Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở huyện tân kỳ, tỉnh nghệ an - Pdf 33

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
____________________________________________

PHAN VĂN DŨNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TÂN KỲ,
TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2015


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
____________________________________________

PHAN VĂN DŨNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TÂN KỲ,
TỈNH NGHỆ AN


4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH
CBGV
CMHS
CSGD
CTHN
DN
GDHN
GD NPT
GVCN
NGLL
HĐHN
HĐQL
HN
HSPT
KHGD
QLGD
QLHN
TCCN
TCDN
TTDN

Ban giám hiệu
Cán bộ, giáo viên
Cha mẹ học sinh
Cơ sở giáo dục
Công tác hướng nghiệp
Dạy nghề
Giáo dục hướng nghiệp

HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THCS................94
Phụ lục 4:..........................................................................................101
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.....Error: Reference
source not found


6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.............................................5
6.3. Phương pháp thống kê toán học........................................................6
1.2.2.1. Quản lý.......................................................................................14
................................................................................................................60
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC. .61
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ..................61
HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN........................................................61
Phụ lục 1:............................................................................................91
PHIẾU XIN Ý KIẾN CỦA CBGV....................................................91
Phụ lục 2:............................................................................................94
PHIẾU XIN Ý KIẾN CỦA CMHS HUYỆN VỀ GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THCS................94
Phụ lục 4:..........................................................................................101


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hàng năm cả nước ta có hơn một triệu học sinh tốt nghiệp THCS, họ là
nguồn lực lao động to lớn cho đất nước. Thế nhưng để trở thành một “lao
động” đúng nghĩa trong xã hội đang phát triển như hiện nay các em phải đứng

của hoạt động giáo dục hướng nghiệp có liên quan chặt chẽ đến cơ cấu ngành
nghề phù hợp với sự phát triển KT-XH, sự thay đổi của hệ thống, xu hướng
giáo dục, tình hình phát triển của thị trường tuyển dụng lao động... do đó đòi
hỏi công tác quản lý, triển khai hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các
trường THCS cần thường xuyên đổi mới, cập nhật thông tin, nội dung,
phương pháp. Song việc thực hiện công tác này trong thời gian qua còn nhiều
khó khăn lúng túng bởi nhiều nguyên nhân, có thể kể đến một số nguyên nhân
chủ yếu như thiếu tài liệu tham khảo, chưa có giáo viên được đào tạo chuyên
trách… và kể cả là sự thiếu quan tâm và chưa có các giải pháp tích cực của
các nhà quản lý, nhà giáo dục. Trong hoàn cảnh đó việc đưa ra các giải pháp
đồng bộ, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của công tác GDHN nói
chung và GDHN tại các trường THCS là rất cần thiết.
Qua thực tế cho thấy hệ thống đào tạo của Việt Nam cũng như một số
nước trên thế giới có hai hướng đó là đào tạo “thầy” (Đào tạo hàn lâm) và đào
tạo “thợ” (Đào tạo nghề) nhưng hiện nay một hiện tượng đang diễn ra rất phổ
biến trên cả nước đó là “Thừa thầy, thiếu thợ”, hiện tượng này dẫn đến một
thực trạng là hiện nay một bộ phận rất lớn Sinh viên khi ra trường không tìm
được việc làm hoặc phải chấp nhận làm những việc trái với ngành nghề đào
tạo, không phù hợp với khả năng của bản thân trong khi đó ở một số nghề lại
rất thiếu những lao động có tay nghề thực sự.
Theo thống kê của Báo Lao Động thì hiện nay đang tồn tại một nghịch
lý là số lượng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS vào THPT được tiếp tục đào


3
tạo qua các trường Cao đẳng, Đại học, THCN tăng mạnh, nhiều em có bằng
tốt nghiệp loại khá và giỏi nhưng đồng thời tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng nhanh.
Vậy nguyên nhân vì đâu?
Những tồn tại trên có thể kể đến nhiều nguyên nhân nhưng có lẽ một
trong những nguyên nhân chủ yếu là hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong

