Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị sỏi mật bằng phẫu thuật kết hợp tán sỏi điện thủy lực tại Bệnh viện Tỉnh Thanh Hoá - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi đường mật là bệnh lý thường gặp ở nhiều nước trên thế giới. Tùy
theo địa dư và dân tộc mà vị trí của sỏi mật có khác nhau, ở Châu Âu phần lớn
là sỏi túi mật, ít gặp sỏi ở đường mật chính và sỏi trong gan, ngược lại ở các
nước Châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam... thường gặp sỏi ống mật
chủ và sỏi trong gan [4], [23]. Ở Việt Nam đa số là sỏi đường mật chính và sỏi
trong gan (70 - 95 %), sỏi trong gan chiếm tỷ lệ đáng kể (20 - 56 %) [16].
Chẩn đoán sỏi mật dựa vào các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng.
Thể điển hình lâm sàng biểu hiện bởi tam chứng Charcot (đau, sốt, vàng da)
[4], [15], [62]. Các xét nghiệm có Bilirubin tăng, chủ yếu là tăng Bilirubin
trực tiếp [23], [26]. Chẩn đoán hình ảnh dựa vào siêu âm đường mật [24], [32],
[45]. Sỏi đường mật, là bệnh lý rất phức tạp có thể gây ra nhiều biến chứng
nghiêm trọng, do đó vấn đề quan trọng của các nhà ngoại khoa là làm thế nào
để lấy được sỏi tối đa, hạn chế sót sỏi và sỏi tái phát cho bệnh nhân [27], [31],
[88].
Điều trị ngoại khoa sỏi đường mật trước đây là mở đường mật lấy sỏi
bằng Mirizzi hoặc Raldan [17]. Hạn chế của phương pháp này là khó kiểm
soát được sỏi trong đường mật vì nó phụ thuộc vào kinh nghiệm của phẫu
thuật viên và những biến đổi giải phẫu của đường mật. Do đó sót sỏi ở đường
mật, đặc biệt là sỏi ở các đường mật trong gan còn chiếm tỷ lệ cao. Theo
Yamakawa (1980), tỷ lệ sót sỏi là 35,6 % [100]. Theo Ker CG (1990), trong
569 trường hợp sót sỏi có 166 (29,2 %) sót sỏi ở ống gan phải, 255 (44,8 %) ở
ống gan trái và 148 (26,0 %) trong cả hai ống gan [76]. Ở Việt nam theo
Nguyễn Cao Cương (2006), tỷ lệ sót sỏi trong gan là 50 % [5], Trần Bảo
Long (2003), là 37,22 % [29].
Hiện nay, nhờ tiến bộ của khoa học, kỹ thuật nội soi ống mềm và máy
tán sỏi điện thủy lực đã được áp dụng thành công cho kết quả khả quan trong



1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
- Từ trước công nguyên người ta đã phát hiện sỏi đường mật. Năm
1877 Charcot mô tả triệu chứng lâm sàng của sỏi mật bao gồm đau, sốt, vàng
da [15]. Sau này được gọi là tam chứng Charcot.
- Năm 1923 Bakes J là người đầu tiên thực hiện nội soi OMC trong mổ
bằng ống soi cứng [41].
- Năm 1941 McIver MA là người có công đầu trong phát triển dụng cụ
nội soi đường mật [41].
- Năm 1953 Wildegans VH cho ra đời ống soi loại mới tại Berlin được
nhiều người ca ngợi hiệu quả của nó trong xử trí sỏi OMC [20].
- Từ thập niên 1950 nhiều nguyên lý tán sỏi được phát minh. Tán sỏi
bằng siêu âm do Mulvaney phát minh năm 1953. Tán sỏi bằng điện thủy lực
do Yutkin phát minh năm 1955. Tán sỏi bằng Laser do Mulvaney và Beck
thực hiện năm 1968. Các loại tán sỏi trên lúc đầu được sử dụng trong tán sỏi
niệu, sau đó tán sỏi bằng điện thủy lực và Laser được ứng dụng sang lĩnh vực
tán sỏi mật [25].
- Theo Mizuta, năm 1959 tán sỏi bằng điện thủy lực được áp dụng đầu
tiên trong điều trị sỏi túi mật [82].
- Năm 1974, Yamakawa lần đầu tiên sử dụng ống soi mềm soi đường
mật qua đường hầm Kehr [100].
- Năm 1975 Burhenne HJ báo cáo một trường hợp tán sỏi bằng điện
thủy lực đầu tiên [61].


