ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Nguyễn Thị Thương
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH
TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN PHỐ NỐI
TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
3.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.
Giả thuyết khoa học
5.
Nhiệm vụ nghiên cứu
6.
Phạm vi nghiên cứu
7.
Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
8.
Cấu trúc luận văn Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh tại các Trung tâm GDTX
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Ở nước ngoài
1.1.1.1. Ở các nước phương tây
1.1.1.2. Các nước Đông Nam Á
1.3.1.3. Yêu cầu về GDHN cho học viên BTTHPT
1.3.2. Trung tâm GDTX với công tác GDHN cho HS BTTHPT
Kết luận chương 1.
Chương II: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh tại Trung tâm GDTX Phố Nối, Tỉnh Hưng Yên
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, truyền thống lịch sử,
văn hóa của huyện Yên Mỹ.
2.2. Quá trình phát triển của TTGDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên.
2.2.1. Sự hình thành và phát triển của trung tâm qua các thời kỳ.
2.2.2. Các kết quả giáo dục của TTGDTX Phố Nối.
2.2.2.1. Quy mô phát triển HV BTTHPT, tin học, ngoại ngữ, nghề phổ
thông.
2.2.2.2. Chất lượng giáo dục của học viên
2.3. Giới thiệu chung về khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDHN
cho HV tại TTGDTX Phố Nối.
2.3.1. Mục đích, nội dung khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDHN
tại TT GDTX Phố Nối.
2.4.7.2. Những mặt hạn chế, tồn tại.
2.4.7.3. Nguyên nhân của các hạn chế và bất cập
Kết luận chương 2.
Chương III: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp
3.1.1. Tính kế thừa
3.1.2. Tính thực tiễn
3.1.3. Phát triển và ổn định
3.1.4. Tính đồng bộ
3.1.5. Phù hợp đối tượng
3.1.6. Hiệu quả và khả thi
3.2. Những vấn đề quan tâm khi đề xuất các biện pháp
3.2.1. Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về GD
ĐT.
3.2.2. Chỉ đạo của Bộ GDĐT về GDHN
thiết bị cho hoạt động GDHN.
3.3.7. Tăng cường xã hội hóa hoạt động GDHN cho HV tại TTGDTX
Phố Nối.
3.3.8. Mối quan hệ giữa các biện pháp.
3.4. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp.
3.4.1. Mục tiêu
3.4.2. Nội dung và cách thực hiện
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Kết luận
2. Kiến nghị
2.1. Đối với chính phủ và Bộ GD ĐT
2.2. Đối với UBND tỉnh và Sở GDDT Hưng Yên
2.3. Đối với TTGDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
2.4. Đối với đội ngũ GV của TTGDTX
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
GDĐT
Giáo dục thường xuyên
GDTX
Giáo viên
GV
Hướng nghiệp
HN
Học sinh
HS
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH-HĐH
Khoa học-kỹ thuật
KHKT
Kinh tế-xã hội
KT-XH
Kỹ thuật tổng hợp
KTTH
Quản lý giáo dục
QLGD
Thiết bị dạy học
TBDH
Trung học cơ sở
THCS
Trung học chuyên nghiệp
THCN
Trung học phổ thông
THPT
Trung tâm giáo dục thường xuyên
TTGDTX
Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp
Bảng 3.1: Kết quả trưng cầu ý kiến các biện pháp.
9
Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
Thế giới đang có những thay đổi sâu sắc về mọi mặt. Giáo dục thế giới
đang xuất hiện những xu thế lớn và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục
Việt Nam: (1) Giáo dục mang tính đại chúng mạnh mẽ; (2) tăng cường tính
nhân văn trong giáo dục; (3) giáo dục thế kỷ 21 là một nền “giáo dục suốt đời”;
(4) Giáo dục được coi là sự nghiệp quốc gia hàng đầu, phát triển mạnh mẽ xã
hội hóa giáo dục, thu hẹp bất bình đẳng trong giáo dục; (5) Chất lượng giáo dục
hướng vào “phát triển người”, phát triển nguồn nhân lực, hình thành những
năng lực cơ bản mà xã hội đòi hỏi phải có; (6) Sứ mạng mới của người thầy
thay đổi căn bản, quan hệ mới giữa dạy và học đang xuất hiện. Quá trình dạy
hài hòa của một tổng thể các môn học. Trong chương trình đó, nội dung hoạt
động GDHN được phân bổ và tích hợp trong cả chương trình chính khóa và các
hoạt động ngoại khóa, tạo cơ hội để HS có được các định hướng nghề nghiệp
phù hợp với năng lực, sở trường và các yêu cầu về nhân lực của xã hội. Do
những lý do khác nhau, do đối tượng HS có những đặc điểm riêng về điều kiện
và môi trường học tập nên hoạt động GDHN chưa được triển khai một cách nề
nếp đối với đối tượng HS trong các trung tâm GDTX.
