
quả.
SUMMARY
Purpose: to evaluate the results of treating the urethral stricture by incising it
transurethrally.
Materials and methods: 34 patients are treated by internal urethrotomy during
8/2010 – 8/2013.
Result: Mean age 37,3 ±12,4. The reasons are usually urethral trauma. The results
include: good: 27 cases (79,41% ), mean: 5 cases (14,71%), ugly: 2 cases (5,88%).
Conclusion: Internal urethrotomy is a simplest and effective method to treat
urethral stricture.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hẹp niệu đạo là bệnh lý do các mô xơ hình thành sau tổn thương niệu đạo gây hẹp
lòng niệu đạo. Nguyên nhân thường gặp nhất là sau các chấn thương niệu đạo do
tai nạn giao thông vỡ xương chậu hoặc tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt bị ngã
2. Kỹ thuật cắt lạnh qua nội soi điều trị hẹp niệu đạo
- Vô cảm: tê tủy sống
- Tư thế bệnh nhân: tư thế sản khoa
- Phương tiện: máy nội soi của hãng Karlstorz
- Nước rửa: nước muối sinh lý hoặc sorbitol
- Kỹ thuật:
Tiến hành đặt máy vào niệu đạo, tiếp cận đoạn hẹp, đưa dây dẫn đường qua đoạn
hẹp vào bàng quang, tiến hành cắt tổ chức xơ hẹp dựa trên dây dẫn đường, thường
bắt đầu từ vị trí 12h, sau khi đưa được máy qua đoạn hẹp sẽ cắt thêm tổ chức xơ ở
các vị trí khác, rút máy, đặt sonde niệu đạo, lưu sonde 7 – 10 ngày.
3. Đánh giá kết quả: chia làm 3 mức độ
- Tốt: sau rút sonde tiểu đái dễ, chủ động, lưu lượng dòng tiểu 20ml/giây
không có nhiễm khuẩn niệu
- Trung bình: đái dễ, chủ động, lưu lượng dòng tiểu 10-15ml/giây, nhiễm
khuẩn niệu nhẹ, điều trị khỏi.
- Xấu: đái khó, lưu lượng < 10ml/giây, nhiễm khuẩn niệu kéo dài.
4. Theo dõi sau mổ: các bệnh nhân đều được theo dõi sau mổ định kì 2 tuần/lần
trong 3 tháng đầu và 3 tháng/lần trong 1 năm để đánh giá về tình trạng tiểu tiện và
nong niệu đạo.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Tuổi bệnh nhân
Độ tuổi
Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
20 – 30
Nguyên nhân
Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
Chấn thương niệu đạo
31
91,18
Sau CĐNS u TLT
2
5,88
Hẹp niệu đạo sau đặt sonde tiểu
1
2,94
Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
11
32,35
1 – 2 cm
19
55,89
Lớn hơn 2 cm
4
11,76
Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
6 giờ
7
20,59
12 giờ
11
7
9
26,47
10
20
58,82
Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
Tốt
27
79,41
Trung bình
5
14,71
Xấu
và kết quả rất tốt. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 27 trường hợp đoạn hẹp
ngắn hơn 2cm, sau khi cắt lạnh kết quả rất tốt. Với các trường hợp hẹp trên một
đoạn dài, hẹp nhiều chỗ hoặc hẹp hoàn toàn, việc cắt các tổ chức xơ hẹp khó khăn
hơn, thời gian mổ kéo dài, nước rửa thấm ra bìu và tầng sinh môn nhiều. Nếu
không thể đặt được dây dẫn đường qua chỗ hẹp, việc cắt lạnh hẹp niệu đạo trong
các trường hợp này sẽ rất khó khăn do tổ chức xơ hẹp nhiều và không có định
hướng cho việc cắt bỏ các mô xơ có thể dẫn đến lạc đường gây thủng niệu đạo,
hơn nữa khả năng hẹp lại với các trường hợp này cũng rất cao. Vì vậy, một số tác
giả khuyến cáo không nên chỉ định cắt lạnh trong những trường hợp hẹp dài hoặc
hẹp hoàn toàn.
Về kết quả điều trị: Thường dựa vào 3 yếu tố: lâm sàng, chụp niệu đạo ngược
dòng và niệu động học. Trong 34 bệnh nhân của chúng tôi theo dõi thì kết quả
tốt: 27 bệnh nhân (79,41%), trung bình: 5 bệnh nhân (14,71%), xấu: 2 bệnh nhân
(5,88%). Tuy nhiên, theo một số tác giả thì tỉ lệ tái phát sau cắt nội soi cao.
Do đó để hạn chế tỉ lệ tái phát, nhiều phương pháp được áp dụng sau xẻ lạnh như
nong niệu đạo bằng thủy lực (John Nesbitt 1994), đặt thông tiểu kéo dài tự nong
niệu đạo định kỳ. Gần đây một số tác giả đề nghị đặt stent niệu đạo sau khi cắt
lạnh khoảng 2 tuần. Phương pháp đặt stent có kết quả tốt trong các trường hợp có
xơ hóa thể xốp kèm theo hẹp niệu đạo. Tuy nhiên khi đặt stent thường dễ
gây ra nhiễm trùng (Charles J Devine 1992). Nếu hẹp lại có thể cắt lạnh niệu
đạo lần 2, nhưng không nên cắt nội soi quá 2 lần.
KẾT LUẬN
Hẹp niệu đạo là một bệnh thường xảy ra sau chấn thương niệu đạo. Phương
pháp cắt lạnh niệu đạo qua nội soi là phương pháp nhẹ nhàng, kết quả tốt, đặc biệt
trong trường hợp đoạn hẹp ngắn dưới 2cm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1