4

- Năm 1977 Nimura Y đã phát triển kỹ thuật dùng ống soi mềm cỡ nhỏ
để chẩn đoán cũng như can thiệt bệnh lý đường mật [85].
- Những năm 80 đã có nhiều nghiên cứu về tán sỏi bằng điện thủy lực
[61], [68], [69], [102]. Đến nay kỹ thuật nội soi phát triển, tán sỏi điện thủy

soi đường mật trong mổ [44].
- Năm 2008 Hoàng Trọng Nhật Phương bệnh viện trung ương Huế tán
sỏi điện thủy lực trong điều trị sỏi mật [27].
- Năm 2009 Thái Nguyên Hưng bệnh viện Việt Đức đã thực hiện tán
sỏi trong mổ để điều trị sỏi mật [25].
- Năm 2010 Bùi Tuấn Anh bệnh viện Quân Y 103 tán sỏi mật bằng
đường xuyên gan qua da [2]. Cũng trong thời gian này Nguyễn Quang Trung,
Thái Doãn Công Bệnh viện đa khoa tỉnh Nghệ An cũng đã thực hiện tán sỏi
điện thủy lực qua đường hầm Kehr [46].
- Năm 2011 Bệnh viện Trường Đại Học Y Hà Nội tiến hành phẫu
thuật nội soi sỏi đường mật [1].
- 2012 Nguyễn Quang Trung đã tán sỏi điện thủy lực cho người cao
tuổi [47].
- Ở Thanh Hóa trước đây điều trị ngoại khoa sỏi đường mật bằng
phương pháp phẫu thuật kinh điển. Năm 2007 được trang bị máy và dụng cụ
mổ nội soi nên chúng tôi đã tiến hành phẫu thuật nội soi cắt túi mật và lấy sỏi
ống mật chủ. Việc lấy sỏi trong gan và điều trị sót sỏi sau phẫu thuật còn gặp
nhiều khó khăn. Năm 2010 sau khi trang bị máy tán sỏi điện thủy lực chúng
tôi đã tiến hành tán sỏi đường mật trong mổ mở để giải quyết sỏi đường mật
trong gan nhằm hạn chế sót sỏi. Trong năm 2010 chúng tôi cũng tiến hành tán
sỏi qua đường hầm Kehr để xử lý sót sỏi sau phẫu thuật. Năm 2011 chúng tôi
bắt đầu thực hiện tán sỏi qua đường xuyên gan qua da để lấy sỏi trong gan cho
những trường hợp nhiều sỏi trong gan, không có sỏi ống mật chủ.


6

1.2. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ CỦA ĐƯỜNG MẬT
1.2.1 Giải phẫu đường mật trong gan và ngoài gan
1.2.1.1. Giải phẫu đường mật trong gan

Đường mật ngoài gan bao gồm: ống mật ngoài gan của ống gan phải
(dài 0, 9 cm) và ống gan trái (dài 1,7 cm), ống gan chung ống mật chủ và hệ
thống dẫn mật phụ bao gồm túi mật và ống túi mật. Đường mật chính có
đường kính trung bình khoảng 6 mm chia làm 2 phần: phần trên là ống gan
chung, sau khi hợp với ống túi mật tạo thành ống mật chủ. Chiều dài ống gan
chung rất thay đổi tuỳ thuộc vào vị trí ống cổ túi mật đổ vào đường mật chính.
Thường ống gan chung dài từ 1.5 – 3.5 cm. Chiều dài của ống mật chủ thay
đổi từ 5 - 15 cm.