em ở nhà hoặc đi làm các khu công nghiệp mà chưa qua đào tạo, họ chưa
được tiếp cận hoặc tiếp cận không đầy đủ và các kỷ năng tự khám phá bản
thân, hiểu biết không đầy đủ về thế giới nghề nghiệp, thiếu khả năng xây
dựng kế hoạch nghề nghiệp cho riêng mình và đặc biệt là họ rất thiếu các
thông tin, cùng với đó là nhận thức về công tác hướng nghiệp trong các nhà
trường chưa cao, năng lực các nhà quản lý, nhà tổ chức GDHN còn hạn chế,
các hình thức hoạt động chưa thực sự đa dạng, chưa thu hút được các em
tham gia, các tổ chức, đơn vị, các trường chuyên nghiệp, các doanh nghiệp
ngoài nhà trường... chưa có sự phối hợp nhiều với nhau để mang lại hiệu quả
cho hoạt động, cơ sở vật chất, thiết bị phương tiện phục vụ HĐHN còn hạn
chế, công tác kiểm tra đánh giá chưa đầy đủ, chưa kịp thời.
Nhiều học sinh khi chọn nghề cho mình chỉ thông qua các thông báo,
các buổi tư vấn của các trường TCDN, các TTDN, lý do mà họ chọn ngành
nghề cho mình cũng rất đơn giản có thể chỉ vì “nghe bảo ngành này, nghề
này hót, có thu nhập cao” hay em chọn nghề này vì “nhàn”… Thậm chí là
“học vì theo bạn bè”.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Một số giải pháp quản lý
công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học cơ sở huyện Tân
Kỳ, tỉnh Nghệ An” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp
quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học cơ sở huyện
Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.


5
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Vấn đề quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung
học cơ sở.

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phần mềm để xử lý số liệu thu được.
7. Đóng góp của luận văn
7.1. Về mặt lý luận
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về giáo dục hướng nghiệp; làm rõ ý
nghĩa, nội dung và phương pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh các trường THCS trong giai đoạn hiện nay.
7.2. Về mặt thực tiễn
Làm rõ thực trạng quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh THCS huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. Từ đó, đề xuất các giải pháp có cơ
sở khoa học, có tính khả thi để nâng cao công tác quản lý giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh THCS huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục
nghiên cứu, luận văn có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý công tác giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh THCS.
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý công tác giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh THCS huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.
- Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh THCS huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.


7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP

bài viết “Tự do chọn nghề” (năm 1929)[9]. Theo bà, thông qua HĐHN, mỗi
HS đều phải nhận thức sâu sắc hướng phát triển kinh tế của đất nước, những
nhu cầu của nền sản xuất cần được thoả mãn, những nhiệm vụ của thanh,
thiếu niên phải đáp ứng được yêu cầu mà xã hội đề ra trước các em trong lĩnh
vực lao động sản xuất. Mặt khác HĐHN lại phải giúp cho các em phát triển
được hứng thú và năng lực nghề nghiệp, giáo dục cho các em thái độ lao động
đúng đắn, động cơ chọn nghề trong sáng. Từ đó, thanh thiếu niên có thái độ tự
giác trong việc chọn nghề.
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
Căn cứ các nguồn tư liệu được biết từ năm 1977 đến năm 1980. Dựa
trên kết quả thực nghiệm đưa công tác HN vào trường phổ thông của bộ phận
Tâm lí học lao động, HĐHN thuộc Viện KHGD (lúc đó là các tác giả Phạm
Minh Hạc, Phạm Tất Dong tiến hành tại huyện Thanh Oai tỉnh Hà Sơn Bình,
trường PTCS Bắc Lí, Hà Nam Ninh (cũ) và một số trường PT ở Hà Nội), Bộ
giáo dục đã cho sửa chữa, bổ sung và ban hành chương trình sinh hoạt hướng
nghiệp tạm thời cùng với tài liệu sinh hoạt hướng nghiệp của lớp cuối cấp
THCS để các trường thực hiện, rút kinh nghiệm.
Năm học 1980-1981, đồng chí trưởng ban khoa giáo trung ương Bùi
Thanh Khiết và Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thị Bình đến thăm các cơ sở
thực nghiệm, thấy có kết quả tốt đã cho phép nhóm thực nghiệm lập đề án
trình Uỷ ban cải cách giáo dục Trung ương để mở rộng, đưa công tác HĐHN
vào các trường phổ thông.
Dựa trên các công trình đã nghiên cứu, các tác giả Phạm Tất Dong,
Phạm Huy Thụ, Nguyễn Trọng Bảo, Nguyễn Thế Quảng, Đoàn Chi đã góp
phần tích cực xây dựng đề án "Hướng nghiệp và sử dụng hợp lý học sinh ra


