1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, vấn đề đạo đức xã hội ở nước ta đang diễn ra
rất phức tạp, đạo đức xã hội có phần bị xuống cấp, điều đáng lo ngại hơn cả
là "có một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ
nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập
nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước".
Hiện tượng thiếu trung thực trong học tập, gian lận trong thi cử,
dùng tiền để "mua điểm", "mua bằng cấp", hiện tượng đánh thầy chửi bạn...
có nguy cơ trở thành một tệ nạn. Không những thế, những tệ nạn xã hội
như rượu chè, cờ bạc, ma túy...cũng đang có xu hướng du nhập vào nhà
trường gây ảnh hưởng lớn đối với học sinh.
Tại sao trong một bộ phận học sinh hiện nay lại có sự sa sút về mặt
phẩm chất đạo đức? Hiện tượng đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nhưng
phải thấy rằng nguyên nhân chủ yếu nhất là do trong thời gian qua chúng ta
ít quan tâm đến công tác giáo dục đạo đức cho những đối tượng này, gia
đình và xã hội gần như "gửi gắm", thậm chí "khoán trắng" công việc giáo
dục đạo đức con em mình cho nhà trường. Mặt khác, giáo dục trong nhà
trường lại có xu hướng coi nhẹ, thậm chí buông lỏng giáo dục đạo đức,
chạy theo giáo dục văn hóa đơn thuần vì mục đích thi cử.
Để khắc phục tình trạng xuống cấp, suy thoái về đạo đức trong một
bộ phận thanh niên học sinh, để đáp ứng những nhiệm vụ và mục tiêu giáo
dục thế hệ trẻ, xây dựng con người cho thế kỷ XXI mà Hội nghị lần thứ
hai Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã vạch ra, phải tăng
cường hơn nữa công tác giáo dục đạo đức cho thanh niên, mà đặc biệt là
thanh niên học sinh trong các Trung Tâm giáo dục thường xuyên
2
5.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý
công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở các TTGDTX thị xã, thành phố
của tỉnh Thanh Hóa.
5.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý quản lý công tác
giáo dục đạo đức cho học sinh ở các TTGDTX thị xã, thành phố của tỉnh
Thanh Hóa.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các
phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích- tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực
tiễn có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu thu được.
7. Đóng góp của luận văn
7.1 Về mặt lý luận
Đề tài cung cấp một số luận cứ khoa học, phương pháp luận trong quản lý
công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở các TTGDTX thị xã, thành phố của
tỉnh Thanh Hóa.
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối quan hệ hiện thực
bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con người, tập hợp những quan điểm của
một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế
giới, về cách sống. Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho
phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội. Từ đó cho thấy đạo đức trong xã
hội luôn được coi trọng và là tâm điểm để cho các triết gia nghiên cứu và tìm
hiểu.
Ở phương Tây, thời cổ đại, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho
rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con người vốn thiện, nếu tính
thiện ấy được lan tỏa thì con người sẽ có hạnh phúc. Muốn xác định được
chuẩn mực đạo đức, theo Socrate, phải bằng nhận thức lý tính với phương
pháp nhận thức khoa học [4, tr 34].
Khổng Tử (551- 479 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc.
Ông xây dựng học thuyết “Nhân - Lễ - Chính danh”, trong đó, “Nhân” - Lòng
thương người - là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người.
Đứng trên lập trường coi trọng giáo dục đạo đức (GDĐĐ), Ông có câu nói nổi
tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ, hậu học văn” [4, tr 21].
Thế kỷ XVII, Komenxky - Nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc đã có
nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại”.
6
Komenxky đã chú trọng phối hợp môi trường bên trong và bên ngoài để
GDĐĐ cho học sinh [tr 21].
Thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên
cứu về GDĐĐ cho cán bộ, học sinh (HS) như: A.C. Macarenco, V.A
Xukhomlinxky… Nghiên cứu của họ đã đặt nền tảng cho việc GDĐĐ mới
trong giai đoạn xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Liên Xô.
