Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp - Pdf 31

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay nước ta đã và đang trong quá trình đổi mới từ cơ cấu kinh tế
bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, hướng tới hội
nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Để góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế đất nước, việc đào tạo nghề nghiệp phải tuân thủ các quy luật
khách quan của thị trường, đặc biệt là thị trường lao động, phải đáp ứng
và phát triển được nguồn nhân lực có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có
phẩm chất tốt gắn liền với một nền khoa học, công nghệ sản xuất hiện đại.
Vấn đề phân luồng HS sau THCS v à THPT hiện nay đang được
ngành giáo dục quan tâm. Số lượng HS tốt nghiệp THCS hàng năm đã gây
sức ép lên các trường THPT; đồng thời trong số HS này, một số không được
học tiếp bậc THPT, cũng đã và đang tạo áp lực cho nền kinh tế xã hội về lao
động, việc làm và tiềm năng phát triển thị trường lao động.
Hoạt động GDHN cho HS có ý nghĩa rất to lớn. Về mặt giáo dục, đó
là việc điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp của HS theo hướng phân công
lao động xã hội, góp phần vào việc cụ thể hóa các mục tiêu đào tạo của nhà
trường phổ thông. Về mặt kinh tế, hoạt động GDHN giúp khai thác và sử
dụng hợp lý tiềm năng lao động của lực lượng lao động trẻ, từ đó giúp nâng
cao năng suất lao động xã hội. Về mặt xã hội, hoạt động GDHN có chức
năng thực hiện đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước.
Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VIII tiếp tục nhấn mạnh: “Tăng cường giáo dục kỹ thuật tổng hợp và năng
lực thực hành ở bậc học phổ thông”.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 xác định: “Củng cố
vững chắc kết quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tiến hành phổ
cập trung học cơ sở trong cả nước; phần lớn thanh, thiếu niên trong độ
tuổi ở thành thị và vùng nông thôn đồng bằng được học hết trung học phổ
thông, trung học chuyên nghiệp hoặc đào tạo nghề”.

nhiệm vụ nói trên.
Về phía ngành giáo dục và đào tạo trong thời gian qua, đã đáp ứng một
phần nào nhu cầu nguồn nhân lực của nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cuả
cả nước nói chung và của địa phương, các vùng nói riêng. Tuy nhiên, việc đáp
ứng nhu cầu nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát


3

triển trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Chất lượng giáo dục (trong đó có
GDHN) nói chung còn thấp, chưa hợp lý về cơ cấu nghề nghiệp, sự phù hợp
với các đối tượng HS và các địa phương khác nhau còn chưa cao.
Trong thời gian vừa qua, mặc dù đã có được một số kết quả, nhưng
công tác GDHN hiện nay ở các trường THCS của tỉnh Đồng Tháp nói chung
và ở thành phố Cao Lãnh nói riêng chưa được quan tâm đúng mức. Đối với
thành phố Cao Lãnh công tác GDHN đang gặp phải những khó khăn rất lớn
về khách quan và chủ quan. Một mặt, do cơ sở vật chất, điều kiện thực hành
ở các trường THCS còn thiếu; vì những hoạt động đó đòi hỏi phải đầu tư
nhiều thời gian, trí lực nên giáo viên chưa thực sự nhiệt tình với các hoạt
động hướng nghiệp thông qua hoạt động chuyên môn. Mặt khác, lãnh đạo các
trường THCS thường tập trung vào công tác QL dạy học, các hoạt động giáo
dục đạo đức HS, còn việc QL hoạt động hướng nghiệp có phần bị xem nhẹ.
Bên cạnh đó, công tác QL hoạt động GDHN còn nhiều bất cập, ảnh hưởng
đến hiệu quả công tác GDHN tại địa phương.
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS thành phố
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp
nâng cao hiệu quả QL hoạt động GDHN cho HS THCS thành phố Cao Lãnh,

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực
tiễn có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu điều tra bằng phương pháp
thống kê toán học.