Khi vấn đề GDTX, học tập suốt đời đã trở thành xu thế nên GDHN cho
HS cần thiết phải được gắn với quan điểm xây dựng xã hội học tập, tạo điều
kiện để tất cả mọi người ở các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau đều “được học”
và có thể “ học được”, thì rất cần định hướng HS bổ túc văn hóa vào ngành
nghề theo các nhu cầu xã hội và đặc điểm tâm sinh lý HS. Vì vậy, cần phải đặt
ra vấn đề tổ chức tốt công tác GDHN cho HS ở các trung tâm GDTX. Ngày
19/3/1981 Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định 126/CP về Công tác hướng
nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý HS các cấp PTCS và
PTTH tốt nghiệp ra trường. Ngày 17/11/1981, Bộ Giáo dục đã ra Thông tư số
31/TT hướng dẫn các cơ quan, trường học trong ngành thực hiện. Sau đó, ngày
11
27/4/1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Thông tư số
48/BT quy định rõ nhiệm vụ của các ngành, các cấp và Bộ Giáo dục trong việc
thực hiện quyết định 126/CP. Văn kiện Đại hội Đảng IX, Nghị quyết
40/2000/QH10, Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Chỉ thị 33/2003/CT-
BGD&ĐT và Luật Giáo dục năm 2005 đều nhấn mạnh đến yêu cầu tăng
cường GDHN nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân luồng HS,
chuẩn bị cho HS đi vào cuộc sống lao động hoặc tiếp tục đào tạo phù hợp với
năng lực bản thân và nhu cầu về nhân lực của xã hội.
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, Hưng Yên phấn đấu đến năm
2015 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp. Hưng Yên là một tỉnh tuy nhỏ
nhưng có nhiều các khu công nghiệp, cụm công nghiệp mới hình thành đang
hoạt động hạn hẹp. Chất lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán
bộ, giáo viên làm công tác HN còn nhiều hạn chế.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt
động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh
Hưng Yên” làm Luận văn với hy vọng đóng góp một phần rất nhỏ vào việc phát
triển nguồn nhân lực của tỉnh Hưng Yên.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất biện pháp quản lý
hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh
Hưng Yên góp phần vào sự phát triển nguồn nhân lực của tỉnh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDHN cho HS tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng
Yên.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên.
13
4. Giả thuyết khoa học
Học sinh ở Trung tâm GDTX có những đặc điểm khác với HS THPT,
có nhu cầu lớn về tư vấn và chuẩn bị kỹ năng nghề nghiệp để có thể tạo được
việc làm phù hợp hoặc tiếp tục học tập sau khi ra trường. Hiện nay, GDHN cho
đối tượng này vẫn chưa được sự quan tâm đúng mức của ngành GTĐT.
Nếu đề xuất được các biện pháp tổ chức hoạt động GDHN phù hợp cho
đối tượng HS này ở Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên thì nhận thức về
nghề nghiệp của HS sẽ được nâng lên, các em lựa chọn được nghề phù hợp với
bản thân, phù hợp với nhu cầu của địa phương và của xã hội; đồng thời có thể
góp phần tích cực vào việc phân luồng HS sau khi tốt nghiệp THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
dụng các lý thuyết ở nhiều ngành khoa học vào nghiên cứu một vấn đề khoa
học. Luận văn dựa vào nhiều lý thuyết khác nhau như Tâm lý học, Giáo dục
học, Điều khiển học, Khoa học quản lý giáo dục, Lý thuyết phát triển nhân
lực…, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động GDHN phù
hợp cho HS tại Trung tâm GDTX Phố Nối.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các nguồn tài liệu lý
luận, các văn bản và các công trình nghiên cứu về GDHN, QLGD bao gồm:
- Các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, các văn kiện của
Đảng, Nhà nước, Tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Các tác phẩm và các công trình nghiên cứu về tâm lý học, giáo dục học,
khoa học quản lý giáo dục,… trong và ngoài nước có liên quan tới đề tài luận văn.