(NGLL) ở trường Trung học phổ thông (THPT) (Phùng Đình Mẫn chủ biên,
2005)…..
Khi nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức các tác giả đã đề cập đến
mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức và một số vấn đề về quản
lý công tác giáo dục đạo đức.
Về mục tiêu giáo dục đạo đức, tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu rõ: “Trang
bị cho mọi người những tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân
văn, kiến thức pháp luật và văn hoá xã hội. Hình thành ở mọi công dân thái độ
đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người,
với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung
quanh. Tổ chức tốt giáo dục giới trẻ; rèn luyện để mọi người tự giác thực hiện
những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định của pháp
luật, nỗ lực học tập và rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự
nghiệp Công Nghiệp Hóa- Hiện Đại Hóa (CNH-HĐH) đất nước” [17].
Để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong thời kỳ đổi mới đã có
một số nhà khoa học nghiên cứu về quản lý công tác giáo dục đạo đức. Tuy
còn ít ỏi nhưng có thể kể đến:
- Huỳnh Thị Kim Anh với đề tài luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục:
“Công tác quản lý của Hiệu trưởng trong việc tổ chức GDĐĐ cho học sinh ở
8
các trường Trung học cơ sở (THCS) huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp”, năm
2009.
- Phan Hồ Hải với đề tài luận văn thạc sỹ: “Một số giải pháp quản lý
nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên
địa bàn quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh” năm 2010.
- Một vài quan điểm đổi mới hoạt động giáo dục đạo đức của người
Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) bậc Trung học cơ sở (Lê Trung Tấn- Nguyễn
giáo dục xã hội nhằm hình thành các phẩm chất nhân cách. Đây chính là quá
trình giáo dục xã hội.
+ Ở cấp độ thứ 3: Giáo dục là hoạt động có kế hoạch, có nội dung xác
định và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong các tổ chức
giáo dục, trong các cơ sở giáo dục đến học sinh nhằm giúp họ phát triển toàn
diện. Đây chính là quá trình sư phạm tổng thể.
+ Ở cấp độ hẹp nhất: Giáo dục là quá trình hình thành ở học sinh những
phẩm chất đạo đức, những thói quen hành vi. Đây chính là quá trình giáo dục
đạo đức cho học sinh.
Trong luận văn này giáo dục được hiểu như là một quá trình sư phạm
tổng thể: là hoạt động có kế hoạch, có nội dung, bằng các phương pháp khoa
học trong các cơ sở giáo dục đến học sinh nhằm phát triển đức, trí, thể, mỹ....
cho các em.
1.2.1.2. Giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức cho học sinh (HS) là một quá trình lâu dài, liên tục
về thời gian, rộng khắp về không gian, từ mọi lực lượng xã hội; trong đó, nhà
trường giữ vai trò rất quan trọng.
10
GDĐĐ trong nhà trường Trung học phổ thông là một quá trình giáo
dục bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể. Nó có quan hệ biện chứng với
các quá trình giáo dục khác như: giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục
thể chất, giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp...
GDĐĐ cho học sinh là quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất
đạo đức của nhân cách học sinh dưới những tác động và ảnh hưởng có mục đích
được tổ chức có kế hoạch, có sự lựa chọn về nội dung, phương pháp và hình
thức giáo dục phù hợp với lứa tuổi và với vai trò chủ đạo của nhà giáo dục. Từ
đó, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ
- Quản lý việc sử dụng phương pháp, hình thức, phương tiện GDĐĐ
- Quản lý giáo viên
- Quản lý học sinh
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả GDĐĐ
- Quản lý công tác kết hợp giữa gia đình- nhà trường- xã hội trong
GDĐĐ.