5

7. Đóng góp của luận văn
7.1. Về mặt lý luận
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về GDHN và QL hoạt động GDHN
ở các trường THCS.
7.2. Về mặt thực tiễn
Khảo sát thực trạng QL hoạt động GDHN ở các trường THCS thành phố
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả
QL hoạt động GDHN cho HS THCS thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề QL hoạt động GDHN cho HS
THCS.
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao hiệu quả QL hoạt
động GDHN cho HS THCS thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Chương 3: Một số giải pháp pháp nâng cao hiệu quả QL hoạt động

ngành đảm nhiệm, trong đó GS.JMLahy giảng dạy về hướng nghiệp, chọn
nghề, GS HLuc giảng dạy về triết lý hướng nghiệp. Hướng nghiệp được Chính
phủ Pháp thể chế hoá bằng sắc lệnh năm 1938 liên quan tới HS rời ghế nhà
trường lúc 14 tuổi.


7

Ở Thuỵ Sĩ, Claparede đã phát triển công tác hướng nghiệp và chủ trì hội
nghị quốc tế đầu tiên về hướng nghiệp tại Genevé năm 1920. Hai giáo sư
J.M.Lahy và J.Fontege, đại diện nước Pháp, tham dự hội nghị này. Năm 1922
GS. Claparede công bố bài nghiên cứu nhan đề “Hướng nghiệp – vấn đề và
các phương pháp” theo đơn đặt hàng của Tổ chức Lao động Quốc tế.
Tại Đức: những nhà giáo dục học và những nhà nghiên cứu về lao
động, kỹ thuật và kinh tế đã nghiên cứu về nội dung, phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp. Qua đó, tổ chức cho HS thực
tập tại các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ. Nhờ vậy, HS
được làm quen với môi trường lao động và được giáo dục một số kỹ năng
lao động cần thiết, giúp các em phát triển thành những con người trưởng
thành trong cuộc sống xã hội.
Tại Úc: vấn đề GDHN được quan tâm và thực hiện trong tất cả
HS. Trường học không chỉ giúp HS biết chọn nghề nghiệp tương lai phù
hợp cho mình mà còn cung cấp những kỹ năng lao động và tri thức cần thiết
giúp HS có thể lập nghiệp ngay trong thời gian còn đi học, tham gia hiệu
quả vào đời sống xã hội.
Tại Nhật Bản đã sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa
học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kỹ năng lao động – nghề nghiệp
ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% số trường THPT vừa học văn hoá phổ
thông vừa học các môn học kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp,
công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ,…Sau khi tốt nghiệp cấp II có đến 94%

nghiệp và phân luồng từ cấp THCS. [15]
Quyết định 126/CP ngày 19-3-1981 của Chính phủ về Công tác
hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh
THCS, THPT tốt nghiệp ra trường [32] đã nêu rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ
công tác hướng nghiệp, phân công cụ thể chính quyền các cấp, các ngành
kinh tế, văn hóa từ Trung ương đến địa phương tham gia vào hoạt động HN.
Tất cả các cấp, các ngành có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ
các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lý và tiếp tục bồi
dưỡng HS phổ thông sau khi ra trường. Thông tư 31/TT của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT về việc Hướng dẫn thực hiện quyết định 126/CP của Chính phủ
cũng nêu rõ mục đích, nhiệm vụ và hình thức hướng nghiệp cho HS phổ
thông; đồng thời phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên đang


9

công tác tại trường THPT.
Công tác GDHN cho HS THPT ở Việt Nam từ lâu đã được các nhà
khoa học, các nhà QL giáo dục quan tâm nghiên cứu như:
- Nguyễn Thị Bình (1982) về trách nhiệm của ngành ta đối với công
tác hướng nghiệp và sử dụng HS ra trường; Trần Xuân Nhĩ (1982) về nắm
vững những quan điểm đúng đắn, ra sức đẩy mạnh công tác hướng
nghiệp; Võ Nguyên Giáp (1984) về công tác hướng nghiệp trong các nhà
trường phổ thông; Phạm Huy Thụ (1996) về hoạt động lao động-hướng
nghiệp của học sinh phổ thông Việt Nam
- GS.TS Phạm Tất Dong với đề tài “Đổi mới công tác hướng
nghiệp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. [9]
- TS Hồ Văn Thống nghiên cứu về “Quản lý giáo dục hướng nghiệp
trung học phổ thông theo định hướng tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh Đồng
bằng sông Cửu Long đến năm 2020”. [ 3 5 ]

