LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo Học viện
quản lý giáo dục đã trực tiếp giảng dạy, tư vấn tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - Tiến sĩ Phạm
Văn Sơn, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi về khoa học trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các cán bộ lãnh đạo Sở Giáo Dục và Đào
tạo Hà Nội, Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hoàn Kiếm, Ban Giám hiệu
trường THCS Hoàn Kiếm đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập,
nghiên cứu khoa học, cung cấp số liệu, tham gia ý kiến giúp đỡ để tôi hoàn
thành luận văn.
Do điều kiện thời gian và phạm vi nghiên cứu có hạn, nên luận văn
không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý
của các nhà khoa học, quí thầy cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2011
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Kiều Duyên
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Cán bộ quản lý : CBQL
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá : CNH – HĐH
Giáo dục ngoài giờ lên lớp : GDNGLL
Giáo viên : GV
Giáo viên chủ nhiệm : GVCN
Học sinh : HS
Kỹ năng sống : KNS
Liên hiệp quốc : LHQ
Trung học cơ sở : THCS
Trung học phổ thông : THPT
Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hiệp quốc : UNESCO
1.3.4. Các hình th c giáo d c KNS cho h c sinh THCSứ ụ ọ 33
1.4. Vai trò c a CBQL trong qu n lý giáo d c KNS tr ng THCSủ ả ụ ở ườ 35
1.4.1. Xây d ng k ho ch ho t ngự ế ạ ạ độ 35
1.4.2. T ch c v ch o ho t ngổ ứ à ỉ đạ ạ độ 35
1.4.3. Ki m tra ánh giá k t qu h c t pể đ ế ả ọ ậ 36
1.4.4. B i d ng i ng giáo viên v ban ch o ho t ngồ ưỡ độ ũ à ỉ đạ ạ độ 36
1.4.5. Xây d ng i u ki n th c hi n ho t ngự đề ệ để ự ệ ạ độ 37
1.5. Các y u t nh h ng n qu n lý giáo d c KNS tr ng THCSế ốả ưở đế ả ụ ở ườ 37
1.5.1. Nh n th c c a i ng CBQL v các l c l ng giáo d cậ ứ ủ độ ũ à ự ượ ụ 37
1.5.2. Trình n ng l c c a i ng giáo viênđộ ă ự ủ độ ũ 38
1.5.3. N i dung ch ng trình ho t ngộ ươ ạ độ 38
1.5.4. C s v t ch t c a nh tr ngơ ở ậ ấ ủ à ườ 38
1.5.5. Ph ng pháp ki m tra ánh giá v c ch ng viên khen th ngươ ể đ à ơ ếđộ ưở
38
Ti u k t ch ng 1ể ế ươ 39
Ch ng 2 TH C TR NG QU N LÝ GIÁO D C K N NG S NG M T S ươ Ự Ạ Ả Ụ Ỹ Ă Ố Ở Ộ Ố
TR NG TRUNG H C C S QU N HOÀN KI M THÀNH PH HÀ N IƯỜ Ọ Ơ Ở Ậ Ế Ố Ộ 40
2.1. V i nét v a b n nghiên c u:à ềđị à ứ 40
2.1.1. Khái quát v tình hình kinh t - xã h i qu n Ho n Ki m, th nh ề ế ộ ậ à ế à
ph H N iố à ộ 40
2.1.2.Khái quát v tình hình giáo d c- o t o c a Qu n Ho n Ki mề ụ đà ạ ủ ậ à ế 43
2.2. Th c tr ng ho t ng giáo d c KNS m t s tr ng THCS qu n Ho nự ạ ạ độ ụ ở ộ ố ườ ậ à
Ki m-Th nh ph H N i.ế à ố à ộ 50
2.2.1. Nh n th c c a CBQL v GV v ho t ng giáo d c KNS m t s ậ ứ ủ à ề ạ độ ụ ở ộ ố
tr ng THCS qu n Ho n Ki m:ườ ậ à ế 50
2.2.2. ánh giá c a CBQL v GV v ho t ng giáo d c KNS m t s Đ ủ à ề ạ độ ụ ở ộ ố
tr ng THCS qu n Ho n Ki mườ ậ à ế 54
2.2.3. ánh giá c a h c sinh v ho t ng giáo d c KNS m t s tr ngĐ ủ ọ ề ạ độ ụ ở ộ ố ườ
THCS qu n Ho n Ki m.ậ à ế 59
2.2.4. ánh giá c a ph huynh v th c tr ng giáo d c KNS c a h c sinh Đ ủ ụ ề ự ạ ụ ủ ọ