15
- Các công trình nghiên cứu khoa học QLGD của các nhà lý luận, các nhà
QLGD, các nhà giáo… có liên quan đến đề tài như các luận án, các báo cáo khoa
học, các chuyên khảo, các bài báo, tạp chí.
Các tài liệu trên được phân tích, nhận xét, đánh giá và lựa chọn hợp lý,
trực tiếp phục vụ cho việc giải quyết các nhiệm vụ của đề tài.
7.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra viết bằng phiếu trưng cầu ý kiến
+ Tiến hành điều tra thống kê để nắm được thực trạng chất lượng đầu
vào, số lượng, chất lượng, tỉ lệ phân luồng HS THPT sau khi tốt nghiệp tại
Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên.
+ Tiến hành điều tra bằng anket để khảo sát nhận thức về tầm quan trọng
và mục tiêu của hoạt động GDHN, các điều kiện và tình hình tổ chức hoạt động
này tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên.
Các khách thể được điều tra, khảo sát là GV, CBQL các Trung tâm
GDTX các cơ quan QLGD thường xuyên bao gồm: Ngành GDĐT và chính
- Phương pháp phỏng vấn, phỏng vấn sâu
Tiến hành phỏng vấn các chuyên gia, GV tại Trung tâm GDTX, cán bộ
quản lý ở các trung tâm GDTX để tìm hiểu đánh giá của họ về thực tế tình hình
hoạt động GDHN cho HS tại Trung tâm GDTX hiện nay nhằm thu thập những
thông tin cần thiết bổ sung cho phương pháp điều tra khảo sát.
7.2.3. Nhóm các phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu về định lượng
(lập bảng phân phối tần số, tính điểm trung bình cộng) và định tính.
17
Sử dụng sự trợ giúp của phần mềm máy tính (SPSS), Microsoft Excel để
thống kê các số liệu điều tra, thu thập để phân tích vấn đề theo nhiều khía cạnh
khác nhau; sử dụng các sơ đồ, đồ thị để minh hoạ.
7.2.4. Phương pháp thử nghiệm
Thử nghiệm một số biện pháp do luận án đề xuất, qua đó, khẳng định
tính khả thi của các biện pháp đã nêu. Tiến trình thử nghiệm bao gồm: xác định
mục đích, nội dung thử nghiệm, nghiệm thể, công việc và thời gian thử nghiệm,
các tiêu chí đánh giá, cách tiến hành, thu thập và phân tích kết quả thử nghiệm.
8. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDHN cho HS.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDHN cho HS tại Trung tâm
GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động GDHN cho HS tại Trung tâm
GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC
song với việc học hết lớp 12 và tiếp tục phân loại cho HS khá giỏi học lên lớp
13 thi tú tài toàn phần, thi vào đại học và vì thế, HS có thể học nghề ngay khi
đang học PT. Bên cạnh đó, các nhà khoa học sư phạm ở Cộng hoà Dân chủ Đức
(Heinz Frankiewiez, Bernd Rothe, B.Germer… đã nghiên cứu những vấn đề cơ
sở khoa học sư phạm của tổ chức hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp cho
HS, trong đó quan tâm đến công tác phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm
GD kỹ thuật tổng hợp (KTTH) và các trường PT trong việc lập kế hoạch thực
19
tập cho HS phổ thông. Các tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải tổ chức cho HS
thực tập thực tế tại các trung tâm hoặc các đơn vị sản xuất; tổ chức hoạt động
lao động nghề nghiệp cho HS phổ thông bằng việc áp dụng phương thức phối
hợp cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và trường phổ
thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học sinh phổ thông.