tục và thường xuyên bằng nhiều hình thức, bằng nhiều con đường.
Cũng cần nhấn mạnh rằng, lao động nghề nghiệp là quyền lợi của mỗi
con người trong xã hội. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, bất kỳ người nào cũng
đều phải lao động, lao động có nghề nghiệp. Do đó, mỗi em nhỏ phải được
HN. Với cách hiểu như vậy, HN cũng là quyền lợi đối với trẻ em.
Hướng nghiệp là quá trình dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp,
giúp họ phát huy được hết năng lực lao động trong thế giới đó, có được cuộc
sống thoả mãn với lao động nghề nghiệp.
Trên bình diện hoạt động ở trường phổ thông, “HN là một hình thức hoạt
động dạy của thầy và hoạt động học của trò.”[36]. Với tư cách là hoạt động
dạy của thầy, HN được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư
phạm, có mục đích giáo dục HS trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết
định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng
thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành nghề sản xuất trong xã
hội.
Như vậy HN trong trường phổ thông được thể hiện như một hệ thống tác
động sư phạm nhằm làm cho các em HS chọn được nghề một cách hợp lý.


11

HN là một trong những hình thức hoạt động học tập của HS. Thông qua
hoạt động này, mỗi HS phải lĩnh hội được những thông tin về nghề nghiệp
trong xã hội, đặc biệt là nghề nghiệp ở địa phương, phải nắm được hệ thống
yêu cầu của từng nghề cụ thể mà mình muốn chọn, phải có kỹ năng tự đối
chiếu những phẩm chất, những đặc điểm tâm - sinh lý của mình với hệ thống
yêu cầu của nghề đang đặt ra cho người lao động.
1.2.1.2. Giáo dục hướng nghiệp
Con người có thể sáng tạo trong lao động, lao động có năng suất cao, khi
lao động là niềm vui, niềm hạnh phúc đối với họ. Điều này chỉ xảy ra khi

sản xuất, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội”, GDHN được
xác định là một bộ phận quan trọng trong nội dung giáo dục toàn diện cho HS
phổ thông đã được khẳng định trong Luật Giáo dục.
Trong nhà trường phổ thông hoạt động GDHN là công việc của tập thể
sư phạm giáo dục HS lựa chọn một cách tốt nhất, nghĩa là trong sự lựa chọn
đó có sự phù hợp giữa nguyện vọng nghề nghiệp của cá nhân với yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội và có sự phù hợp giữa năng lực của cá nhân với đòi hỏi
của nghề.
Hoạt động GDHN đạt được sự thành công cần phải thực hiện tốt ba
nhiệm vụ sau: Định hướng nghề - Tư vấn nghề - Tuyển chọn nghề.
a. Định hướng nghề nghiệp:
Trong trường phổ thông công việc chủ yếu của định hướng nghề
nghiệp là thông tin về sự phát triển của các nghề trong xã hội. Đặc biệt là
những nghề đang có nhu cầu nhân lực một cách cấp thiết, những yêu cầu
tâm lý và sinh lý của các nghề đang đặt ra, tình hình phân công lao động xã
hội và hệ thống trường dạy nghề…Đối tượng của sự định hướng đó chủ yếu
là HS, nhưng đôi khi, nhà trường cũng phải cung cấp những thông tin nói
trên cho cha mẹ HS nhằm mục đích phối hợp hướng nghiệp cho các em một
cách thống nhất.
b. Tư vấn nghề:
Tư vấn nghề là một hoạt động dựa vào những lời khuyên tâm lý, giáo
dục và y học nhằm đánh giá toàn diện năng lực thể chất và trí tuệ của thanh
thiếu niên. Trên cơ sở đối chiếu với những yêu cầu của nghề nghiệp đặt ra đối
với người lao động có tính đến nhu cầu của địa phương và xã hội, giúp các


13

em chọn nghề phù hợp, góp phần cho sự thành đạt sau này.
Đây là hình thức tác động hướng nghiệp thông qua sự góp ý và lời