ch c giáo d c KNS tr ng THCSứ ụ ở ườ 88
3.2.6. Chu n b t t các i u ki n CSVC v ph ng ti n ph c v vi c t ẩ ị ố đề ệ à ươ ệ ụ ụ ệ ổ
ch c ho t ng giáo d c KNS tr ng THCSứ ạ độ ụ ở ườ 90
3.2.7. K t h p gi a nh tr ng – gia ình - xã h i trong vi c giáo d c ế ợ ữ à ườ đ ộ ệ ụ
KNS cho h c sinh THCS.ọ 92
3.2.8. T ng c ng v i m i công tác ki m tra, ánh giá, rút kinh ă ườ àđổ ớ ể đ
nghi m vi c t ch c th c hi n giáo d cKNSệ ệ ổ ứ ự ệ ụ 94
3.3. M i quan h gi a các bi n phápố ệ ữ ệ 96
3.4. Kh o nghi m tính c n thi t v tính kh thi c a các bi n pháp.ả ệ ầ ế à ả ủ ệ 97
3.4.1.M c ích kh o nghi m:ụ đ ả ệ 97
3.4.2. Ph ng pháp kh o nghi m:ươ ả ệ 97
3.4.3. a i m kh o nghi m:Đị để ả ệ 98
3.4.4. Ti n trình kh o nghi m:ế ả ệ 98
3.4.5. K t qu :ế ả 98
Ti u k t ch ng 3ể ế ươ 100
K T LU N VÀ KHUY N NGHẾ Ậ Ế Ị 102
1. K t lu nế ậ 102
2. Khuy n nghế ị 103
DANH M C TÀI LI U THAM KH OỤ Ệ Ả 107
DANH MỤC CÁC BẢNG
B ng 2.1. Th c tr ng s l ng CBQL v GV THCS Qu n Ho n ả ự ạ ố ượ à ậ à
Ki m n m h c 2010-2011ế ă ọ 44
B ng 2.2. Th c tr ng v s l ng v trình o t o CBQL v GV ả ự ạ ề ố ượ à độđà ạ à
THCS qu n Ho n Ki m n m h c 2010-2011:ậ à ế ă ọ 45
B ng 2.3. Th c tr ng v s l ng h c sinh THCS qu n Ho n Ki m ả ự ạ ề ố ượ ọ ậ à ế
n m h c 2010-2011ă ọ 45
B ng 2.4. Th c tr ng v ch t l ng h c sinh THCS Qu n Ho n ả ự ạ ề ấ ượ ọ ậ à
Ki m n m h c 2010-2011ế ă ọ 46
B ng 2.5 : Nh n th c c a CBQL v GV v vai trò, b n ch t v m c ả ậ ứ ủ à ề ả ấ à ứ
c n thi t c a ho t ng giáo d c KNS m t s tr ng THCSđộ ầ ế ủ ạ độ ụ ở ộ ố ườ 51
xu t.ấ 98
B ng 3.2. K t qu ánh giá tính kh thi c a các bi n pháp xu t.ả ế ảđ ả ủ ệ đề ấ
100
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
S 1.1. M i quan h gi a các ch c n ng qu n lýơđồ ố ệ ữ ứ ă ả 14
Bi u 1: K t qu x p lo i o c h c sinh THCS qu n Ho n ể đồ ế ả ế ạ đạ đứ ọ ậ à
Ki mế 48
t n m (2008 – 2011)ừ ă 48
Bi u 2: K t qu x p lo i h c l c h c sinh THCS qu n Ho n ể đồ ế ả ế ạ ọ ự ọ ậ à
Ki mế 48
t n m (2008 – 2011)ừ ă 48
Bi u 3 : M c giáo d c KNS cho h c sinh THCSể đồ ứ độ ụ ọ 59
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2020 của Đảng và
Nhà nước ta đã khẳng định trong Văn kiện Đại hội Đảng X: “Để đi tắt, đón
đầu từ một nước kém phát triển thì vai trò của giáo dục và khoa học – công
nghệ lại càng có tính chất quyết định. Giáo dục phải đi trước một bước, nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công
các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội”. Như vậy, trong những
năm đầu của thế kỷ XXI, GD- ĐT đã đóng một vai trò đặc biệt quan trọng
trong chiến lược phát triển của quốc gia. GD- ĐT phải giúp cho thế hệ trẻ
thích ứng được với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và tham
gia tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
Điều 2- Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: “ Mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người Việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”. Để góp phần đạt được
mục tiêu này, giáo dục cần tới sự quan tâm, nỗ lực của các cấp, các ngành,
giúp học sinh sống an toàn hơn.