- Dưới ánh của Chủ nghĩa Mác - Lênin, đã có nhiều nhà khoa học ở Liên
xô (cũ) phát triển lý luận về giáo dục. N.K.Krupxkaia, A.V.Lunasatsky,
M.I.Kalinin, N.O.Blonxkii, M.Z.Akmaliv, P.R.Atutov là những nhà khoa học
có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục lao động KTTH trong
những năm 70 của thế kỷ XX. Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu ý tưởng
học tập kết hợp với lao động sản xuất để hình thành nhân cách toàn diện cho
HS, những ý tưởng đó có giá trị lớn cả mặt chính trị lẫn KT-XH. Các nhà giáo
dục Xô Viết đã làm nổi bật vai trò to lớn của giáo dục KTTH trong nhà trường
nước Nga, coi đó là một trong những bộ phận quan trọng nhất của giáo dục
Cộng sản chủ nghĩa, có tác dụng giúp HS tiếp nhận về mặt lý thuyết và thực
tiễn về những nguyên lý cơ bản của nền sản xuất hiện đại, hình thành kỹ năng,
kỹ xảo lao động và HN cho HS, tạo khả năng lựa chọn có ý thức con đường lao
động, xây dựng cơ sở cho việc đào tạo nghề về sau. Đặc biệt, N.K.Krupxkaia đã
phát triển nguyên lý giáo dục KTTH của V.I.Lênin, nhấn mạnh yêu cầu phải
quán triệt nguyên lý này vào các môn học của nhà trường, giữa các môn học với
nhau phải có sự quan hệ mật thiết, liên hệ với hoạt động thực tiễn và nhất là đối
thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và khả năng lựa chọn
ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân. Trong những năm 50 của thế kỷ
XX, giáo dục Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức
dạy học kỹ thuật cung cấp tri thức rèn luyện kỹ năng lao động nghề nghiệp và
phát triển tư duy sáng tạo cho HS, đã góp phần quan trọng cho hoạt động
GDHN ở trường phổ thông. "Luật về duy trì hệ thống khuyến khích học tập suốt
21
đời" được thông qua năm 1990 về xây dựng một xã hội học tập suốt đời đã thể
hiện một cách nhìn có tính bao quát rộng lớn về thế kỷ XXI của các nhà khoa
học giáo dục Nhật Bản. Trong tương lai mỗi người công dân Nhật Bản cần phải
có những kỹ năng đa dạng, phong phú, kỹ năng này không chỉ được học ở
trường phổ thông, mà còn được luyện tập, thực hành hàng ngày và trong suốt
cuộc đời.
1.1.1.3. Nghiên cứu của UNESCO
- Với quan điểm coi học tập là quá trình liên tục kéo dài suốt cả cuộc
đời, Tổ chức quốc tế UNESCO khuyến cáo phải nhìn nhận lại cả nội dung và
cách tổ chức giáo dục trung học. Sự phát triển vũ bão của KHKT và công
nghệ đòi hỏi một thị trường lao động lớn, cần phải có những giải pháp tiên
quyết và đồng bộ nhằm huy động các lực lượng xã hội tham gia vào công tác
giáo dục, mà đặc biệt là GDHN để phân luồng HS từ đầu cấp THCS.
- Chủ tịch Ủy ban Quốc tế độc lập về GD cho thế kỷ XXI của UNESCO
(Jacques Delors) đã khẳng định vấn đề “Học làm việc” (Learning to do) là trụ cột
thứ hai trong bốn trụ cột mà Uỷ ban đưa ra như là nền tảng của giáo dục. Vấn đề
học nghề của HS là một căn bản trong giáo dục để thông qua đó HS có thể phát
triển năng lực của mình trong quá trình tham gia các hoạt động nghề nghiệp.
Theo Jacques Delors: Học để biết, học để làm việc, học để chung sống và học để
tồn tại. Đó là bốn cột trụ mà ủy ban đã trình bày và minh họa như những nền tảng
giáo dục. Tác giả đã nhấn mạnh: HS phổ thông cần phải chiếm lĩnh cơ hội phát
triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song
trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống. Đồng
thời, khẳng định sự tất yếu của xu thế “học thường xuyên, học suốt đời và xây
dựng một xã hội học tập” sẽ tạo điều kiện để tất cả mọi người có thể tham gia
vào các vị trí khác nhau trong cơ cấu nhân lực mà nền kinh tế đòi hỏi, góp phần
vào sự phát triển chung của xã hội và cải thiện cuộc sống của chính bản thân
mình.
