BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
---------*****---------
NGUYỄN THỊ PHA
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT Ở
TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP
QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
GS.TSKH Thái Duy Tuyên
VINH- 2011
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy, Cô giáo
trong Ban lãnh đạo Nhà trường, Khoa sau Đại học, Trường Đại học Vinh đã tạo
điều kiện cho tôi được tham gia khóa học này.
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Giáo sư, Phó Giáo sư,
Tiến sỹ, quý Thầy, Cô đã tham gia quản lý, giảng dạy, cung cấp tài liệu, hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu. Đặc biệt tôi chân thành bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Giáo sư - Tiến sỹ khoa học Thái Duy Tuyên đã tận tình
Công nghiệp hóa
2
CSVC
Cơ sở vật chất
3
DNPT
Dạy nghề phổ thông
4
GDHN
Giáo dục hướng nghiệp
5
GDTX
Giáo dục thường xuyên
6
HĐH
Sản xuất kinh doanh
12
THCN
Trung học chuyên nghiệp
13
THCS
Trung học cơ sở
14
THPT
Trung học phổ thông
15
XHH
Xã hội hóa
16
XHCN
Bảng 11 : Đánh giá những kết quả đạt được trong công tác GDHN
54
Bảng 12 :Đánh giá nguyên nhân của thành công trong công tác GDHN
55
Bảng 13 :Đánh giá những hạn chế trong công tác GDHN
56
Bảng 14 :Nguyên nhân những hạn chế trong công tác GDHN
58
Bảng 15 : Thực trạng biện pháp quản lý, chỉ đạo nội dung GDHN
61
Bảng 16 :Đánh giá tính cần thiết của các biện pháp quản lý đề xuất
82
Bảng 17 :Đánh giá tính khả thi của các biện pháp quản lý đề xuất
84
Bảng 18:Tương quan giữa tính cần thiết và khả thi của các biện pháp
1.2.3. Trung tâm KTTH- HN
1.3. YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC GDHN
1.3.1. Quản lý theo chức năng
1.3.2. Quản lý bằng phương tiện
1.3.3. Quản lý theo quá trình
1.3.4. Quản lý động lực
Trang
1
1
2
2
2
3
3
4
4
5
5
8
8
9
11
12
12
13
15
TẠI TRUNG TÂM KTTH- HN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TỰ NHIÊN, SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.2. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
2.2.1. Một số vấn đề chung
2.2.2. Thực trạng về nhận thức
24
24
25
26
27
27
27
28
28
30
30
33
33
34
2.3. THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ GDHN
2.3.1. Thực trạng đội ngũ giáo viên hướng nghiệp dạy nghề
3.2.3. Biện pháp 3 : Tích cực cải tiến nội dung, phương pháp và hình thức tổ
chức sinh hoạt hướng nghiệp
3.2.4. Biện pháp 4 : Đẩy mạnh công tác xã hội hóa GDHN
3.2.5. Biện pháp 5 : Đầu tư cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ công tác GDHN
3.2.6. Biện pháp 6 : Làm tốt công tác kiểm tra đánh giá hoạt động dạy và học của
giáo viên, học sinh trong các hoạt động GDHN
3.3. QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT
3.4. ĐÁNH GIÁ TÍNH CẦN THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA
CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT
3.4.1. Mục đích
3.4.2. Quy trình khảo sát
3.4.3. Kết quả đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
KẾT LUẬN CHƯƠNG III
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
39
39
42
42
43
44
45
47
48
49
50
hệ thống giáo dục quốc dân góp phần làm nhiệm vụ dạy chữ, dạy người và dạy
nghề nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực và bồi dưỡng
nhân tài góp phần thực hiện thắng lợi CNH,HĐH đất nước”.
Hàng năm trên toàn quốc có hàng triệu học sinh tham gia học hướng nghiệp
và học nghề phổ thông (Giáo dục hướng nghiệp).
