ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM THỊ BÍCH HỒNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG
NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG CHUYÊN HÀ NỘI - AMSTERDAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4. Giả thuyết khoa học
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Phương pháp nghiên cứu
7. Điểm mới của đề tài
8. Cấu trúc luận văn
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2. Một số khái niệm công cụ
1.2.1. Hướng nghiệp
1.2.2. Giáo dục hướng nghiệp
1.2.3. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
1.2.4. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
1.3. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung
học phổ thông
1.3.1. Mục tiêu của quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
trong trường phổ thông
1.3.2. Ý nghĩa của quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
trong trường phổ thông
1.3.3. Một số văn bản về quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp trong trường phổ thông
1.3.4. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong
trường phổ thông
Tiểu kết chương 1
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN HÀ NỘI -
AMSTERDAM
2.1. Vài nét về trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển trường THPT chuyên Hà
Nội - Amsterdam
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và cấu trúc đào tạo của trường THPT
chuyên Hà Nội - Amsterdam
2.1.3. Cơ sở vật chất và trang thiết bị của THPT chuyên Hà Nội -
Amsterdam
2.1.4. Thành tích dạy và học của THPT chuyên Hà Nội -
Amsterdam
2.1.5. Đặc điểm học sinh trường THPT chuyên Hà Nội -
Amsterdam
2.2. Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam
2.2.1. Thực trạng giáo dục hướng nghiệp qua dạy các môn văn
hoá trong trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam
2.2.2. Thực trạng giáo dục hướng nghiệp qua dạy môn công nghệ
trong trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam
2.2.3. Thực trạng giáo dục hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại
khoá trong trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam
2.2.4. Thực trạng giáo dục hướng nghiệp qua việc tổ chức hoạt
động giáo dục hướng nghiệp
2.3. Thực trạng nhận thức về hoạt động giáo dục hướng nghiệp
2.3.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ và giáo viên về vấn đề
26
hướng nghiệp
2.3.3. Thực trạng nhận thức của học sinh về hoạt động hướng
nghiệp
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam
2.4.1. Thực trạng về lập kế hoạch hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam
2.4.2. Thực trạng về quản lý nội dung dạy giáo dục hướng
nghiệp ở trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam
2.4.3. Thực trạng về quản lý đội ngũ giáo viên giáo dục hướng
nghiệp ở trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam
2.4.4. Thực trạng về quản lý cơ sở vật chất dành cho giáo dục
hướng nghiệp ở trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam
2.3.4. Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh trường THPT chuyên Hà Nội -
Amsterdam
Tiểu kết chương 2
CHƯƠNG 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN HÀ NỘI -
AMSTERDAM
3.1. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp quản lý hoạt động giáo
dục hướng nghiệp
3.1.1. Nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích
3.1.2. Nguyên tắc đồng bộ
3.1.3. Nguyên tắc hiệu quả, thiết thực
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
3.2. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học
44
3.2.1.1. Biện pháp 1. Nâng cao tính trách nhiệm của cán bộ quản
lý ở trường trung học phổ thông chuyên Hà Nội – Amsterdam đối
với hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
3.2.1.2. Biện pháp 2. Nâng cao tính trách nhiệm, tính tự chủ của
giáo viên trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam trong hoạt
giáo dục hướng nghiệp
3.2.1.3. Biện pháp 3. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của phụ
huynh, học sinh về tầm quan trọng của việc tìm hiểu kỹ về ngành
nghề trước khi lựa chọn
3.2.2. Nhóm tổ chức hoạt động
3.2.2.1. Biện pháp 1. Đổi mới bộ máy tổ chức chỉ đạo và thực
hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp
3.2.2.2. Biện pháp 2. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác
giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường
3.3.2.3. Biện pháp 3. Đổi mới nội dung giáo dục hướng nghiệp
phù hợp với đặc điểm học sinh trường THPT chuyên
3.3.2.4. Biện pháp 4. Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo
dục hướng nghiệp phù hợp với đặc điểm nhà trường
3.3.2.5. Biện pháp 5. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị
3.3.3. Nhóm hỗ trợ
3.3.3.1. Biện pháp 1. Tăng cường xã hội hoá giáo dục hướng
nghiệp
3.3.3.2. Biện pháp 2. Tăng cường sự ủng hộ của các cấp quản lý
về chủ trương, đường lối đổi mới hoạt động giáo dục hướng
nghiệp
3.4. Khảo nghiệm một số biện pháp
3.4.1. Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp
3.4.2. Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp
64
1. Kết luận
2. Khuyến nghị
78
80
80
81
HN
Hướng nghiệp
HS
Học sinh
KTTH
Kỹ thuật tổng hợp
PT
Phổ thông
THCN
Trung học chuyên nghiệp
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1. Tam giác hướng nghiệp (K. K. Platonov)
Bảng 2.1. Mức độ quan tâm của học sinh đến vấn đề lựa chọn
nghề nghiệp
Bảng 2.2. Dự định của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau khi tốt nghiệp THPT, mỗi học sinh phải chọn được cho mình một nghề để
học phù hợp với năng lực, nguyện vọng, điều kiện bản thân và nhu cầu nhân lực
của xã hội. Tuy nhiên, khi chuẩn bị chọn cho mình một nghề trong tương lai các
em thường bỡ ngỡ trước thế giới nghề nghiệp phức tạp và đa dạng vì các em thiếu
hiểu biết về ngành nghề, không đánh giá chính xác bản thân. Bởi vậy, không ít học
sinh đã lựa chọn nghề nghiệp không phải theo năng lực, nguyện vọng và điều kiện
bản thân mà lựa chọn những nghề theo trào lưu chung của xã hội.