9
trường"[15]
Ngày 19 tháng 3 năm 1981, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định số

thế GDHN ở nước ta còn nhiều hạn chế. Cho nên công văn số 8410/
BGD&ĐT-VP về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục lao động - HN
năm học 2007-2008 lại một lần nữa nhắc nhở các Sở GD&ĐT: “Nghiêm túc
triển khai thực hiện đủ hoạt động GDHN ở các trường THCS...” và “Đẩy
mạnh công tác tư vấn hướng nghiệp để góp phần phân luồng và chuẩn bị cho
học sinh lớp 9 lựa chọn học lên hoặc học nghề”.
Những vấn đề GDHN ở trường THCS đã được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm (Phạm Tất Dong [14], Trần Khánh Đức [20], Hà Thế Truyền
[17,18], Đặng Danh Ánh [1;2], Nguyễn Đức Trí [38;39], Nguyễn Văn Lê - Hà
Thế Truyền- Bùi Văn Quân [30]) và đề cập tới ở nhiều góc độ khác nhau
trong thời gian qua.
Như vậy, vấn đề GDHN và quản lý công tác GDHN đã được các tác
giả trong và ngoài nước quan tâm, tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu
các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDHN ở các trường THCS
trên địa bàn huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp
1.2.1.1. Hướng nghiệp
- Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành
trong và ngoài nhà trường để giúp HS có kiến thức về nghề nghiệp và có
khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường
của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội. [26]
- Hướng nghiệp cho HSPT là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ
sở tâm lí học, sinh lí học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoa học khác
để giúp HS lựa chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thỏa mãn
tối đa nguyện vọng và sự thích hợp với năng lực, sở trường và các đặc điểm


11
tâm lí của cá nhân để họ có thể phát triển tới đỉnh cao trong nghề nghiệp,

13
trong tất cả các giai đoạn sau này của cuộc đời..
Ta thấy tâm lý của con người luôn luôn thay đổi (nhất là đối với lứa
tuổi HS), dưới sự giáo dục của nhà trường và sự rèn luyện của bản thân. Do
vậy năng lực, nguyện vọng của cá nhân cũng thay đổi theo nên tổ chức hoạt
động GDHN cho HS là quá trình liên tục, lâu dài: giáo dục chính trị, tư tưởng,
đạo đức, giáo dục lao động, thông tin định hướng nghề nghiệp...là quá trình
theo dõi, phát hiện, bồi dưỡng tri thức, kỹ năng và thái độ cần thiết, quá trình
rèn luyện và củng cố sức khoẻ và các khả năng tâm sinh lý để định hướng
nghề cho các em.
Việc tổ chức GDHN cho HS không chỉ dừng lại ở trường THCS mà nó
còn được tiến hành trong các trường THPT, TCCN, CĐ,ĐH. Nhất là trong
giai đoạn hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế tri thức và công nghệ
thông tin truyền thông, giai đoạn mà “một nửa lực lượng lao động của thế
giới đã phát triển làm việc ở bên ngoài của tổ chức. Các tổ chức truyền thống
nay chỉ sử dụng 55% lực lượng lao động ở mức toàn thời gian. Số còn lại là
lao động thời vụ, bán thời gian, hoặc theo hợp đồng” [12] thì hoạt động
GDHN còn phải tiến hành trong cả quá trình làm việc, lao động để người lao
động có khả năng thích nghi và thay đổi việc làm với cơ chế lao động mới.
Trên bình diện xã hội quá trình HN được thể hiện qua sơ đồ 1.1
Định
hướng
nghề

Thích ứng
nghề

Phù hợp
nghề


định; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ thống vào
trạng thái phát triển. Như vậy quá trình “quản” giúp cho hệ thống tồn tại bền
vững và quá trình “lý ” giúp cho hệ thống phát triển đi lên.
Trong quản lý, cả hai quá trình “quản” và “lý “đều quan trọng. Nếu ta
chỉ chú ý đến “quản”, nghĩa là chỉ lo đến sự sắp xếp giữ gìn thì tổ chức dễ bị
trì trệ, kém phát triển, tức là sẽ dẫn tới tụt hậu; còn nếu chỉ chú ý đến quá
trình “lý” tức là chỉ lo coi trọng sắp xếp, đổi mới thì tổ chức sẽ kém ổn định
và sự phát triển không bền vững. Vì vậy, nhà quản lý phải kết hợp nhuần
nhuyễn cả hai quá trình trên để đưa hệ thống vào thế cân bằng động, tức là
phát triển trong sự bền vững.