14

cuộc đời của các em, mà còn gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước, liên quan đến vấn đề “quốc kế dân sinh”.
1.2.2. Quản lý và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
1.2.2.1. Quản lý
C. Mac đã chỉ ra, tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến
một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động
của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển
lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng.
Trên mỗi góc độ tiếp cận và hoạt động, người ta có thể đưa ra một quan
niệm QL khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung, các quan niệm đều cho rằng, khái
niệm QL bao gồm những dấu hiệu đặc trưng sau:
- QL là hoạt động lao động, hoạt động lao động đặc biệt; hoạt động này
để điều khiển lao động.
- Trong QL, bao giờ cũng có chủ thể QL và khách thể QL (đối tượng
QL) quan hệ với nhau bằng những tác động QL. Những tác động QL chính là
những quyết định QL, là những nội dung mà chủ thể QL yêu cầu đối với
khách thể QL, khách thể QL thực hiện các yêu cầu của chủ thể QL.
- QL phải có cấu trúc và vận động trong một môi trường xác định. Hoạt
động QL bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con người và toàn xã
hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận động và phát triển
của đối tượng cần QL theo một mục đích nhất định.
- QL là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội.
Lao động QL là điều kiện quan trọng để xã hội tồn tại, vận hành và phát triển.
Như vậy, theo chúng tôi quan niệm của Nguyễn Đức Trí về “quản lý”
sau đây là đầy đủ hơn cả:
“Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ định), có tổ

Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy
động lực của nhân tố con người trong hệ thống QL, thể hiện mối quan hệ giữa
con người với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó do họ
tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu.


16

Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể QL đến hành vi và
thái độ của đối tượng QL nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Chỉ đạo thể hiện
quá trình ảnh hưởng qua lại giữa chủ thể QL và mọi thành viên trong tổ chức.
4) Chức năng kiểm tra.
Kiểm tra là chức năng của người QL nhằm đánh giá, phát hiện và điều
chỉnh kịp thời giúp cho hệ thống QL vận hành tối ưu, đạt mục đích đề ra.
Kiểm tra là nhằm xác định kết quả thực hiện kế hoạch trên thực tế, phát hiện
những sai lệch, đề ra những biện pháp uốn nắn điều chỉnh kịp thời. Kiểm tra
không hẳn là giai đoạn cuối của chu trình QL, bởi kiểm tra diễn ra trong suốt
quá trình từ đầu đến cuối, từ lúc chuẩn bị xây dựng kế hoạch.
Kiểm tra có hiệu quả cao là kiểm tra mang tính lường trước, cho phép
phát hiện sai sót từ khâu lập kế hoạch hay quá trình đang diễn ra. Như vậy,
kiểm tra thực chất là quá trình thiết lập mối quan hệ ngược trong QL, nó giúp
người lãnh đạo điều khiển một cách tối ưu hoạt động QL. Do đó ta có thể nói
“không có kiểm tra là không có QL”.
Qua phân tích các chức năng QL, chúng ta thấy rằng các chức năng này
có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, chi phối lẫn nhau.
Kế hoạch
hóa
Tổ chức

Quản lý

nói chung hiệu quả lao động là năng suất lao động, được đánh giá bằng số
lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số
lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian.
1.2.3.2. Hiệu quả quản lý hoạt động GDHN
Hiệu quả QL hoạt động GDHN là tạo ra kết quả của việc thực hiện
GDHN cho HS trong nhà trường theo những kết quả mong muốn hoặc có chủ
định.
1.2.4. Giải pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả QL hoạt động GDHN
1.2.4.1. Giải pháp
Theo Từ điển tiếng Việt (do Văn Tân chủ biên, 1994), định nghĩa giải
pháp: “giải là cởi ra, pháp là phép”. Giải pháp là cách thức giải quyết một vấn
đề khó khăn nào đó. Từ điển Bách khoa toàn thư (2000) cũng có định nghĩa