1.2.3. Hiệu quả và hiệu quả quản lý công tác giáo dục đạo đức
1.2.3.1. Hiệu quả
Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “Hiệu quả” được định nghĩa là:
“Kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại” [25, tr 440]. Hiểu một cách cụ
thể hơn, hiệu quả của hoạt động quản lý là kết quả hoạt động của hệ thống
quản lý cụ thể được phản ánh trong các chỉ tiêu khác nhau của đối tượng quản
lý cũng như trong bản thân hoạt động quản lý, đồng thời những chỉ tiêu đó có
những đặc trưng về số lượng và chất lượng.
13
Như vậy, khái niệm hiệu quả phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa chi
phí và lợi ích, giữa đầu tư với kết quả thực thu trong môi trường và thời gian
nhất định, mối quan hệ giữa giá trị và giá trị sử dụng của một sản phẩm hay
một giải pháp nào đó.
1.2.3.2. Hiệu quả quản lý công tác giáo dục đạo đức
Hiệu quả quản lý công tác giáo dục đạo đức là kết quả của việc tổ chức
và điều khiển các hoạt động của học viên theo yêu cầu của chủ thể quản lý
giáo dục về việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, kế hoạch giáo
dục đã đề ra với chi phí thấp nhất.
Hiệu quả và chất lượng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; càng nâng cao
hiệu quả quản lý học sinh chất lượng đào tạo trong mỗi trung tâm sẽ được nâng
cao lên.
đích, có kế hoạch nhằm giảm thiểu chi phí hoạt động nhưng đạt kết quả cao
so với kế hoạch đề ra. Như vậy, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác
giáo dục đạo đức cho học sinh TTGDTX đồng nghĩa với việc tìm ra con
đường ngắn nhất, dễ nhất để đạt được kết quả cao nhất.
1.3. Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả quản lý công tác giáo dục đạo
đức cho học sinh ở các TTGDTX thị xã, thành phố
1.3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý công tác giáo dục đạo
đức cho học sinh ở các TTGDTX thị xã, thành phố
Nâng cao công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trung tâm GDTX
chính là nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo của ngành Giáo dục.
Cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh đều là những yếu tố quyết định
đến chất lượng đào tạo. Muốn nâng cao chất lượng đào tạo, giải pháp ưu tiên
mang tính đột phá là phải quan tâm đến đội ngũ cán bộ quản lý, đến học sinh.
15
Phải có sự đổi mới trong công tác quản lý học sinh về giáo dục tư tưởng, ý
thức trách nhiệm, lòng tự trọng.
Để các trung tâm GDTX không ngừng phát triển về quy mô, đồng thời
đảm bảo chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục, trong công tác quản lý
cần lưu ý những nội dung cơ bản sau:
Hiểu sâu sắc các đặc điểm của trung tâm GDTX và mối quan hệ của
trung tâm với người học. Trung tâm GDTX có mục tiêu chung là tạo cơ hội
học tập, giúp cho người học có những kiến thức, kỹ năng cần thiết để họ lao
động, sản xuất, công tác tốt hơn; hòa nhập với cộng đồng, mưu cầu hạnh
phúc, đồng thời cũng tạo cơ sở để những người học có nhu cầu có thể tiếp tục
học lên bậc học cao hơn. Do đó, các hoạt động giáo dục phải mở ra ở nhiều
lĩnh vực và các trình độ khác nhau. Thấy rõ đặc điểm đó, công tác quản lý
phải chú trọng đến hình thức học tập này, trong đó giáo dục đạo đức cho học
phát triển của trung tâm GDTX.
Vì vậy, quản lý giáo dục (QLGD) ở TTGDTX cần chặt chẽ quản lý giáo
dục đạo đức cho học sinh- Điều đó quyết định sự tồn tại hay không tồn tại của
TTGDTX.
1.3.2. Mục đích, yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý công tác giáo dục
đạo đức cho học sinh ở các TTGDTX thị xã, thành phố
Lãnh đạo nhà trường phải xác định rõ nội dung GDĐĐ cho học sinh làm
cơ sở cho các tổ chuyên môn khác xác định được nội dung công tác GDĐĐ của
tổ mình.