Việc này không chỉ khiến học sinh đó lãng phí thời gian, công sức, tiền của
mà còn gây nên sự mất cân bằng trong xã hội, một số ngành nghề dư thừa lao động,
trong khi một số ngành nghề khác thì thiếu người lao động trầm trọng.
Trước thực tế này Đảng và Nhà nước đã có chủ trương quan tâm tới hoạt động
giáo dục hướng nghiệp.Công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học,
chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương được coi là một trong những
nhiệm vụ của giáo dục phổ thông, được coi là nền tảng để phát triển nguồn nhân
lực phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Tuy vậy, giáo dục hướng nghiệp hiện nay vẫnchưa được các cấp quản lý giáo
dục và các trường học quan tâm đúng mức, còn có địa phương và trường học chưa
thực hiện đầy đủ các nội dung giáo dục hướng nghiệp. Chất lượng hoạt động hướng
nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của học sinh và xã hội, học sinh phổ thông cuối
các cấp học và bậc học chưa được chuẩn bị chu đáo để lựa chọn nghề nghiệp, lựa
chọn ngành học phù hợp với bản thân và yêu cầu của xã hội.
nhà trường; tăng cường xã hội hoá giáo dục hướng nghiệp; tăng cường sự ủng hộ
của các cấp quản lý về chủ trương, đường lối đổi mới hoạt động giáo dục hướng
nghiệp giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường
THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam trong thời gian qua.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các văn bản tài liệu, các công trình khoa học, các quan điểm có
liên quan đến vấn đề quản lý, quản lý giáo dục, tư vấn, hướng nghiệp, quản lý giáo
dục hướng nghiệp.
Các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá được
sử dụng để xây dựng hệ thống các khái niệm của đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp khảo sát bằng phiếu điều tra
Mục đích của phiếu là tìm hiểu thực trạng của công tác quản lý hoạt động giáo
dục hướng nghiệp ở trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam.
+ Phương pháp điều tra xã hội học như phỏng vấn
Mục đích là thu thập các thông tin cần thiết về thực trạng của công tác quản
lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam
+ Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng thống kê toán học để xử lí số liệu đã thu thập được nhằm phân tích
kết quả nghiên cứu cho chính xác, khách quan.
7. Điểm mới của đề tài
Về lý luận: Luận văn xác định những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động
giáo dục hướng nghiệp đối với học sinh Trung học phổ thông.Trên cơ sở đó đề xuất
những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp hiệu quả.
quyền tự chọn nghề của học sinh, giúp các em tự thể hiện nhân cách trong điều kiện
quan hệ thị trường, tôn trọng hứng thú nghề nghiệp của con người, chỉ rõ nhu cầu
của thị trường lao động, không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân như
là điều kiện quan trọng nhất để thoả nguyện yêu cầu phát triển của con người trong
lao động
Nhật Bản sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn
hoá phổ thông với kiến thức và kỹ năng lao động - nghề nghiệp ở tất cả các bậc
học. Có khoảng 27,9% số trường phổ thông trung học vừa học văn hoá phổ
thông vừa học các môn học kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp, công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ vv… Sau cấp II có đến 94% học sinh vào cấp III,
trong đó 70% học sinh theo học loại hình trường PT cơ bản và 30% HS theo
hướng học nghề.