18

khái niệm giải pháp “Giải pháp là toàn bộ những điều quyết định cần thực
hiện để thanh toán những khó khăn có thể dẫn đến tình trạng bế tắc”.
1.2.4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả QL hoạt động GDHN
Giải pháp nâng cao hiệu quả QL hoạt động GDHN là loại giải pháp
hành chính nhằm giải quyết một vấn đề nào đó trong công tác QL giáo dục,
để chủ thể QL tác động đến đối tượng QL theo mục tiêu đào tạo của nhà
trường để đạt được kết quả tốt nhất.
1.3. Hoạt động GDHN cho HS ở trường THCS
1.3.1. Vị trí, vai trò của hoạt động GDHN cho học sinh THCS
1.3.1.1. Thực hiện GDHN ở trường THCS là xu thế tất yếu của thời đại
Ở nước ta, hoạt động GDHN trong nhà trường phổ thông cấp THCS có vị
trí đặc biệt quan trọng nhằm đảm bảo những yêu cầu sau:
- Về mặt kiến thức: Giúp cho HS có được những hiểu biết cần thiết về
thế giới nghề nghiệp, các lĩnh vực sản xuất chủ yếu trong xã hội như công

là do ý muốn của cha mẹ, người thân hoặc bạn bè mà không hiểu nghề đó có
phù hợp với mình hay không. Vì vậy, người làm công tác hướng nghiệp có
nhiệm vụ tư vấn và tuyên truyền định hướng cho các em, giúp các em gắn bó
với nghề mình yêu thích. Từ đó, các em sẽ phấn đấu để đạt được nguyện
vọng làm đúng với nghề mình đã chọn. Sự phù hợp nghề của một con người
bao giờ cũng được bộc lộ bởi 2 yếu tố: năng lực và phẩm chất trong lao động
nghề nghiệp theo yêu cầu của nghề đó đặt ra. Chúng luôn thống nhất với
nhau, chuyển hóa lẫn nhau, thiếu một trong hai yếu tố trên thì không thể coi
là phù hợp nghề.
1.3.2. Mục tiêu của hoạt động GDHN cho học sinh THCS
Luật giáo dục năm 2005 đã chỉ rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là
giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục
học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ
quốc”[25]. Để thực hiện mục tiêu đó, chương trình giáo dục ở trường phổ
thông được xây dựng bao gồm hệ thống các môn học bắt buộc và tự chọn,
các hoạt động trong và ngoài giờ lên lớp, các hoạt động khác của đoàn thể và
cộng đồng xã hội. Hệ thống các hoạt động giáo dục đồng bộ, phong phú diễn
ra ở trong và ngoài nhà trường, thực hiện phương châm học đi đôi với hành,
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội; coi trọng
công tác hướng nghiệp và phân luồng HS trung học, chuẩn bị cho thanh niên,


20

thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong cả nước và từng địa phương.
Mục tiêu công tác GDHN HS THCS cũng là một bộ phận trong mục
tiêu giáo dục phổ thông, phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện,

Tìm hiểu năng lực bản
thân và truyền thống nghề
nghiệp của gia đình

11

Thế giới nghề nghiệp
quanh ta

Nội dung
- Ý nghĩa của việc chọn nghề.
- Cơ sở khoa học của việc chọn nghề.
- Những nguyên tắc chọn nghề.
- Một số khái niệm: năng lực, phù hợp nghề.
-Tự đánh giá năng lực bản thân theo yêu cầu nghề nghiệp.
- Phát triển và bồi dưỡng năng lực.
- Tính đa dạng và phong phú của thế giới nghề nghiệp.
- Phân loại nghề theo đối tượng lao động.
- Bản mô tả nghề.


21

12

Tìm hiểu thông tin một số
nghề phổ biến ở địa
phương

1

-Thông tin cơ bản về các trường Trung học chuyên
nghiệp
của Trung ương và địa phương (tuyển sinh trình độ
THCS).
-Thông tin cơ bản về các trường Dạy nghề của Trung
ương và địa phương.
- Thực trạng phân luồng HS sau khi tốt nghiệp THCS.
- Các hướng đi sau khi tốt nghiệp THCS.
- Lựa chọn hướng học tập và nghề sau khi tốt nghiệp
THCS:
khósự
khăn
cách
khắc
-thuận
Kháilợi,
niệm,
cầnvà
thiết
phải
tư phục.
vấn định hướng học tập
và chọn nghề nghiệp phù hợp với hứng thú, năng lực bản
thân và nhu cầu xã hội.
- Những sai lầm thường mắc phải khi chọn nghề.
- Quy trình tư vấn cho HS.
- Một số đặc điểm của quá trình phát triển kinh tế - xã
hội ở nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
- Sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong

8

Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc chọn nghề có cơ sở khoa học.

