1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để phát triển GD&ĐT thì nhân tố đóng vai trò vô cùng quan trọng đó
là nhân tố con người. Đội ngũ nhà giáo và CBQL là lực lượng nòng cốt trực
tiếp đề ra và thực hiện các mục tiêu giáo dục, là nhân tố quyết định chất lượng
giáo dục. Chính vì vậy chiến lược xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL có
tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa quyết định sự thành công của sự nghiệp
GD&ĐT.
Chỉ thị số 40-CT/TW đã định hướng: “ Phải tăng cường xây dựng đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện” với “ Mục tiêu
là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu. Đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị,
phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề nhà giáo ...’’[8].
Nghị quyết hội nghị TW lần thứ II khóa VIII đã chỉ rõ một trong những
giải pháp chủ yếu đó là: “ Đổi mới cơ chế quản lý, bồi dưỡng cán bộ, sắp xếp
chấn chỉnh và nâng cao năng lực của bộ máy quản lý...” cùng với việc “ Quy
định lại chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý giáo dục và đào tạo
theo hướng tập trung làm tốt chức năng quản lý Nhà nước ” [10]. Xây dựng
đội ngũ nhà giáo và CBQL được chuẩn hóa, đảm bảo về số lượng, đồng bộ về
cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống,
lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng ngày
càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước ”[36].
Hội nghị TW 9 khóa X cũng đã kết luận: “ Phải thường xuyên quán
triệt coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng ” [2].
2
Tuy nhiên đội ngũ CBQL giáo dục huyện Quỳnh Lưu còn tồn tại những
bất cập:
+ Công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, năng lực quản lý
của đội ngũ CBQL còn bất cập. Chỉ đạo, quản lý công tác đổi mới phương
pháp dạy và học còn chung chung, phụ thuộc nhiều ở cấp trên (Phòng, Sở).
Chưa thực sự mạnh dạn sáng tạo, tìm tòi hướng đi phù hợp với đặc điểm tình
hình ở đơn vị.
+ Chất lượng giáo dục toàn diện của học sinh chưa cao, công tác rèn
luyện kỹ năng sống ở học sinh còn nhiều bất cập.
+ Công tác xây dựng cơ sở vật, trang thiết bị, thực hành thí nghiệm
phục vụ cho dạy và học đã được quan tâm nhưng đạt hiệu quả chưa cao.
+ Công tác đánh giá đội ngũ CBQL, giáo viên còn nhiều bất cập.
Bên cạnh những thành tích đạt được trong công tác quản lý còn những
hạn chế bất cập nhất định cần phải được phân tích, nhìn nhận, đánh giá thực
trạng. Qua đó tìm giải pháp quản lý giáo dục phù hợp, đạt hiệu quả cao, nhằm
phát triển bền vững sự nghiệp giáo dục địa phương.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT huyện Quỳnh lưu,
tỉnh Nghệ An” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT huyện Quỳnh lưu,
tỉnh Nghệ An.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT.
4
+ Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động.
+ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu thu được
7. Đóng góp của luận văn
7.1. Về mặt lý luận
Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng
đội ngũ nói chung, nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường THPT nói
riêng.
7.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn đã khảo sát toàn diện thực trạng chất lượng đội ngũ CBQL
trường THPT huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất một số giải
pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi để nâng cao chất lượng đội ngũ này.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham
khảo thì cấu trúc luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ quản lý trường THPT.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ quản lý trường THPT huyện Quỳnh lưu, tỉnh Nghệ An.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý trường THPT huyện Quỳnh lưu, tỉnh Nghệ An.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG THPT
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
nhiều hơn, năng suất cao hơn trong lao động, đòi ấy là hoạt động giúp người
thủ trưởng phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng
đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra…
Nói đến hoạt động này, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của
C. Mác: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần
nhạc trưởng”. Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản
chất hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai quá trình tích hợp vào
nhau: Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn
định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế
“phát triển”.