Tại Hàn Quốc, trong các loại hình trường phổ thông, nội dung giảng dạy
kỹ thuật - lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chương trình GD.
Hết cấp II học sinh sẽ đi theo hai luồng chính: phổ thông và chuyên nghiệp. Các
trường kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trước rồi mới chọn HS theo luồng phổ
thông.
Trung Quốc khuyến khích GD suốt đời một cách tích cực. Hiện nay,
GD dựa trên cộng đồng đang được phát triển mạnh mẽ. Trong chương trình
giảng dạy thường có các môn học tự chọn với mục tiêu trang bị cho HS những
kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết để HS có khả năng tham gia lao
động nghề nghiệp ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau hoặc tiếp tục học lên
trình độ nghề nghiệp cao hơn ở bậc đại học.
Tại Singapore, ở bậc trung học học sinh được theo 3 luồng: luồng bình
thường, luồng khá giỏi và luồng học nghề. Học sinh ở luồng bình thường sẽ học 5
năm, học sinh ở luồng khá giỏi sẽ học trong 4 năm và học sinh ở luồng học nghề sẽ
học trong 5 năm nhưng theo một chương trình chú trọng về học nghề kĩ thuật hơn
là văn hoá. Kết thúc trung học sẽ là kỳ thi lấy chứng chỉ GCE’O’ Levels, là chứng
chỉ theo hệ thống giáo dục Anh nhưng có thể thay đổi phù hợp với Sigapore. Sau
đó học sinh có thể lựa chọn: Những học sinh có đủ khả năng sẽ học tiếp hai năm dự
thành công.
Như vậy, có thể thấy rằng giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp giữ
một vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân của các nước khác
nhau trên thế giới. Trong hệ thống giáo dục quốc dân của nhiều nước, các thiết chế
giáo dụcvà tư vấn hướng nghiệp đã được xây dựng ở các cấp giáo dục như THCS,
THPT, THCN và ĐH. Để triển khai các mô hình hướng nghiệp tích hợp trong hệ
thống giáo dục quốc dân, chính phủ nhiều nước đã có chính sách đồng bộ để duy
trì, củng cố các chức năng của giáo dục và tư vấn hướng nghiệp.
Ở Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục hướng nghiệp,
ngày 19/03/1981 Hội Đồng Chính Phủ đã ban hành quyết định 126/CP về “Công
tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các
cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường”. Quyết định nêu
rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp, phân công cụ thể chính
quyền các cấp, các ngành kinh tế, văn hóa từ trung ương đến địa phương có nhiệm
vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử
dụng hợp lý và tiếp tục bồi dưỡng học sinh phổ thông sau khi ra trường. Tiếp đó,
ngày 17/11/1981 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có thông tư 31-TT hướng dẫn
thực hiện Quyết đinh 126/CP của Hội đồng Chính phủ. Nội dung thông tư nêu rõ
mục đích, nhiệm vụ và hình thức hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ
thông, đồng thời phân công trách nhiệm cho từng thành viên đang công tác tại
trường phổ thông, cho dù đang đảm nhận chức vụ công tác nào đều phải hoàn
thành nhiệm vụ được giao trong công tác giáo dục hướng nghiệp.
Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 BCHTW (Ban chấp hành Trung ương) Đảng
khoá VIII đã nhấn mạnh: “ Tăng cường giáo dục kĩ thuật tổng hợp và năng lực thực
hành ở bậc học phổ thông”. Vấn đề này cũng được khẳng định tại điều 24(1) Luật
giáo dục: “ Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo yêu cầu về tính phổ thông,
toàn diện, cơ bản và hướng nghiệp ”. Tiếp theo là chỉ thị 33/ 2003 ngày 23/7/2003
của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT (giáo dục & đào tạo) về việc đẩy mạnh công tác sinh
hoạt hướng nghiệp và tư vấn nghề nghiệp cho học sinh phổ thông. Để thực hiện
được nhiệm vụ mục tiêu giáo dục đào tạo, ngành GD & ĐT nói chung và các trung
nghiệp mà qua đó, có thể nhận thấy vấn đề giáo dục hướng nghiệp ngày càng được
quan tâm. Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung quan tâm tới việc đổi mới
nội dung, phương pháp giáo dục hướng nghiệp, các biện pháp quản lý giáo dục
hướng nghiệp …nhằm nâng cao chất lượng cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
Dù vậy, quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh các trường
THPT chuyên – đối tượng học sinh với nhiều nét đặc thù riêng còn chưa được chú
ý. Bởi vậy quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường THPT
chuyên nói chung, THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam nói riêng là vấn đề mà
chúng tôi tập trung đề cập tới trong luận văn này.