Ngày nay với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, giáo dục Việt Nam cũng
như giáo dục ở các nước trên thế giới đều hướng tới 4 trụ cột mà UNESSCO
đã đưa ra đó là: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm
người”. Với mục tiêu hướng tới đào tạo Công dân toàn cầu đặt ra cho giáo
dục Việt Nam nhiệm vụ không chỉ cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng các
2
môn học mà còn phải hình thành, rèn luyện KNS và năng lực cho người học
theo hướng hoà nhập, thân thiện. Ngày 15 tháng 5 năm 2008, tại trường
THCS Vạn Phúc- Hà Đông, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn
Thiện Nhân nay là Phó Thủ tướng Chính phủ- đã phát động phong trào thi
đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ
thông giai đoạn 2008-2013.
Hiện nay, trên thế giới có ít nhất là 70 quốc gia đã và đang đưa KNS
vào chương trình học chính khoá dưới hình thức một môn học riêng, hoặc tích
hợp vào tất cả các môn học hoặc tích hợp vào một số môn nhất định. Tại Việt
Nam việc đưa giáo dục KNS vào trường học là một trong những tiêu chí của
phong trào “ trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Tuy nhiên, việc đưa
giáo dục KNS vào các trường THCS hiện nay còn chưa thực sự được quan
tâm, thể hiện ở sự đầu tư chưa thích đáng cho việc xây dựng kế hoạch, đầu tư
nguồn nhân lực, kinh phí, hình thức tổ chức còn đơn điệu, chưa mang tính
thiết thực. Đặc biệt là chưa có những biện pháp quản lý tích cực để đưa nội
dung KNS vào trong các môn học của nhà trường.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Biện pháp
quản lý giáo dục KNS cho học sinh ở một số trường THCS Quận Hoàn
Kiếm- Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay ”.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục KNS ở một số trường THCS
Quận Hoàn Kiếm- TP Hà Nội.
3. Giả thiết khoa học:
này để sắp xếp các thông tin thành những đơn vị có cùng dấu hiệu bản chất,
từ đó xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
4
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát : Quan sát hoạt động quản lý của hiệu trưởng,
việc triển khai KNS của GV và sự tham gia của HS, các hoạt động của HS ở
trong và ngoài nhà trường.
- Phương pháp điều tra : Tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi với các loại
câu hỏi đóng, mở dành cho các đối tượng khác nhau (hiệu trưởng, hiệu phó,
GVCN, GV bộ môn, Tổng phụ trách, CMHS)
- Phương pháp phỏng vấn : Trò chuyên, toạ đàm trao đổi với các
CBQL, GV và HS.
- Phương pháp chuyên gia : Xin ý kiến chuyên gia về các vấn đề mà đề
tài đề cập.
- Phương pháp thử nghiệm sư phạm :
7.3. Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu thu được sẽ xử lý bằng thống
kê toán học và các phần mềm chuyên dùng.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
5
Trong xu thế hội nhập, nhiệm vụ giáo dục của các nước là đào tạo thế
hệ trẻ năng động, sáng tạo có năng lực chủ yếu như: năng lực thích ứng, năng
lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội…Nói cách
khác là tạo một lớp người mới tinh thông về nghề nghiệp, có khả năng thích
ứng cao với những biến động của cuộc sống.