Trung tâm KTTH- Hướng nghiệp quận Hoàn Kiếm Hà Nội được thành lập
năm 1987. Với sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, các cơ quan quản lý giáo
dục ở Trung ương, địa phương và sự cố gắng phấn đấu của tập thể cán bộ, giáo
viên của Trung tâm, công tác quản lý GDHN đã thu được những kết quả ban đầu
góp phần nâng tỷ lệ người lao động qua đào tạo lên 60 % vào năm 2015; trên 70%
vào năm 2020, đảm bảo cho tất cả thanh niên trước khi bước vào đời có những
hiểu biết nhất định về ngành nghề mà mình lựa chọn.Thành phố đã đầu tư trang
thiết bị nhằm hiện đại hóa trung tâm, mở rộng quy mô tuyển sinh, đa dạng hóa loại
hình đào tạo nghề nghiệp phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.
Trung tâm KTTH- Hướng nghiệp và các Trường THPT có nhiệm vụ sau:
•
Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn đối với nghề nghiệp.
•
Hình thành và phát triển hứng thú, năng lực nghề nghiệp.
•
Hướng nghiệp cho học sinh sau khi tốt nghiệp THPT…
Tuy nhiên thực tế vẫn còn tồn tại một số hạn chế so với yêu cầu phát triển
của xã hội trong thời hội nhập:
•
công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT ở Trung tâm KTTHHướng nghiệp quận Hoàn Kiếm Hà Nội “ nhằm góp phần khiêm tốn của mình
vào việc nâng cao chất lượng GDHN tại quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội.
2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động GDHN, đề
xuất một số biện pháp quản lý GDHN cho học sinh THPT ở Trung tâm KTTH- HN
quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
3.1. Khách thể nghiên cứu.
Quá trình công tác quản lý GDHN cho học sinh THPT của Trung tâm
KTTH- Hướng nghiệp quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội.
3.2.Đối tượng nghiên cứu.
Biện pháp công tác quản lý GDHN của Trung tâm KTTH- Hướng nghiệp
cho học sinh THPT trên địa bàn quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội.
4.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Công tác quản lý GDHN của Trung tâm KTTH- Hướng nghiệp và các
Trường THPT trên địa bàn quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội trong những năm
gần đây đã có những chuyển biến và đạt được những kết quả đáng kể , song vẫn
còn bộc lộ một số hạn chế bất cập .
Nếu phân tích hiện trạng hoạt động của các cơ sở giáo dục này một cách
nghiêm túc, tỉ mỉ thì sẽ có cơ hội đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động GDHN
phù hợp hơn, kết quả GDHN sẽ được nâng lên.
5. NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Tổng hợp về các vấn đề lý luận và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam , của Bộ GD- ĐT, của Thành phố Hà Nội về công tác
quản lý GDHN cho học sinh ở các Trường THPT và Trung tâm KTTH- Hướng
nghiệp.
Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý GDHN của Trung tâm KTTH- Hướng
nghiệp và các Trường THPT trên địa bàn quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về công tác quản lý GDHN cho học sinh THPT .
Chương II: Thực trạng quản lý công tác GDHN cho học sinh THPT tại
Trung tâm KTTH- Hướng nghiệp quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội.
Chương III. Một số biện pháp quản lý công tác GDHN cho học sinh THPT
tại Trung tâm KTTH- Hướng nghiệp quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT
1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1.Trên thế giới.
Nhiều học thuyết về quản lý đã chỉ ra rằng cần chăm lo và phát triển con
người để tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế
xã hội. Giáo dục đào tạo có liên quan mật thiết tới sự phát triển toàn diện con
người. Giáo dục có tác động phát triển con người, phát triển nguồn năng lực phục
vụ nền kinh tế xã hội. Giáo dục đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài. Trong giáo dục với tư cách là nền tảng cho việc đào tạo phát
triển nguồn nhân lực cần coi trọng giáo dục lao động và hướng nghiệp, giáo dục kỹ
thuật tổng hợp, vì đây là cầu nối giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp.