Các tư tưởng quản lý sơ khai xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy
Lạp và cổ Trung Hoa. Sự đóng góp của các nhà triết học cổ Hy Lạp tuy
còn ít ỏi nhưng đáng ghi nhận: Đó là các tư tưởng của Xôcrát (469-399
Tr. CN), Platôn (427-347 Tr.CN) và Arixtôt (384-322 Tr.CN). Thời Trung
Hoa cổ đại đã công nhận các chức năng quản lý đó là: Kế hoạch hóa, tổ
chức, tác động, kiểm tra. Các nhà hiền triết của Trung Hoa trước công
nguyên đã có những đóng góp lớn về tư tưởng quản lý quan trọng về tư
tưở ng quản lý vĩ mô, quản lý toàn xã hội. Các nhà tư tưởng và chính trị
lớn đó là Khổng Tử (551- 478 Tr.CN), Mạnh Tử (372-289 Tr.CN), Thương
Ưởng (30-338 Tr.CN) đã nêu lên tư tưởng quản lý “Đức trị, Lễ trị” lấy chữ
tín làm đầu. Những tư tưởng quản lý trên vẫn có ảnh hưởng khá sâu sắc
đến nước phương đông ngày nay.
8
Ở Việt Nam, khoa học quản lý tuy còn non trẻ, song nó đã có
những thành tựu đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội trong
những điều kiện cụ thể tương ứng với tình hình phát triển kinh tế xã hội của
đất nước. Trong lĩnh vực quản lý giáo dục ở Việt Nam những năm qua đã
là nhóm chính trị quốc gia. Ở nước ta, nhóm lãnh đạo chính trị ở tầm quốc gia
này gọi là lãnh đạo cấp cao, chủ chốt [35].
Khái niệm CBQL và cán bộ lãnh đạo là hai khái niệm gắn liền với
nhau, đều được hiểu là những người có chức vụ, có trách nhiệm điều hành và
cầm đầu trong một tổ chức. Người cán bộ lãnh đạo phải thực hiện chức năng
lãnh đạo, đồng thời phải thực hiện chức năng quản lý. Tuy nhiên hai khái
niệm trên không đồng nhất với nhau.
+ Quản lý bao gồm việc tổ chức các nguồn lực, việc lên kế hoạch hóa,
việc tạo ra các hoạt động để đạt mục tiêu phát triển.
+ Lãnh đạo ngoài việc tổ chức các hoạt động còn là việc làm thế nào để
tập hợp lực lượng tiến hành hoạt động có hiệu quả [25].
Như vậy, trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hướng
cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách.
Hoạt động quản lý mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế
có tính pháp lệnh được quy định từ trước.
Trong nhà trường, người Hiệu trưởng vừa với tư cách là người lãnh
đạo, vừa với tư cách là người quản lý phải biết suy nghĩ về những nhu cầu cần
thiết trong quá trình xây dựng chương trình phát triển của nhà trường. Bất cứ
lúc nào cũng phải nghĩ đến việc tôn trọng quyền lợi của học sinh, quan tâm
đến nhu cầu phát triển của giáo viên.
12
1.2.1.2. Cán bộ quản lý trường THPT
CBQL trường THPT là người đại diện cho Nhà nước về mặt pháp lý,
có trách nhiệm và thẩm quyền về mặt hành chính và chuyên môn, chịu trách
nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên về tổ chức và các hoạt động giáo dục
của nhà trường THPT; có vai trò ra quyết định quản lý, tác động điều khiển
các thành tố trong các hệ thống nhà trường THPT nhằm thực hiện mục tiêu
khi nhà trường có được đội ngũ CBQL đủ đức, đủ tài đảm bảo yêu cầu
của công tác quản lý trường học trong giai đoạn mới. Do vậy công tác xây
dựng đội ngũ CBQL trường THPT, đặc biệt là CBQL trường THPT công
lập cần quán triệt sâu các tiêu chuẩn cán bộ của thời kỳ CNH - HĐH, cụ
thể như sau:
+ Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tuỵ phục vụ nhân dân.
+ Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, phấn
đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật
của Nhà nước.
+ Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.
+ Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng.
+ Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết
với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.
+ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối
của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
+ Có trình độ văn hoá, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm
việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Các tiêu chuẩn trên có quan hệ mật thiết với nhau. Coi trọng cả đức lẫn
tài, đức là gốc.
15
1.2.3. Chất lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường
THPT
1.2.3.1. Chất lượng
Theo quan điểm của triết học, chất lượng là những thuộc tính bản chất
của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự phân biệt nó đối
với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng
biểu hiện ra bên ngoài thuộc tính. Nó là cái liên kết cái thuộc tính của sự vật
+ Chất lượng là sự xuất sắc (quality as excellence)
+ Chất lượng là sự hoàn hảo (quality as pefection)
+ Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (quality as fitness for purpose)
+ Chất lượng là sự thay đổi về chất (quality as transformation) …
1.2.3.2. Chất lượng đội ngũ CBQL trường THPT
Có nhiều quan điểm về chất lượng trong đó có 6 quan điểm về đánh giá
chất lượng có thể vận dụng vào nhận diện chất lượng như “Chất lượng được
đánh giá bằng đầu vào, chất lượng được đánh giá bằng đầu ra, chất lượng
được đánh giá bằng giá trị gia tăng, chất lượng được đánh giá bằng giá trị
nghệ thuật, chất lượng được đánh giá bằng giá trị học thuật, chất lượng được
đánh giá bằng văn hóa tổ chức riêng và chất lượng đánh giá bằng kiểm toán”.
Ngoài những quan điểm về đánh giá chất lượng nêu trên còn có các
quan điểm về chất lượng.
+ Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn quy định.
+ Chất lượng là sự phù hợp với mục đích.
+ Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích.
17
+ Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Qua những quan điểm, cách tiếp cận và những quan điểm đánh giá chất
lượng nêu trên, có thể nhận diện chất lượng cán bộ ở hai mặt chủ yếu là phẩm
chất và năng lực của họ trong việc thực hiện các quy định về chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của họ qua các biểu hiện chủ yếu dưới đây.
i)Về phẩm chất
+ Phẩm chất được thể hiện ở các mặt như phẩm chất tâm lý, phẩm chất
trí tuệ, phẩm chất ý chí và phẩm chất sức khỏe thể chất và tâm lý. Phẩm chất
tâm lý là những đặc điểm thuộc tính tâm lý nói lên mặt nhân cách.
Nó bao hàm cả đặc điểm tích cực lẫn tiêu cực theo đạo lý và có thể chia
chất và năng lực cần có để có thể đạt tới mục tiêu của lĩnh vực hoạt động đó
đạt kết quả cao.
1.2.4. Giải pháp và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý trường THPT
1.2.4.1. Giải pháp
Theo từ điển Tiếng Việt “Giải pháp được xem là phương pháp giải
quyết một vấn đề cụ thể, một công việc”[tr 387]. Theo tác giả Nguyễn Văn
Đạm: “Giải pháp là toàn bộ những ý nghĩa có hệ thống cùng với những quyết
định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục một khó khăn” [tr 325].
Để hiểu rõ khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt với một số khái
niệm tương tự như: Phương pháp, biện pháp. Điểm giống nhau của các khái
niệm này đều nói về cách làm,cách tiến hành, cách giải quyết một công viêc,
một vấn đề. Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến
cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi phương pháp nhấn mạnh đến trình
tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mục đích.
19
Theo Nguyễn Văn Đạm, “Phương pháp được hiểu là trình tự cần theo
trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một công việc có mục đích
nhất định” [; tr.325].
Còn theo Hoàng Phê, “ Phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để
tiến hành một công việc nào đó” [; tr.30].
Về khái niệm biện pháp, theo từ điển Tiếng Việt, đó là “cách làm, cách
giải quyết một vấn đề cụ thể” [; tr.64].