Ở Việt Nam, năm 2001-2005, Giáo dục KNS dưới sự hỗ trợ của
UNICEF nhằm hướng tới cuộc sống khoẻ mạnh cho trẻ em và trẻ em chưa
thành niên trong và ngoài nhà trường ở một số dự án như : Dự án “ trường
quan tâm, thể hiện ở sự đầu tư chưa thích đáng cho việc xây dựng kế hoạch,
đầu tư nguồn nhân lực, kinh phí, hình thức tổ chức còn đơn điệu, chưa mang
tính thiết thực. Đặc biệt là chưa có những biện pháp quản lý tích cực để đưa
KNS vào trong các môn học của nhà trường. Vì vậy, thông qua đề tài nghiên
cứu này, tác giả muốn nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho học sinh THCS
trên địa bàn Quận Hoàn Kiếm- TP Hà Nội.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lý:
Quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch
sử phát triển của loài người. Quản lý là một dạng lao động đặc biệt phát sinh
từ tính chất xã hội hoá lao động, điều khiển các hoạt động lao động, nó có
tính khoa học và nghệ thuật cao nhưng đồng thời nó cũng là sản phẩm mang
tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội.
Sự cần thiết của quản lý được Mác viết: “ Tất cả mọi lao động xã hội
trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ít
nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và
thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể
khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu
7
vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”
(Mác- F. Anghen toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 1993).
Có thể xem xét quản lý dưới các góc độ khác nhau: Ở góc độ chung
nhất thì quản lý vạch ra mục tiêu cho bộ máy, lựa chọn phương tiện, điều kiện
tác động đến bộ máy để đạt mục tiêu đã định. Ở góc độ kinh tế, quản lý là tính
toán sử dụng hợp lý nguồn lực nhằm đạt mục tiêu đề ra. Ở góc độ chính trị xã
hội, quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với lao động. Ở góc độ hành động thì
quản lý là quá trình điều khiển.
Sự đa dạng về cách tiếp cận dẫn đến sự phong phú về các quan niệm
quản lý.
quản lí) về mặt chính trị, văn hoá, KT – XH bằng một hệ thống các luật, các
chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm
tạo các môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
1.2.1.2 Các chức năng quản lí
Chức năng quản lí là một thể thống nhất hoạt động tất yếu của chủ thể
quản lí nảy sinh từ phân công chuyên môn hoá trong hoạt động quản lí nhằm
thực hiện mục tiêu. Quản lí bao gồm các chức năng sau:
Kế hoạch hoá: Theo Pêter Drucker , một trong những chuyên gia quản
lí hàng đầu đuơng đại đã đề xuất tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm (tức là khả
năng làm những việc “đúng”) và tính hiệu quả (tức là khả năng làm đúng
việc). Ông cho rằng tính hiệu nghiệm là quan trọng hơn. bởi vẫn có thể đạt
được hiệu quả khi chọn sai mục tiêu. Hai tiêu chuẩn này song hành cùng với
hai khía cạnh của kế hoạch xác định những mục tiêu “đúng” để đạt được các
mục tiêu này. cả hai khía cạnh đó đều có ý nghĩa sống còn đối với quá trình
quản lí
Nhiều thuyết gia quản lí cho rằng, kế hoạch hoá là cái khởi nguyên của
mọi hoạt động, mọi chức năng quản lí nếu không có kế hoạch thì không biết
9
tổ chức nhân sự và các nguồn nhân lực khác thế nào. Không có kế hoạch hoá
người quản lí không thể chỉ dẫn, lãnh đạo người thuộc quyền hành động một
cách chắc chắn với những kì vọng đặt vào kết quả mong muốn . Như vậy ,
bản chất của khái niệm kế hoạch hoá chính là quá trình xác định mục tiêu,
xác định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó cùng với những
điều kiện cơ sở vật chất cung ứng cho việc thực hiện những mục tiêu đề ra.