23
(4) Kinh nghiệm rút ra là: Trong thời đại toàn cầu hóa, cạnh tranh và hội
nhập với những ưu thế đặc biệt của KHCN nói chung và CNTT nói riêng hiện
nay, để có được một nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, nhất
thiết phải làm tốt công tác GDHN, phân luồng HS ở phổ thông, đồng thời,
nghiên cứu để đưa giáo dục nghề nghiệp vào trong nhà trường, giúp cho HS có
được những “tiền đề nghề nghiệp” ban đầu, trong đó, cần quan tâm đến đối
tượng HS học theo các hệ đào tạo không chính quy, có những khó khăn nhất
định trên con đường học vấn.
1.1.2. Ở trong nước
Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, các công trình khoa học của nhiều
nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu về GDHN cho
HS phổ thông ở những khía cạnh khác nhau:
- Ở khía cạnh giáo dục nghề nghiệp, tác giả Phạm Minh Hạc phân tích
tình hình GDĐT nước ta và xây dựng phương hướng đổi mới giáo dục từ việc
xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật, đó là nền giáo dục được chỉ đạo bằng tư
tưởng phục vụ phát triển công nghệ. Tác giả đã đưa ra quan điểm về con người
trong công cuộc đổi mới, đó là ưu tiên đến việc giáo dục nghề nghiệp, đây cũng
là quan điểm của GDHN sau này.
- Về hoạt động GDHN trong trường phổ thông:
+ Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra nhận xét về thực trạng
hoạt động GDHN trong những năm qua và đề xuất những biện pháp để nâng
cao hiệu quả hoạt động GDHN trong giai đoạn hiện nay. Mục tiêu và giải pháp
các hình thức GDHN, dạy nghề trong trường phổ thông và TT KTTH-HN, bao
gồm: tổ chức lao động sản xuất cho HS phổ thông; tư vấn nghề nghiệp cho HS;
các phương thức giáo dục kỹ thuậ kỹ thuật và hướng nghiệp.
Nhìn chung, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận
chung về hướng nghiệp, đồng thời, làm nổi bật vai trò quan trọng của hoạt động
GDHN đối với việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở Việt Nam trong
25
giai đoạn 2001 - 2010. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã phân tích cụ thể vai trò
của quản lý nhà nước, vai trò của giáo dục nói chung và hướng nghiệp nói riêng
trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo tỷ trọng thích hợp giữa
công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong chiến lược phát triển KT - XH của
đất nước, để từ đó có cơ sở chỉ đạo xây dựng nội dung GDHN phù hợp, làm cho
con người có khả năng thích ứng với yêu cầu của thị trường và làm chủ công
nghệ mới, khoa học - kỹ thuật hiện đại.
Tóm lại, qua nghiên cứu, có thể rút ra một số nhận xét sau:
Một là, tuy nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau, cách khai thác, xây
dựng khác nhau nhưng các công trình khoa học đều có một mục tiêu chung
nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và hướng nghiệp, tạo nền tảng cho việc đào
tạo nhân lực. Các tác giả trong và ngoài nước đã quan tâm rất nhiều đến hoạt
động GDHN, đặc biệt là hoạt động dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho
HS phổ thông dưới các hình thức khác nhau nhằm chuẩn bị cho đa phần HS
trung học sau khi tốt nghiệp dễ dàng hoà nhập với cuộc sống lao động nghề
nghiệp trong nền kinh tế. Các công trình khoa học chủ yếu tập trung quan tâm
nhiều nhất đến khái niệm, nội dung, tính chất và các hình thức GDHN trong nhà
trường phổ thông, vào việc đổi mới nội dung, phương pháp, sử dụng tối ưu cơ
sở vật chất kỹ thuật phục vụ GDHN.
Hai là, các kết quả nghiên cứu đã khẳng định: vấn đề GDHN cho HS
thông qua các hoạt động lao động nghề nghiệp là có cơ sở khoa học và rất cần
thiết trong việc giúp cho các em làm quen với lao động, có hứng thú nghề nghiệp
của thuyết quản lý khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên
vàng” trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là:
“Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý
chặt chẽ”. Ông cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì
cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất.”