15
Khi đề cập đến vai trò của quản lý, Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động
xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn,
thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá
nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn
bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một
người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần
phải có nhạc trưởng”. [33]
Ngày nay, nhiều người thừa nhận rằng, quản lý trở thành một trong 3
nhóm nhân tố của sự phát triển xã hội: tri thức, sức lao động và trình độ quản
lý. Quản lý là sự tổ chức, điều hành, kết hợp vận dụng tri thức với việc sử
dụng sức lao động để phát triển sản xuất xã hội. Việc kết hợp đó tốt thì xã hội
phát triển, ngược lại kết hợp không tốt thì xã hội sẽ trì trệ, sự phát triển sẽ bị
chậm lại.
Trong nghiên cứu khoa học, trên nhiều phương diện và cách tiếp cận
khác nhau, người ta đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Có thể
điểm qua một vài quan điểm của các nhà nghiên cứu về quản lý như sau:
- Theo Từ điển Tiếng Việt: Đặt quản lý trong vai trò một động từ và

Nhân lực

Công nghệ

Tài nguyên

Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các nhân tố
Những khái niệm “Quản lý ” trên tuy khác nhau về góc độ tiếp cận, về
cách diễn đạt nhưng đều thống nhất ở bản chất của hoạt động quản lý. Từ đó,
ta có thể khái quát rằng: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất
các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức làm cho hệ thống vận hành đạt được
mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.


17
Như vậy, rõ ràng “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một
nghệ thuật” và “Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa mang
tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi,...
chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất”. [31]
b) Chức năng quản lý:
Chức năng quản lý là một dạng quản lý chuyên biệt, thông qua đó chủ
thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất
định.
Các nhà nghiên cứu về quản lý đã đưa ra nhiều quan điểm về nội dung
của các chức năng quản lý, nhưng có thể khái quát rằng quản lý có 4 chức
năng cơ bản sau:
- Lập kế hoạch: Căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và căn cứ
vào nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời kỳ,
từng giai đoạn. Từ đó, tìm ra con đường, giải pháp, cách thức đưa tổ chức đạt

- Chủ thể quản lí là một cá nhân hay nhóm người được giao quyền
hạn quản lí và chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, sử dụng một cách hợp lí
và hiệu quả các nguồn lực cho CTHN tại địa bàn, đơn vị đang quản lí. Trong
QL công tác GDHN, chủ thể quản lí là lãnh đạo hoặc chuyên viên phụ trách
HN của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, Ban giám hiệu nhà trường và Giám
đốc Trung tâm GD ở địa phương có chức năng HN cho HSPT trên địa bàn.
Trên cơ sở quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của mình, chủ thể quản lí tác
động lên đối tượng quản lí bằng các phương pháp và công cụ nhất định
thông qua việc thực hiện các chức năng quản lí để đạt được mục tiêu HN.
- Đối tượng quản lí là tất cả những người thực hiện và nhận nhiệm vụ
HN, bao gồm: các GV và CB phụ trách HN; tập thể HS ở các trường THCS,
THPT; CB, GV và HS các TT GDTX - HN, TT KTTH - HN; các tổ chức,
đoàn thể xã hội (như Hội cha mẹ HS, Hội LHPN, các doanh nghiệp…). Đối
tượng quản lí còn bao gồm các hình thức HN, ngân sách, cơ sở vật chất và
thiết bị GD cho HN và hệ thống TT cho CTHN.
- Công cụ quản lí là những phương tiện mà cán bộ QL công tác


19
GDHN sử dụng trong quá trình quản lí nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ
và phối hợp HĐ của các tác nhân HN và HSPT cấp trung học trong việc thực
hiện mục tiêu CTHN. Công cụ chủ yếu để QL công tác GDHN là các quy
định của Nhà nước và Bộ GD&ĐT đối với GDHN, là các cơ chế và chính
sách cho CTHN.
- Phương pháp quản lí là cách thức tác động bằng những phương tiện
khác nhau của cán bộ QL GDHN đến hệ thống bị quản lí nhằm đạt được
mục tiêu quản lí. PPQL bao gồm việc lựa chọn công cụ, phương tiện quản lí
(như quyền lực, quyết định, cơ chế chính sách, tài chính, kĩ thuật - công
nghệ…) và lựa chọn cách thức tác động (tác động bằng quyền lực; tác động
bằng kinh tế; tác động bằng tư tưởng chính trị…) của chủ thể QL tới đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status