Hình 1.2. Túi mật và các ống dẫn mật ngoài gan [12]


8

1.2.1.3. Biến đổi giải phẫu đường mật trong và ngoài gan
* Biến đổi đường mật trong gan phải theo Trịnh Hồng Sơn [40] và của
Bismuth [59]:
- 9 % biến đổi ống hạ phân thùy 5 (5 % ống hạ phân thùy 5 đổ vào ống
gan phải, 4 % đổ vào ống phân thùy sau) (hình 1.3).

Hình1.3. Biến đổi đường mật hạ phân thùy 5 [40]
- 14 % biến đổi của ống mật hạ phân thùy 6 (trong đó 10 % đổ vào ngã
ba ống mật hạ phân thùy trước và phân thùy sau, 2 % đổ vào ống gan phải, 2
% đổ vào ống gan chung) (hình 1.4).

Hình 1.4. Biến đổi đường mật hạ phân thùy 6 [40]
- 20 % biến đổi của ống mật hạ phân thùy 8 (hình 1.5).
- 0 % biến đổi của ống mật hạ phân thùy 7.




s

s

P

P

T

T

Hình 1.7. Ống gan trái và ống gan phải (phân thùy trước và sau)
(Ảnh ở lớp tập huấn PTNS tại trung tâm huấn luyện PTNS Bệnh viên Y Dược
Thành Phố Hồ Chí Minh tháng 4 năm 2008)

Vì ống gan phải ngắn nên soi vào ống gan phải là thấy ngay 2 lỗ ống
phân thùy trước và phân thùy sau. Thường ống phân thùy sau đổ vào sườn trái
ống phân thuỳ trước ở vị trí hơi lệch ra sau. Như vậy, từ ống gan phải nhìn lên
sẽ thấy 2 lỗ: ống phân thùy trước ở vị trí 10 - 11 giờ và lỗ ống phân thùy sau ở
vị trí 4 - 5 giờ [41], [48].


11

Vào thân phân thùy trước, theo hướng thẳng lên là vào hạ phân thùy
8. Lỗ ống hạ phân thùy 5 là các lỗ ở vị trí phía trước, thấy được sau khi đi vào
ống phân thùy trước một đoạn ngắn. Thực tế, hạ phân thùy 5 khó vào vì nó
quặt hẳn ra trước xuống dưới.

xuống ruột. Thành phần của mật có các chất: Cholesterol, muối mật, sắc tố
mật và các chất khác. Bình thường pH của mật gần trung tính ( từ 6,6 - 7,6 ).
Khi có ứ đọng hoặc nhiễm khuẩn pH trở thành toan do xuất hiện nhiều axít
hữu cơ. Áp lực đường mật trung bình khi đo ở ống mật chủ từ 10 - 15 cm H 2O
[18]. Ở bệnh nhân bị tắc mật thì có một áp lực qua cơ Oddi cao từ 20 - 30 cm
H2O, hoặc cao hơn nữa [16], [23], [29].
1.3. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ QUÁ TRÌNH TẠO SỎI MẬT
Ở các nước Âu - Mỹ thành phần sỏi túi mật chủ yếu là Cholesterol, ở
Việt Nam thành phần sỏi mật chủ yếu là sắc tố mật, thường có nhân là xác hay
trứng giun đũa kết hợp với nhiễm trùng đường mật lâu ngày gây tổn thương
đường mật tạo nên sỏi [19],[23].
Bình thường axít mật, sắc tố mật và Cholesterol bão hòa trong nước
mật. Trong đó sắc tố mật hòa tan trong nước, Cholesterol hầu như không hòa
tan. Chúng giữ được trong dung dịch nước nhờ tác dụng nhũ tương hóa của
axít mật và axít béo. Do các nguyên nhân khác nhau nên thành phần trên có
thể kết tủa tạo sỏi. Có nhiều quan điểm về tạo sỏi:
- Thuyết nhiễm khuẩn.
- Thuyết nhiễm ký sinh trùng.
- Thuyết ứ đọng mật.
- Thuyết về chuyển hóa và tăng cao Cholesterol máu.