Trong tất cả chức năng quản lí, chức năng kế hoạch hoá đóng vai trò là chức
năng đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng khác. Đây được
coi là chức năng dẫn đường cho các chức năng tổ chức chỉ đạo và kiểm tra.
Trong quản lí giáo dục, quản lí nhà trường , xác định chức năng kế hoạch hoá
có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại, vận hành và phát triển của nhà trường.
Bởi trên cơ sở phân tích những thông tin quản lí, những tiềm năng hiện có,
chức các hoạt động hướng tới hình thành cấu trúc tối ưu của hệ thống quản lí
và phối hợp tốt nhất giữa các hệ thống lãnh đạo và bị lãnh đạo”.
V.I. Lê Nin khẳng định: “Chúng ta hiểu rằng muốn quản lí tốt… còn
phải biết tổ chức các mặt thực tiễn nữa”.
Giáo trình khoa học quản lí của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh viết:
Thứ nhất, tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lí
thực hiện có hiệu quả.
Thứ hai, từ khối lượng công việc quản lí mà xác định biên chế, sắp xếp
con người.
Thứ ba, tạo điều kiện cho hoạt động tự giác sáng tạo của các thành viên
trong tổ chức, tạo nên sự phối hợp ăn khớp nhịp nhàng trong cơ quan quản lí
và đối tượng quản lí.
11
Thứ tư, dễ dàng cho việc kiểm tra, đánh giá.
Như vậy , thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ , liên hệ giữa
con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt
động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho
những tiềm năng, cho các động lực khác, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu
động lực và giảm sút hiệu quả quản lí. Trong quản lí giáo dục, quản lí nhà
trường, điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định cho được
và xác định cho rõ vai trò, vị trí của mỗi cá nhân, mỗi thành viên, mỗi bộ
phận, đảm bảo mối quan hệ liên kết giữa các cá nhân, các thành viên, các bộ
phận tạo nên sự thống nhất và đồng bộ - yếu tố đảm bảo thành công trong
quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường.
Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản
lí đến hành vi , thái độ con người ( khách thể quản lí) nhằm đạt được mục tiêu
đề ra. Quá trình đó thể hiện ở sự tác động qua lại giữa các chủ thể quản lí mọi
thành viên trong tổ chức nhằm góp phần hiện thực hoá các mục tiêu đề ra,bản
chất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi
lí giáo dụcđào tạo, quản lí nhà trường nói riêng. Tóm lại, kế hoạch hoá, tổ
chức, chỉ đạo, kiểm tra là các chức năng cơ bản được hình thành trong sự
phân công và chuyên môn hoá hoạt động quản lí. Các chức năng này có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau được thể hiện ở sơ đồ sau đây:
13
Kế hoạch
Kiểm tra Tổ chức Thông tin
Chỉ đạo
Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
1.2.1.3. Phương pháp quản lý:
Phương pháp quản lý hoạt động KNS là cách thức mà chủ thể quản lý
tác động vào học sinh nhằm đạt được những mục tiêu quản lý đã đề ra.
Trong nhà trường thường sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp tổ chức hành chính: là phương pháp tác động trực tiếp
của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính
dứt khoát, bắt buộc như nghị định, nghị quyết, văn bản quy chế, qui định, nội
qui. Phương pháp tổ chức là vô cùng cần thiết trong mọi hoạt động quản lý.
Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp này cần chú ý nếu lạm dụng nó thì sẽ dẫn
đến tình trạng quan liêu, mệnh lệnh.
- Các phương pháp kinh tế: đây là phương pháp mà chủ thể quản lý tác
động gián tiếp đến đối tượng được quản lý dựa trên các lợi ích vật chất và các
đòn bẩy kinh tế để làm cho đối tượng được quản lý suy nghĩ đến lợi ích của
mình, tự giác thể hiện bổn phận và trách nhiệm một cách tốt nhất mà không
phải đôn đốc nhắc nhở nhiều về mặt hành chính mệnh lệnh của chủ thể quản
lý. Những phương pháp kinh tế mà nhà trường thường áp dụng như: cộng
điểm rèn luyện, thưởng, phạt, tuyên dương…
14
- Các phương pháp tâm lí – xã hội: đặc điểm của phương pháp này là
sự kích thích đối tượng quản lý sao cho họ luôn luôn toàn tâm toàn việc, coi
những mục tiêu nhiệm vụ của quản lý như là mục tiêu công việc của chính họ,
các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến,
tiến lên trạng thái mới về chất”.