Các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục ở các nước trên thế giới đặc biệt
quan tâm tới vấn đề phân hóa trong giáo dục và coi đó là nguyên tắc tất yếu trong
dạy học. Một số nước như Nhật bản, Mỹ, Đức đã có những dụng cụ và thiết bị từ
đơn giản đến phức tạp, giúp học sinh tập lắp ráp máy móc, mô hình, sau đó tự thiết
kế theo chương trình và ý tưởng của học sinh. Từ hoạt động này, giáo viên có thể
nhận xét đánh giá, phân hóa năng lực, sở trường, hứng thú của học sinh, giáo viên
động viên, định hướng giúp trẻ phát huy khả năng, phát triển đúng hướng.
Vậy giáo dục không những giúp con người phát triển trí tuệ thuần túy về đạo
đức, khoa học mà còn chú trọng định hướng cho học sinh, thanh thiếu niên về nghề
lao động sản xuất”, “các Trung tâm KTTH- Hướng nghiệp- Dạy nghề ra đời tạo
điều kiện để nhà trường phổ thông phục vụ thực hiện tốt nguyên lý giáo dục: học đi
đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã
hội, chuẩn bị một cách tích cực vào việc bồi dưỡng đội ngũ những người lao động
kế cận của địa phương vừa có năng lực nhận thức, vừa có năng lực thực hành đáp
ứng những đòi hỏi của phân công, sử dụng học sinh các cấp tốt nghiệp ra trường”.
Từ năm 1981 đến năm 2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương
trình, tài liệu và tiêu chuẩn ngành cho GDHN trong các trường phổ thông: Quyết
định 3759/GD-ĐT ngày 10/9/1996; Quyết định số 2600/GD-ĐT ngày 15/5/1997
quy định đối với các phòng dạy học và môn học nghề : cắm hoa, thêu đan, làm
mộc, sửa chữa xe máy, điện; Chỉ thị số 33/2003/CT – BGD&ĐT ngày 23/7/2003
về tăng cường GDHN cho học sinh phổ thông; Văn bản số 6715/VP ngày
02/8/2004 ; Văn bản số 7078/BGD&ĐT – VP ngày 12/8/2005 ; Văn bản số
6903/BGD&ĐT – VP ngày 07/8/2006 về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ về GDHN
cho học sinh phổ thông.
Vận dụng tư tưởng triết học của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục
đào tạo vào thực tiễn, Đảng ta đã đề ra những nguyên tắc chỉ đạo hệ thống giáo dục
quốc dân:
•
Giáo dục phục vụ đường lối phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và
phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại.
•
Học đi đôi với hành, lí luận liên hệ với thực tiễn, với lao động sản xuất.
•
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1.Quản lý giáo dục.
Quản lý giáo dục là hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ
thuật. Nó có tác động tích cực vào hoạt động dạy và học của nhà trường.Với mục
tiêu làm cho thày dạy giỏi, trò học tốt, nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra có hiệu
quả nhất.
Theo N.M Matchtizade: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp nhằm
bảo đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo
đảm sự liên tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng .
Theo Nguyễn Gia Quý: Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ
thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã
định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ
thống giáo dục quốc dân.