13

Theo Nguyễn Đức Ninh (2001) và Phạm Duy Hiển (1997), ở Việt
Nam thành phần chủ yếu của sỏi mật là sắc tố mật và một số chất khác như
Cholesterol, canxi... nhưng tỷ lệ thấp được hình thành qua một thời gian dài từ
một mảnh xác hay trứng giun ( từ 5 đến 20 năm) [19], [33].
1.4. TRIỆU CHỨNG VÀ CHẨN ĐOÁN SỎI ĐƯỜNG MẬT
1.4.1. Triệu chứng lâm sàng

sỏi túi mật (sỏi cholesterol) [23], [43].
- Siêu âm: Gan to, đường mật trong và ngoài gan giãn. Sỏi là những đám
đậm âm kèm bóng cản ở các vị trí khác nhau trong đường mật [36], [101].
Các nghiên cứu cho thấy sỏi đường mật chính, siêu âm có độ nhạy từ
89 - 95,5 % [18], [32]. Với sỏi đoạn thấp OMC, độ nhạy chỉ đạt 78 % - 87,8
%, độ đặc hiệu 94,2 %, độ chính xác là 91,2 % [18]. Kết quả của siêu âm còn
phụ thuộc nhiều vào người siêu âm.
- Siêu âm trong mổ:
+ Siêu âm trong mổ được ứng dụng đầu tiên ở Mỹ vào năm 1979. Siêu
âm trong mổ cho thấy nhiều ưu điểm trong xác định vị trí sỏi và hướng dẫn
các dụng cụ lấy sỏi, tán sỏi [18], [101], [104]. Nghiên cứu của Bismuth
(1998), có độ nhạy 89 - 93 %, độ đặc hiệu 98 - 98,6 %, giá trị dự báo dương
tính đạt 91- 94,1%, dự báo âm tính đạt 97 - 99 % [59]. Nghiên cúu của Zhang
và cộng sự (1996) cho thấy, phẫu thuật có siêu âm trong mổ, tỷ lệ sót sỏi giảm
xuống còn 26,3 % [104].
+ Siêu âm trong mổ với chỉ định cắt gan: là phương pháp chẩn đoán
hình ảnh có tính chất quyết định cuối cùng để chỉ định cắt gan nếu sỏi khu trú
ở một phân thuỳ hoặc thuỳ gan kết hợp với phì đại thuỳ gan.
- Chụp đường mật:
+ Chụp đường mật bằng đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch các thuốc
cản quang: cho kết quả thấp (khoảng 40 - 50 %) ( ít sử dụng ) [15].
+ Chụp đường mật qua da: Chỉ định cho những trường hợp bệnh nhân


15

tắc mật mà đường mật dãn to. Phương pháp này cho thấy hình ảnh đường mật,
vị trí và kích thước sỏi. Ngoài ra còn có tác dụng dẫn lưu dịch mật ra ngoài.
Tỷ lệ đạt kết quả cao 86 - 90 % [2], [37]. Theo Bismuth (1998), chụp đường
mật trực tiếp có độ nhạy 86 - 97,9 %, độ đặc hiệu 93 - 99 %, giá trị chẩn đoán