Tác giả Đặng Quốc Bảo khẳng định: “Quản lí giáo dục là hoạt động
điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế
hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.
Trong luận văn này, chúng tôi đề cập đến quản lí giáo dục theo nghĩa
hẹp trong phạm vi quản lí một trường học.
Bản chất của quản lí giáo dục là quá trình tác động có ý nghĩa của chủ
thể quản lí tới khách thể quản lí và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt
động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục.
1.2.1.2. Các nguyên tắc quản lí
Trong việc quản lí các tổ chức (kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo
dục……)
Mà yếu tố chủ yếu là con người, các nhà quản lí thường vận dụng các
nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng: Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng
duy nhất cầm quyền. Vì thế trong quản lí phải bám sát đường lối, chủ trương
chính sách của Đảng trong hoạt động của bộ máy.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lí một cách khoa học,
có sự kết hợp chặt chẽ của cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo của
quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lí. Tập trung trong
16
quản lí được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thống được tập trung vào
cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đường lối chủ trương,
phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơ bản để thực
hiện. Nguyên tắc này được thể hiện qua chế độ một thủ trưởng.
Dân chủ trong quản lí được hiểu là: Phát huy quyền làm chủ của mọi
thành viên trong tổ chức, huy động trí lực của họ. Dân chủ được thể hiện ở
Để đạt tới cùng một mục đích của hành động, người ta có thể lựa chọn
các thao tác khác nhau và qui trình hành động khác nhau. Đó là tính linh hoạt,
sáng tạo trong hành động.
Các thao tác lựa chọn có thể giống nhau nhưng khi lựa chọn qui trình
thực hiện khác nhau sẽ dẫn đến những kết quả hành động khác nhau.
Như vậy, nếu thực hiện thành thạo được một số thao tác nhất định có thể sắp
xếp, hình thành các KN khác nhau theo mục đích hành động.
Tóm lại, kĩ năng được hiểu là cách thức lựa chọn các thao tác hướng
định, sắp xếp theo một trình tự nhất định, sao cho khi thực hiện theo đúng
trình tự đó sẽ đạt được kết quả tương ứng với mục đích và điều kiện hành
động đặt ra.
1.2.3.2. Kĩ năng sống:
Lần đầu tiên thuật ngữ kĩ năng sống (Life skills) được đề cập vào
những năm 1960 bởi những nhà tâm lí học thực hành, coi đó như khả năng
quan trọng trong việc phát triển nhân cách. Hơn hai thập kỉ nay đã tồn tại
thuật ngữ : “Giáo dục dựa trên kĩ năng sống” (LSBE). GD dựa trên kĩ năng
sống có một lịch sử lâu dài, ban đầu chỉ nhằm hỗ trợ sự phát triển và tăng
cường sức khoẻ của trẻ.
Vào năm 1986, bản Hiến chương Ottawa vì tăng cường sức khoẻ nhận
ra kĩ năng sống trong ý nghĩa làm cho sức khoẻ được tốt hơn. Năm 1989,
Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC) liên kết kĩ năng sống với giáo dục
18
thông qua tuyên bố rằng: giáo dục cần trực tiếp hướng tới sự phát triển hết
tiềm năng của trẻ. Năm 1990, tuyên bố Jomtien về giáo dục cho mọi người
nhìn nhận quan điểm này rộng hơn và đưa kĩ năng sống vào trong số các công
cụ học tập trọng yếu để tồn tại, để xây dựng năng lực và chất lượng cuộc
sống. Năm 2000, hội nghị thế giới về giáo dục ở Dakar đề nghị tất cả trẻ em
và người lớn đều có quyền hưởng lợi từ “một nền giáo dục trong đó bao gồm
việc học tập để biết, để làm, để sống cùng nhau và để tồn tại” và đưa các kĩ
năng sống vào “mục tiêu giáo dục cho mọi người” (EFA Goals).