Ngoài việc xây dựng nội dung giáo dục đạo đức thống nhất trong nhà
trường, Giám đốc thông qua các Phó Giám đốc, các tổ trưởng xây dựng
chương trình giáo dục đạo đức của nhà trường bao gồm: chương trình giáo
dục đạo đức thông qua hoạt động giảng dạy, thông qua hoạt động quản lý học
17
sinh, thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp... Trên cơ sở đó giám đốc phải
yêu cầu các tổ bộ môn, tổ chủ nhiệm, tổ giáo viên quản lý học sinh và cán bộ
giáo viên của các tổ liên quan lập chương trình giáo dục đạo đức, phải nêu rõ
hình thức và biện pháp giáo dục đạo đức thể hiện rõ sự phân công cho từng cá
nhân đối với từng nội dung của chương trình.
Phương tiện quản lý công tác giáo dục đạo đức bao gồm: các văn bản
pháp quy về GDĐĐ, bộ máy làm công tác giáo dục đạo đức, nguồn lực tài
chính, cơ sở vật chất, thông tin về công tác giáo dục đạo đức.
Các văn bản pháp quy là cơ sở pháp lý để giám đốc xây dựng kế hoạch,
ra các quyết định quản lý. Việc vận dụng các văn bản pháp quy về công tác
giáo dục đạo đức phải phù hợp với đặc điểm của mỗi nhà trường và các chuẩn
mực đạo đức xã hội.
Bộ máy làm công tác giáo dục đạo đức ở TTGDTX đó là Ban giám
cuộc họp sơ kết, tổng kết tuần, tổng kết tháng, sơ kết học kỳ, tổng kết năm
học, thực hiện các cuộc giao tiếp xã hội và giao tiếp nội bộ, thông báo bằng
bảng tin của nhà trường, thông báo bằng văn bản, lấy ý kiến trực tiếp hoặc lấy
ý kiến bằng văn bản, duy trì các loại báo cáo định kỳ hoặc đột xuất. Các cơ
chế truyền đạt thông tin, thu thập thông tin giúp Giám đốc có các cơ sở thực
tiễn để xây dựng kế hoạch, tăng cường xây dựng các quan hệ giữa các tổ chức
và cá nhân, đảm bảo cho các hoạt động giáo dục được tiến hành một cách
đồng bộ, đạt hiệu quả cao.
Ngoài hình thức quản lý bằng phương tiện như đã nói trên còn có các
hình thức quản lý theo quá trình (quản lý mục đích, nội dung, phương pháp,
phương tiện, hình thức giáo dục, hoạt động giáo dục của thầy, hoạt động tự
giáo dục của học sinh, kết quả giáo dục……), quản lý theo chức năng (lập kế
hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra). Người quản lý phải phối hợp các hình thức
19
quản lý một cách hợp lý nhịp nhàng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác
giáo dục đạo đức.
20
1.3.3. Nội dung, phương pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác giáo
dục đạo đức cho học sinh ở các TTGDTX thị xã, thành phố
Giáo dục đạo đức cho học sinh TTGDTX là một trong những công tác
trọng tâm của trung tâm GDTX, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục.
Nhân cách tổng quát của con người Việt Nam được chính thức hóa trong
Nghị quyết TW2 Đại hội Đảng toàn quốc khóa VIII năm 1996 như sau: "Xây
dựng những con người và thế hệ trẻ thiết tha với lí tưởng độc lập dân tộc và
trường xã hội, biết khai thác triệt để những mặt tiến bộ mà yếu tố môi trường
xã hội mang lại cho con người. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh cũng
vậy, nó luôn chịu sự tác động của các yếu tố gia đình, nhà trường và xã hội.