- Soi đường mật: thấy trực tiếp hình ảnh sỏi trong đường mật [7]
- Chụp XQ đường mật trong mổ, phương pháp này cho phép đánh giá
được vị trí, kích thước sỏi [7], [20].
1.4.4. Chẩn đoán sỏi mật
- Chẩn đoán xác định dựa vào:
+ Lâm sàng: Tam chứng Charcot [15], [23].
+ Cận lâm sàng: Sinh hóa máu có biểu hiện tắc mật đặc biệt tăng
Bilirubin trực tiếp [21], [35].
+ Siêu âm có hình ảnh sỏi đường mật.
+ Chụp đường mật qua nội soi ngược dòng.
- Chẩn đoán phân biệt:
+ Với các bệnh vàng da nhưng không tắc mật (thiếu máu do tan máu,
viêm gan…).
+ Với các bệnh tắc mật khác: U đầu tụy, U bóng Vater, ung thư đường
mật, hẹp đường mật sau chấn thương hay sau phẫu thuật [15].
1.4.5. Diễn biến của sỏi mật
- Diễn biến cấp tính:
+ Tắc mật cấp: Trước đây biến chứng này chiếm tỷ lệ 14 - 18 % trong
số sỏi mật có biến chứng phải mổ cấp cứu [33], [49].
+ Viêm phúc mạc mật và thấm mật phúc mạc: Hiện nay viêm phúc mạc
mật và thấm mật phúc mạc chiếm 8,4 % tổng số bệnh nhân sỏi đường mật. Viêm
phúc mạc mật và thấm mật phúc mạc là những biến chứng nặng của bệnh sỏi
đường mật [27], [33].


17

+ Sốc nhiễm trùng đường mật: Là biến chứng hay gặp và rất nặng,
chiếm từ 16 - 24 %. Trước đây tỷ lệ tử vong cao trong những trường hợp có
sốc nhiễm trùng đường mật, ngày nay nhờ tiến bộ trong hồi sức tỷ lệ tử vong

trị nội khoa ổn định có chỉ định phẫu thuật, bệnh nhân được chuẩn bị với các
chỉ số lâm sàng cận lâm sàng cho phép xếp lịch mổ theo kế hoạch [33].
1.5.2. Một số phương pháp phẫu thuật sỏi đường mật.
1.5.2.1. Phẫu thuật mở OMC lấy sỏi dẫn lưu đường mật
Mổ mở qua đường bụng tìm OMC, mở OMC đưa dụng cụ lấy sỏi (kìm
Raldan hoặc Mirizzi) lấy sỏi. Bơm rửa đường mật qua sonde sau đó đặt ống
dẫn lưu Kehr [15]. Cho tới nay, phẫu thuật mở OMC lấy sỏi và dẫn lưu đường
mật đã trở thành phẫu thuật kinh điển và là một phương pháp chủ yếu để điều
trị sỏi đường mật. Theo Đỗ Kim Sơn (2000), tại Bệnh viện Việt Đức từ năm
1976 - 1998 mở OMC lấy sỏi và dẫn lưu đường mật chiếm 81 % [39].
1.5.2.2. Mở OMC kết hợp với mở ống gan lấy sỏi qua nhu mô
Mở OMC lấy sỏi phối hợp với mở nhu mô gan lấy sỏi, bơm rửa đường
mật được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1961. Chỉ định chính của phương
pháp này là mở nhu mô gan lấy sỏi trong trường hợp sỏi nằm sát nhu mô gan mà
các dụng cụ thông thường không lấy được sỏi hoặc sỏi nằm trên chỗ hẹp (sát mặt
gan). Có thể kết hợp với nội soi đường mật và tán sỏi trong mổ. Các vị trí mở
nhu mô ở bên trái là hạ phân thuỳ 2, 3, bên phải là hạ phân thuỳ 6, 7 [38].
1.5.2.3. Phẫu thuật nối mật ruột da bằng đoạn ruột biệt lập
Từ năm 1988 phẫu thuật mở ống mật chủ ra da bằng một đoạn ruột
biệt lập đồng thời đính đầu đoạn ruột ra da để tạo ngõ vào đường mật. Phẫu
thuật này được sử dụng khi có hẹp ở đoạn dưới ống mật chủ. Đối với sỏi trong
gan mà không lấy được, phẫu thuật nối mật ruột được coi như phẫu thuật
phòng ngừa tránh tắc mật. Phẫu thuật nối mật ruột được chỉ định cho các
trường hợp sỏi mật có chít hẹp cơ Oddi hoặc dự phòng sỏi tái phát [27]. Baron
TH (2010) đã tán sỏi mật cho một trường hợp qua miệng nối mật ruột kiểu
Roux - En – Y [57].