1.4. Một số khái niệm công cụ
1.4.1. Hướng nghiệp
Thuật ngữ hướng nghiệp (career mentoring) nếu được hiểu chính xác nó là
sự kết hợp của nhiều lĩnh vực như: đánh giá nghề nghiệp (career assessment), quản
lý nghề nghiệp (career management), phát triển nghề nghiệp (career
development)
Theo từ điển tiếng Việt, “Hướng nghiệp” được giải thích là “thi hành những
biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể
lực) nhân dân theo ngành và loại lao động” hoặc được hiểu là “giúp đỡ lựa chọn
hợp lý ngành nghề”.
Theo từ điển Giáo dục học “Hướng nghiệp” được hiểu là “hệ thống các biện
pháp giúp đỡ học sinh làm quen, tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc nghề nghiệp với
nguyện vọng, năng lực sở trường của mỗi người với nhu cầu và điều kiện thực tế
khách quan của xã hội”. Công tác hướng nghiệp có ý nghĩa kinh tế xã hội rất lớn
giúp cho thanh niên có cơ hội phát huy được năng lực, nâng cao được hiệu quả lao
động, say mê sáng tạo trong nghề nghiệp. Mặt khác, công tác hướng nghiệp giúp
tránh được sự thay đổi nghề nghiệp nhiều lần. Nhờ đó, công tác hướng nghiệp giúp
hạn chế các hậu quả do nghề nghiệp không phù hợp mang lại.
Theo GS – TS Phạm Tất Dong thì hướng nghiệp như là một hệ thống tác
động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn
được nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân,
lí của cá nhân với nhu cầu kinh tế xã hội. Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận
cấu thành quá trình giáo dục – học tập trong nhà trường.
Theo một số tác giả khác thì giáo dục hướng nghiệp được cho là hệ thống
những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lí học, sinh học, y học và nhiều khoa học khác
nhau để giúp cho học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoã
mãn tối đa nguyện vọng thích hợp với năng lực sở trường và điều kiện tâm lí cá
nhân nhằm mục đích phân phối và sử dụng có hiệu quả nhất năng lực của lực lượng
lao động có sẵn của đất nước.”
Theo chúng tôi tất cả các định nghĩa trên dù được diễn đạt khác nhau nhưng
về cơ bản đều xác định giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp giáo
dục nhằm chuẩn bị cho học sinh ngay từ khi còn học ở trường phổ thông đã sớm có
ý thức lựa chọn ngành nghề vừa phù hợp với năng lực, sở thích cá nhân, vừa phù
hợp với sự phân công lao động của xã hội.
Như vậy, giáo dục hướng nghiệp là hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia
đình và xã hội, trong đó tập thể sư phạm nhà trường giữ vai trò quyết định nhằm
giúp người học chọn nghề trên cơ sở khoa học. Khi ấy, tập thể sư phạm phải sử
dụng các biện pháp giáo dục có tính hướng dẫn, thuyết phục cao. Các biện pháp
phải không áp đặt, bảo đảm nguyên tắc hình thành hứng thú, phải điều chỉnh, uốn
nắn động cơ chọn nghề của thế hệ trẻ sao cho có sự nhất trí cao giữa nguyện vọng
của cá nhân với yêu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế, giữa năng lực cá nhân
với đòi hỏi nghề. Phải có biện pháp giáo dục thích hợp để dung hoà giữa nguyện
vọng cá nhân, năng lực cá nhân với yêu cầu nhân lực của xã hội và đòi hỏi của
nghề. Nếu không dung hoà được các yếu tố này sẽ dẫn tới tình trạng thừa/thiếu lao
động hoặc tình trạng năng suất lao động không cao vì không có sự phù hợp của cá
nhân với nghề. Bởi vậy mà giáo dục hướng nghiệp phải gắn liền với giáo dục đạo
đức, tư tưởng chính trị nhằm giúp học sinh giải quyết đúng mối quan hệ giữa ước
mơ và hiện thực, giữa cái học sinh mong muốn với cái học sinh có thể làm và cái
học sinh cần phải làm, giúp học sinh nhận thức được trách nhiệm của mình đề điều
chỉnh hài hoà giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích của xã hội.