Giáo sư Phạm Minh Hạc đã đưa ra một nội dung khái quát nhưng vẫn hợp
lý và dễ hiểu của khái niệm quản lý giáo dục . Tác giả viết:” Quản lý giáo dục là hệ
thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý
(hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của
Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm
hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục là quá trình giáo dục – giáo dục thế hệ trẻ,
đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.” [19;61]
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm về quản lý giáo dục là : “
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp qui
luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý
giáo dục của Đảng, thực hiện các chức năng giáo dục phù hợp với nhà trường
XHCN Việt Nam”[22;34]. Bản chất của quản lý giáo dục là việc quản lý hoạt động
dạy và học trong trường học, ngành học và bậc học.Quản lý giáo dục, tức là thực
hiện các chức năng của quá trình quản lý giáo dục. Quá trình dạy học – giáo dục
chính là đối tượng chủ yếu của công tác tổ chức và lãnh đạo của cán bộ quản lý
Theo tác giả Đặng Danh Ánh:” Giáo dục hướng nghiệp là một hoạt động của
tập thể sư phạm, của cán bộ các cơ quan nhà máy khác nhau, được tiến hành với
mục đích giúp học sinh chọn nghề đúng đắn với năng lực, thể lực và tâm lý của cá
nhân với nhu cầu kinh tế xã hội. Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành
của quá trình giáo dục- học tập trong nhà trường.[2]
Các nhà tâm lý học lại coi giáo dục hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp
tâm lý sư phạm và y học, giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã
hội và năng lực của bản thân.
Các nhà tâm lý học Thuỵ Sỹ lại cho rằng giáo dục hướng nghiệp làm cho
mỗi con người có độ tuổi thanh niên trở đi, có một việc làm ổn định, phù hợp với
năng lực của bản thân và nhu cầu xã hội.
Các nhà Kinh tế lại coi giáo dục hướng nghiệp là những mối quan hệ kinh tế
giúp cho mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ vào những
lĩnh vực cụ thể phù hợp với sự phân bổ của xã hội.
Hội nghị những người đứng đầu các cơ quan giáo dục hướng nghiệp các
nước Xã hội chủ nghĩa họp tại Lahabana tháng 10/1980 đã thống nhất khái niệm
giáo dục hướng nghiệp là:”Giáo dục hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp
dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh học, y học và nhiều khoa học khác để giúp cho học
sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện
vọng thích hợp với năng lực sở trường và điều kiện tâm lý cá nhân nhằm mục đích
phân phối và sử dụng có hiệu quả nhất lực lượng có sẵn của đất nước .”
Theo tài liệu tập huấn 2004 thì “Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là
một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó nhà
trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tâm thế
và kỹ năng để các em có thể sẵn sàng đi vào lao động hoặc tự tạo việc làm ở các
ngành nghề mà xã hội cần phát triển, đồng thời phù hợp với hứng thú, năng lực cá
nhân”.(Trung tâm Lao động- Hướng nghiệp(2004): Hướng dẫn hoạt động của
Điều 26 luật Giáo dục đã ghi rõ:” Cơ sở giáo dục phổ thông gồm :
•
Trường tiểu học.
•
Trường trung học cơ sở.
•
Trường trung học phổ thông.
•
Trung tâm KTTH- Hướng nghiệp.
Hệ thống Trung tâm KTTH-HN của Bộ GD- ĐT quy định: Trung tâm
KTTH-HN là cơ sở GD thuộc cấp THPT, đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Sở GDĐT. Trung tâm KTTH-HN thực hiện chức năng: Giáo dục KTTH, HN,DNPT và tổ
chức LĐSX nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông đã quy định trong điều
23 của Luật giáo dục là: “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mỹ và các chức năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho
học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và
bảo vệ tổ quốc .”(Bộ GD- ĐT; TL hội nghị “ Các lực lượng XH tham gia HN và sử
dụng hợp lý HS ra trường “ Bộ GD, tháng 6, 1984.”)
Luật Giáo dục năm 2005, tại điều 30 quy định: Trung tâm KTTH- Hướng
nghiệp “ là một trong bốn loại hình cơ sở giáo dục phổ thông”.Để hướng dẫn thi
đốc từ thi cử đầu vào của học sinh, tuyển dụng cán bộ...
- Tổ giáo vụ - hành chính: Giúp việc thực hiện tổ chức cho giám đốc.
- Các tổ chuyên môn( gồm các tổ dạy nghề, tổ tư vấn hướng nghiệp và sinh
hoạt hướng nghiệp): Tổ chức các hoạt động chuyên môn trên lớp nhằm thực hiện
công việc tổ chức trực tiếp học sinh để thực hiện mục đích giáo dục cho giám đốc:
Chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá.