19


Phẫu thuật nội soi lấy sỏi OMC lúc đầu thực hiện cho các trường hợp
sỏi đơn độc di động trong OMC. Với sự phát triển của ống soi mềm đường
mật và các phương tiện tán sỏi thuỷ điện lực, một số tác giả đã kết hợp nội soi
và nội soi đường mật để xử lý cả sỏi trong gan. Tiến hành nội soi vào ổ bụng
tìm OMC, mở OMC vào lấy sỏi bằng Mirizzi, sau đó đưa ống soi mềm nội soi
đường mật kiểm tra đường mật lấy sỏi bằng rọ hoặc tán sỏi bằng điện thủy lực
[14]. Kỹ thuật lấy sỏi dùng rọ hay bóng với số lượng sỏi ít vài viên, thường là
sỏi nhỏ và ở đoạn cuối của OMC [14]. Kong J (2010) , nội soi OMC lấy sạch
sỏi 95,5 % [77].
1.5.2.6. Nội soi mật tụy ngược dòng lấy sỏi
Qua nội soi dạ dày tá tràng tìm cơ Oddi cắt cơ Oddi đưa đầu soi mềm
ngược lên đường mật lấy sỏi bằng rọ. Đây là phương pháp lựa chọn số một
cho sỏi đường mật ngoài gan trong nhiều trường hợp khác nhau như: Sỏi
đường mật ngoài gan mới mắc hoặc tái phát, có hay không có viêm đường
mật hoặc viêm tụy. Sỏi đường mật ngoài gan có kèm chít hẹp cơ Oddi. Sỏi sót
sau phẫu thuật không còn dẫn lưu Kehr [7], [81]. Al Amri SM (1995) ,
Liyanage (2008), lựa chọn nội soi mật tụy là lựa chọn đầu tiên cho sỏi OMC
thành công là 98,5 % [54], [81].
1.5.2.7. Lấy sỏi qua da
Có hai kỹ thuật lấy sỏi qua da thường được sử dụng:
- Lấy sỏi qua đường hầm đặt Kehr: Bệnh nhân sau mổ, xác định còn
sót sỏi để lại dẫn lưu Kehr, sau 3 - 4 tuần kiểm tra lại rút dẫn lưu Kehr, qua
đường hầm Kehr vào đường mật bằng ống soi mềm tìm sỏi. Khi thấy sỏi có
thể lấy sỏi bằng rọ Dormia, bơm rửa đường mật đẩy sỏi xuống tá tràng hoặc
tán sỏi điện thủy lực. Phương pháp này có thể chỉ định cho bệnh nhân sót sỏi
ở OMC hay ống gan. Đối với sỏi đường mật hạ phân thùy hay sỏi ở trên chỗ
hẹp đường mật, phương pháp này cho kết quả hạn chế [11], [46], [48].