K. K. Platonov đã đưa ra tam giác hướng nghiệp như sau:
Tuyển chọn
nghề
Tư vấn nghề
Các nghề và yêu
cầu của chúng
Thị trường lao
động
Phẩm chất, năng lực, hoàn
cảnh cá nhân.
sáng tạo trong lao động sản xuất, qua đó điều chỉnh hứng thú, động cơ chọn nghề
của học sinh.
Tư vấn nghề phải dựa trên hai yếu tố là “các nghề và yêu cầu của chúng” và
“phẩm chất, năng lực, hoàn cảnh cá nhân”. Tư vấn nghề là một hệ thống những
biện pháp tâm lý giáo dục nhằm đánh giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của
thanh thiếu niên, đối chiếu các năng lực đó với những yêu cầu do nghề đặt ra đối
với người lao động, trên cơ sở đó cho họ những lời khuyên về chọn nghề có căn cứ
khoa học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn khi chọn nghề. Tư
vấn nghề chẩn đoán những thuộc tính và phẩm chất quan trọng của nghề, đối chiếu
cấu trúc tâm lý của nhân cách và hoạt động nghề nghiệp, xác định con đường tiếp
tục phát triển nhân cách. Có nhiều kiểu tư vấn nghề:
Tư vấn thông tin hướng dẫn nhằm giới thiệu với thanh thiếu niên nội dung
nghề mà mình lựa chọn.
Tư vấn chẩn đoán nhằm bộc lộ hứng thú, thiên hướng, năng lực và những
phảm chất nghề chuyên biệt của con người trên cơ sở nghiên cứu và đo đạc nhân
cách con người một cách toàn diện. Mục đích của tư vấn chẩn đoán là xác định
trong những lĩnh vực hoạt động nào con người có thể lao động thành công nhất, tức
là đem lại lợi ích tối đa cho xã hội, đồng thời mang lại niềm vui và sự hài lòng cho
bản thân người lao động.
Tư vấn y học nhằm bộc lộ sự phù hợp giữa trang thái sức khoẻ con người với
dục hướng nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp là nhiệm vụ của các nhà quản lý
giáo dục trong các trường phổ thông. Người quản lý phải xác định chính xác mục
tiêu, nội dung, hình thức giáo dục hướng nghiệp. Người quản lý phải xây dựng kế
hoạch, tổ chức bộ máy, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục
hướng nghiệp trong nhà trường. Trên cơ sở đó tổng kết, rút kinh nghiệm để hoạt
động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường ngày càng tốt hơn.
Ngoài ra người quản lý cũng phải cập nhật tình hình xã hội, nắm được nhu cầu
nghề nghiệp của xã hội, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa
phương để có thể định hướng nghề nghiệp cho học sinh một cách hiệu quả nhất.
1.4.4. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
* Khái niệm biện pháp: Theo từ điển tiếng Việt, biện pháp được hiểu là “cách
làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu “biện pháp quản lý hoạt động giáo dục
hướng nghiệp” là cách mà người quản lý tổ chức thực hiện, điều hành các hoạt
động quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra của hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
1.3. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ
thông
Giáo dục hướng nghiệp là một phần quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc
dân Việt Nam. Điều 27 - Luật Giáo dục năm 2005 của nước ta nêu rõ: “Mục tiêu
của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiệp tục học lên hoặc đi
vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. …”
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là một hoạt động
giáo dục trong nhà trường phổ thông nhằm giúp học sinh có những hiểu biết thông
thường về hướng nghiệp để học sinh có thể định hướng phát triển, lựa chọn nghề
phù hợp với hứng thú cá nhân, năng lực bản thân và nhu cầu của xã hội. Trên cơ sở
đó, học sinh tiếp tục học tập, rèn luyện để có thể phát triển trong hoạt động nghề
Bước 4: Kiểm tra đánh giá hoạt động GDHN
Việc đánh giá dựa trên cơ sở mục tiêu đã xây dựng trong kế hoạch. Kết thúc
học kì và năm học cần đánh giá quá trình thực hiện hoạt động GDHN để đúc rút
các bài học kinh nghiệm cho các năm sau. Hoạt động hướng nghiệp phải phù hợp
với đặc điểm kinh tế xã hội của từng vùng, xu hướng phát triển kinh tế – xã hội của
đất nước, phương hướng phát triển kinh tế của địa phương. Cần có các yêu cầu về