1.3.2. Quản lý bằng phương tiện: hệ thống văn bản, nguồn lực, phương
tiện thông tin.
- Quản lý dựa trên các văn bản của Nhà nước, ngành, của địa phương có liên
quan đến trung tâm.
+ Trung tâm KTTH – HN quận Hoàn Kiếm được thành lập năm 1987.
- Để quản lý đội ngũ cán bộ viên chức, giáo viên, học sinh: Trung tâm đã đề
ra một số nội quy cho giáo viên và học sinh như sau:
+ Nội quy giáo viên:
1. Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn phẩm chất ,danh dự, uy tín,
lương tâm nhà giáo. Gương mẫu , thương yêu tôn trọng , đối xử công bằng và bảo
vệ quyền lợi chính đáng của học sinh . Đoàn kết thân ái và giúp đỡ đồng nghiệp
2.Lên lớp đúng giờ , đúng tiết , không tự tiện bỏ giờ , bỏ buổi dạy , chịu trách
nhiệm trước BGH và hội đồng giáo dục về việc quản lí học sinh trong giờ học và
các buổi sinh hoạt ngoài giờ do nhà trường tổ chức.
3.Giảng dạy theo đúng chương trình , đúng tiến độ của bộ môn do Bộ và Sở
GD&ĐT qui định ,thực hiện soạn giáo án , chuẩn bị thí nghiệm , các đồ dùng dạy
học chu đáo trước khi tới lớp .Kiểm tra đánh giá , chấm chữa bài đúng qui định ,
đảm bảo chế độ cập nhật điểm theo qui định của nhà trường
4. Thường xuyên học tập và tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ,
tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
sự nghiệp giáo dục.
5. Tác phong làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương, khoa học; có thái độ văn
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Tôn trọng, lễ phép, trung thực với thày cô giáo, cha mẹ và người lớn tuổi;
gặp thầy cô giáo, người lớn tuổi phải chào hỏi lễ độ; không nói tục, chửi
bậy; có lối sống lành mạnh, giản dị.
Đoàn kết, thân ái; khiêm tốn học hỏi; không gây gổ đánh nhau; giúp đỡ
người thân các công việc gia đình, giúp đỡ bạn bè.
Nghiêm túc thực hiện nội quy học tập, sinh hoạt của nhà trường: đi học
đúng giờ, tan học về nhà ngay; học và làm bài đầy đủ trước khi đến lớp;
tích cực xây dựng bài; trung thực trong kiểm tra thi cử.
Tham gia đầy đủ các hoạt động ngoại khóa ( văn nghệ, thể thao, tham
quan ...) trong và ngoài nhà trường.
Trang phục, đầu tóc gọn gàng; mặc đồng phục theo quy định của nhà
trường.
Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, luật lệ an toàn giao thông.
Có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ tài sản chung của nhà trường và xã
hội.
Không đánh bạc; không vận chuyển, tàng trữ, sử dụng vũ khí, chất nổ,
chất cháy, chất độc, ma túy hay các chất gây nghiện khác; không tuyên
truyền hoặc lưu giữ các vật phẩm, hình ảnh đồi trụy, có nội dung không
lành mạnh; không cổ vũ, tham gia các tệ nạn xã hội.
tốt.
- Quản lý phương pháp :
- Bám sát nội dung chương trình do Bộ Giáo dục quy định.
- Phương pháp phù hợp với từng môn học.
- Quản lý cơ sở vật chất, giáo viên, học sinh.
+ Quản lý cơ sở vật chất:Quản lý tài chính là tập trung vào việc thực
hiện luật ngân sách, các văn bản của Nhà nước về thu, chi tài chính, cân đối thu,
chi, kiểm tra sổ sách kế toán, thực hiện công khai tài chính và sử dụng có hiệu quả
ngân sách Nhà nước cấp.
- Quản lý trang thiết bị cơ sở vật chất phù hợp với nội dung, phương pháp,
chương trình và đối tượng đào tạo.