21

22

* Sỏi tái phát là trường hợp sỏi mật mới được hình thành lại sau khi đã
lấy hết sỏi , thời gian trên 6 tháng sau mổ [15], [29].
* Phương pháp điều trị: Lúc này ống Kehr đã được rút bỏ, có 3 cách
để lấy sỏi:
- Lấy sỏi qua nội soi cắt cơ vòng Oddi.
- Lấy sỏi xuyên gan qua da.
- Mổ lại.
1.5.4. Vai trò của nội soi đường mật
1.5.4.1. Trong chẩn đoán
Nhiều phương tiện chẩn đoán như siêu âm, chụp XQ đường mật, chụp
cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, chụp mật tuỵ ngược dòng qua nội soi, đã
giúp cho chẩn đoán bệnh của đường mật được dễ dàng và chính xác hơn. Mặc
dù vậy nội soi đường mật vẫn có giá trị trong chẩn đoán và điều trị sỏi gan sau
phẫu thuật là có thể thực hiện được [7][20].
- Xác định sỏi: Nội soi có độ đặc hiệu 100% trong chẩn đoán sỏi
đường mật. Tuy nhiên độ nhạy trong chẩn đoán sỏi ống mật trong gan thấp do
dễ bỏ sót một số nhánh ống mật trong gan khi soi.
- Xác định hẹp đường mật : Một số tác giả dựa vào nội soi để xác định hẹp
đường mật và phân độ hẹp. Lee (2001), đưa ra 3 mức độ hẹp đường mật [78]:
+ Hẹp nhẹ là dùng đầu soi có đường kính 4.9 mm vừa đút chặt vào chỗ
hẹp nhưng không qua được, sau khi nong đầu soi qua được.
+ Hẹp vừa là đầu soi đút chặt nhưng không qua được sau nong.
+ Hẹp nặng là hẹp nhỏ hơn nhiều so với đường kính ống soi.
Theo Đặng Tâm (2004), tiêu chuẩn xác định hẹp đường mật là sự hiện
diện một chỗ thắt hẹp lại ở một ống mật dãn to, bất kỳ vị trí nào trên phim
chụp đường mật. Xác định hẹp đường mật nội soi như sau :
+ Hẹp nhẹ : Đường mật có hẹp nhưng cố gắng đưa máy soi (đường
kính 5 mm) qua được. Ngoài ra, các trường hợp hẹp đường mật ở các ống mật


24

* Cắt hoặc nong cơ vòng Oddi: Khi cơ vòng Oddi bị chít hẹp làm cản
trở tống các mảng sỏi xuống tá tràng có thể nong hoặc cắt cơ vòng Oddi trong
quá trình tán sỏi [91]
* Gắp giun hoặc dị vật ở đường mật: Khi cần gắp giun hoặc lấy dị vật
ở đường mật, nội soi đường mật là phương tiện đắc lực nhất. Có thể dùng rọ
hay kìm để gắp [7].
* Phối hợp với ERCP trong can thiệp: Nội soi đường mật qua da đôi
khi cần phối hợp với nội soi mật tụy ngược dòng. Chẳng hạn như trường hợp
đưa dây dẫn đường qua da xuống tá tràng để hướng dẫn thông vào nhú Vater.
Dây dẫn đường được kiểm soát 2 đầu (da và miệng) giúp nong đường mật hẹp
và đặt stent dễ dàng hơn [7], [63].
1.5.5. Vai trò của tán sỏi trong cơ thể:
Tán sỏi trong cơ thể là dùng một bộ phận của thiết bị tán sỏi đưa vào
bên trong cơ thể, thường là qua ống nội soi, tiếp cận sỏi làm vỡ sỏi theo những
cơ chế khác nhau [55], [67], [71]. Theo Adamek (1999), kết hợp tán sỏi ngoài
cơ thể, tán sỏi điện thủy lực, Laser tán sỏi cho kết quả hơn 90% sạch sỏi [51].
Ở Việt Nam sỏi mật có đặc điểm là kích thước lớn, không quá cứng, số
lượng nhiều, đóng khuôn trong ống mật, nhất là sỏi trong gan. Do đó không thể
lấy sỏi đơn thuần bằng dụng cụ thông thường như rọ hay gắp sỏi mà cần phối
hợp tán sỏi trong cơ thể hoặc có thể phối hợp nhiều cách để lấy sỏi [6], [12].
1.5.6. Tán sỏi điện thủy lực trong điều trị sỏi mật
1.5.6.1. Nguyên lý hoạt động của máy tán sỏi điện thuỷ lực
Thiết bị tán sỏi thuỷ điện lực gồm một máy phát và một que tán sỏi
(gọi là dây tán sỏi). Khi ấn pedal của máy phát, nó tạo ra một điện thế cao
1000 - 4500 volts kiểu xung rất ngắn khoảng 2 - 5 micro giây (một xung đơn
độc hay một loạt xung liên tiếp). Dây tán sỏi thực chất là một dây dẫn điện
kép làm bằng chất liệu có tính dẫn điện tốt, có nhiệm vụ dẫn truyền xung điện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status