1

9

Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa
phương.

1

10

Thế giới nghề nghiệp quanh ta.

1

11

Tìm hiểu thông tin về một số nghề ở địa phương.

1

12

Thông tin về thị trường lao động.

1

định 126/CP ngày 19-3-1981 của Chính phủ. Công tác GDHN ở các trường
phổ thông gồm các nhiệm vụ:
- Giáo dục thái độ lao động cho HS.
- Tổ chức cho HS thực tập làm quen với một số nghề.
- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng HS để
khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất.
Về lâu dài trên bình diện xã hội, để làm tốt nhiệm vụ GDHN cho HS
cấp THCS cần thực hiện cả ba nội dung: tuyên truyền định hướng về nghề
nghiệp, tư vấn nghề nghiệp và tuyển chọn nghề nghiệp. Các nhiệm vụ đó
được thể hiện qua “Tam giác hướng nghiệp" ở Sơ đồ 1.2 dưới đây.

Sơ đồ 1.2: Các nhiệm vụ GDHN định hướng nghề


23

Định hướng nghề

Đặc điểm yêu cầu
ngành nghề xã hội cần
phát triển

Tư vấn nghề

Phẩm chất , năng lực
Hoàn cảnh cá nhân

Thị trường lao động

Tuyển chọn nghề

lao động sản xuất.
c. Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp.
d. Hướng nghiệp qua các hoạt động tham quan, ngoại khóa, các phương
tiện thông tin đại chúng, gia đình và các tổ chức xã hội.
1.3.4.3. Các giai đoạn của công tác GDHN
Công tác GDHN trong nhà trường phổ thông đối với từng HS được
tiến hành qua các giai đoạn sau:
+ Tìm hiểu về thế giới nghề nghiệp: HS được tìm hiểu, làm quen với
các ngành, nghề, các dạng lao động phổ biến trong các lĩnh vực sản xuất,
kinh tế, xã hội, nhất là các ngành nghề đang có nhu cầu lao động ở địa
phương nhằm tạo cơ sở để quyết định về hướng phát triển sự nghiệp của
mình.
+ Tập dượt, thử sức mình qua học tập các bộ môn văn hóa, kỹ thuật,
nghề phổ thông, qua thực hành, lao động sản xuất; học về cách đánh giá bản
thân trong mối liên quan đến công việc; tự đánh giá những khả năng, điều
kiện của bản thân mình trong việc đáp ứng những yêu cầu của nghề (kể cả
điều kiện về kinh tế cho chi phí đào tạo)
+ Học cách làm kế hoạch và quyết định lựa chọn con đường học một
nghề, một lĩnh vực lao động phù hợp nhất. Đây là nhiệm vụ cơ bản nhất của
công tác GDHN, chứng tỏ HS được chuẩn bị cả về mặt tư tưởng, tâm lý, tri
thức, kỹ năng…hay không, khi quyết định chọn nghề. Các em sẽ thoải mái tự
quyết định lựa chọn nghề nghiệp tương lai khi đã am hiểu, tập dượt thử sức
mình. Lúc đó mới có thể nói là việc chọn nghề đã dựa trên các cơ sở khoa
học cần thiết.
+ HS tự thực hiện những quyết định của mình.
1.4. Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả QL hoạt động GDHN cho HS
trường THCS


25

hóa. Mặt khác nó có tác dụng điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo


Trích đoạn 1i “ U1d2ụU iíU M.gU1 ểể Mí “iứM u3 K đoU1 U1.ề 1i “ U1d2ụU iíU M.gU1 ểư Mí “iứM u3 K đoU1 U1.ề 1i “ U1d2ụU iíU M.gU1 vt Mí “iứM u3 K đoU1 U1.ề Đội ngũ GV hiện nay cịn thiếu nhiều so với nhu cầu Chất lượng cịn hạn chế, cơ cấu ngănh nghề thiếu đồng bộ Giải phâp QL xđy dựng vă bồi dưỡng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status