+Quản lý đội ngũ giáo viên, cán bộ viên chức:
+ Quản lý năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên.
+ Khả năng tổ chức quản lý học sinh của mỗi giáo viên.
+ Quản lý hồ sơ giáo viên.
+ Quản lý công việc và sự phân công hợp lý đội ngũ.
+ Quản lý khâu tuyển sinh(giới tính,sức khoẻ, trình độ, năng khiếu…)
+ Quản lý nề nếp học tập( giờ giấc chuyên cần, ghi chép bài vở, công
việc thực hành, sách và tài liệu học …)
+ Quản lý hồ sơ học sinh( kết hợp với các trường PT)
+ Quản lý kết quả học tập của học sinh.
+ Quản lý đội ngũ cán bộ giáo viên : Thực chất là quản lý việc thực hiện các
nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên, của từng giáo viên. Giáo viên trong các trường
học có nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục người học. Đồng thời họ phải học tập, rèn
luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độ về mọi mặt
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục của mình. Trong quản lý
quá trình giáo dục, giáo viên vừa là đối tượng quản lý, nhưng cũng là chủ thể của
quá trình đó.
ngày . Phải có chương trình dài hạn: 3 năm, 5 năm, 10 năm . Có chương trình
chung cho toàn Trung tâm và chương trình riêng cho từng bộ phận. Nếu không có
chương trình thì hoạt động thiếu thứ tự, không liên tục ...
Chương trình phải liên tục, ổn định, nối tiếp nhau không ngắt quãng, tính
nhất trí cao trong Trung tâm, tính chuẩn xác nghĩa là phải sát thực tế.
Phải có có kế hoạch thực hiện chương trình; chỉ rõ công việc phải theo một
thứ tự nào, giao cho bộ phận nào, cá nhân nào (làm cái gì và ai làm ) , lúc nào
xong, kế hoạch dự trữ, điều kiện và phương tiện thực hiện kế hoạch, các chỉ tiêu kế
hoạch và phương pháp tính, kiểm tra và đánh giá tình hình hoàn thành kế hoạch,
thưởng phạt nghiêm minh.
1.4. CÔNG TÁC QUẢN LÝ GDHN CỦA TRUNG TÂM KTTH-HN.
Trung tâm KTTH – HN là một cơ sở giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo
dục quốc dân thống nhất, Trung tâm KTTH – HN là cơ sở hướng nghiệp- dạy nghề
cho học sinh của nhiều trường phổ thông cùng khu vực có nhiệm vụ chính là tổ
chức hoạt động dạy học nghề phổ thông cho học sinh THCS và THPT nhằm cung
cấp tri thức, hình thành kỹ năng lao động nghề nghiệp rất cần thiết và phát triển tư
duy kỹ thuật thích hợp với nhu cầu và khả năng kinh tế xã hội của từng địa
phương.
Những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Bộ giáo dục- Đào tạo, Trung tâm lao
động hướng nghiệp Bộ giáo dục- Đào tạo, các Trung tâm KTTH-HN và nhà trường
phổ thông đã kết hợp tiến hành công tác giáo dục hướng nghiệp tại Trung tâm
KTTH - HN . Các nhà quản lý giáo dục ở Trung tâm KTTH – HN đã có các lớp tập
huấn ngắn hạn bằng những lý luận cụ thể trên cơ sở được đào tạo có bài bản. Đồng
thời bố trí sắp xếp cán bộ chuyên trách, giáo viên giảng dạy cho công tác này ...
Với những vấn đề trên thì chưa đủ để thực hiện tốt mục tiêu mà ngành Giáo dục –
Đào tạo đề ra, mà còn đòi hỏi người cán bộ quản lý giáo dục phải thực hiện tốt các
mục tiêu, nội dung và nguyên tắc về quản lý mà khoa học quản lý đã chỉ ra.
Trung tâm KTTH – HN phải hoạt động đa dạng, linh hoạt về nội dung