Học sinh là một thực thể của xã hội loài người, là nhân tố thích ứng
năng động đối với mọi biến đổi của môi trường xã hội cho nên tác động của
môi trường xã hội đối với học sinh cũng rất nhanh nhạy. Hiện nay, học sinh
về học tại các Trung tâm như: Trung tâm Thành phố Thanh Hóa, Thị xã Bỉm
Sơn, Thị xã Sầm Sơn thì một số em có gia đình sống ở thành phố, thị xã hoặc
các vùng lân cận về sống với gia đình, còn lại đa số học sinh ở trọ trong nhà
dân để sinh hoạt, học tập. Mặt khác với các phương tiện hiện đại ngày càng
phát triển thì quan hệ giữa học sinh và môi trường xã hội bên ngoài là rất dễ
dàng, các em cập nhật thông tin hàng ngày, giao lưu bạn bè thông qua internet
ngày càng nhiều. Bên cạnh những ưu điểm mà các em thu nhận được là kiến
thức xã hội được nâng lên thì mặt trái của nó là các tiêu cực xã hội tấn công
vào học sinh không phải là ít. Vì vậy, giáo dục đạo đức cho học sinh
TTGDTX thông qua mối quan hệ với gia đình, nhà trường, xã hội là một vấn
đề khá phức tạp.
Để làm tốt vấn đề này đòi hỏi phải có sự đầu tư công sức, sự quan tâm
thường xuyên của các cấp lãnh đạo, sự phối hợp nhịp nhàng giữa Trung tâm,
gia đình của học sinh, chính quyền địa phương nơi Trung tâm đóng và nơi cư
23
trú của học sinh ngoại trú, các tổ chức đoàn thể, các gia đình chủ trọ... và đặc
biệt là ý thức tự giác trong học tập và rèn luyện của bản thân mỗi một người
học sinh. Xây dựng một môi trường giáo dục thống nhất, những người quản
lý Trung tâm và giáo viên phải phối hợp hoạt động với những thành viên
trong gia đình học sinh, các tổ chức đoàn thể chính trị và xã hội ở địa phương
để tác động và thống nhất theo mục tiêu giáo dục, đào tạo.
rất quan trọng. Các em lấy đó làm tấm gương để học tập, để nâng niu, để gìn
giữ và để là động lực phấn đấu. Vì vậy mỗi người thầy không ngừng trau dồi
bồi dưỡng kiến thức bắt kịp với thời đại mà còn là tấm gương sáng cho các
em học tập noi theo.
Tiểu kết chương 1
Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở các Trung tâm GDTX hiện
nay rất phức tạp, nhiều vấn đề đòi hỏi bộ phận quản lý học viên phải đổi mới
cả về hình thức, nội dung, phương pháp quản lý. Chương 1 là một số nét cơ
bản có ý nghĩa như là những vấn đề mang tính lý luận về công tác giáo dục
đạo đức cho học sinh TTGDTX. Nó giúp chúng ta nhìn nhận một cách tổng
quan về các nhân tố có trong quá trình quản lý giáo dục học viên hệ vừa học
vừa làm (VLVH). Xác định được vị trí, vai trò của từng đối tượng để đề ra
chủ trương, biện pháp phù hợp nhằm thu được kết quả giáo dục tốt nhất đáp
ứng được yêu cầu của mục tiêu giáo dục- đào tạo (GD-ĐT) mà Đảng và Nhà
nước đặt ra.
Mọi vấn đề nêu trên trực tiếp hay gián tiếp có liên quan và phụ thuộc ở
một mức độ rất lớn vào công tác hoạt động quản lý giáo dục đạo đức trong
các TTGDTX. Để thực hiện mục tiêu giáo dục ngày càng cao đòi hỏi mỗi nhà
trường phải áp dụng được các phương pháp giảng dạy giáo dục đạo đức có
25
hiệu quả. Bên cạnh đó để đáp ứng được phải có người quản lý tốt biết dựa vào
thực tiễn, điều tra khảo sát và phối hợp với các cơ quan chức năng để nắm bắt
tình hình giáo dục đạo đức cho học sinh ở các TTGDTX.