Như vậy khái niệm phương pháp tuy có những điểm chung với các khái
niệm trên nhưng nó cũng có những điểm riêng. Điểm riêng cơ bản của thuật
ngữ này nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục
khó khăn nhất định. Trong một giải pháp có thể có nhiều biện pháp.
mối quan hệ giữa: Nhà trường - Gia đình -Xã hội. Để đảm đương được vai trò
này CBQL trường THPT cần phải có phẩm chất và năng lực ứng xử, giao tiếp
trong công tác đối ngoại để vận động cộng đồng xã hội tham gia xây dựng và
quản lý trường THPT.
1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của người cán bộ quản lý trường THPT
Chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ CBQL trường THPT nói một cách
tổng quát là quản lý các mặt hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và quyền
hạn của trường THPT đã quy định trong luật Giáo dục và Điều lệ trường
THPT.
1.3.2.1. Chức năng, nhiệm vụ của Hiệu trưởng
Chức năng của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông.
+ Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
+ Thực hiện các Nghị Quyết, Quyết nghị của Hội đồng trường;
+ Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
21
+ Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công
tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen
thưởng, kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước;
quản lý hồ sơ tuyển dụng giáo viên, nhân viên.
+ Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ
chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký nhận học bạ, xét kỷ
luật học sinh theo quy định của Bộ GD&ĐT.
+ Quản lý tài chính, tài sản cơ sở vất của nhà trường.
+ Thực hiện chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân
viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động thực hiện
công tác xã hội hóa của nhà trường; các quy chế hoạt giáo dục của nhà
trường.
+ Thay mặt Hiệu trưởng điều hành hoạt động của nhà trường khi được
ủy quyền.
+ Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định hiện hành.
Như vậy cán bộ quản lý trường học là người đại diện cho Nhà nước về
mặt pháp lý, có trách nhiệm và thẩm quyền về mặt hành chính và chuyên
môn, chịu trách nhiệm trước các cơ quan quản lý cấp trên ra các quyết định
quản lý, tác động điều khiển các thành tố trong hệ thống nhà trường nhằm
thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ GD&ĐT được quy định bằng luật pháp hoặc
văn bản, thông tin hướng dẫn do các cấp có thẩm quyền ban hành.
Như vậy “CBQL trường học là người đại diện cho nhà nước về mặt
pháp lý, có trách nhiệm và thẩm quyền về mặt hành chính và chuyên môn,
chịu trách nhiệm trước các cơ quản quản lý cấp trên ra các quyết định quản lý,
23
tác động điều khiển các thành tố trong hệ thống nhà trường nhằm thực hiện,
nhiệm vụ GD&ĐT được quy định bằng luật pháp hoặc bằng văn bản, thông
tin hướng dẫn do các cấp có thẩm quyền ban hành”.
Để đạt được mục tiêu quản lý nhà trường, đội ngũ CBQL và đội ngũ
giáo viên phải là một tập thể, mà chất lượng là hiệu quả giáo dục chung được
quyết định bởi chất lượng từng thành viên, số lượng, cơ cấu và chất lượng đội
ngũ.
1.3.3. Yêu cầu về phẩm chất, năng lực đối với người cán bộ quản lý
trường THPT
Đội ngũ CBQL các trường THPT muốn thực hiệu có các nhiệm vụ,
quyền hạn của trường THPT và nhiệm vụ quyền hạn của mình thì phải có
được hai mặt phẩm chất và năng lực. Hai mặt này luôn luôn được thể hiện
mục tiêu quản lý. Đây là hai mặt cơ bản về yêu cầu nhân cách của một người
+ Biết phối kết hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường làm tốt
công tác xã hội hóa giáo dục.
- Những yêu cầu chung về chất lượng đội ngũ.
+ Số lượng:
Đủ theo quy định đối với từng loại trường THPT theo quy định.
+ Cơ cấu: Cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý được xem xét nhiều mặt.
Trong đề tài chúng tôi tập trung vào các mặt chủ yếu sau:
+ Độ tuổi và thâm niên công tác: Hài hòa về độ tuổi và thâm niên nhằm
phát huy được sức trẻ và vận dụng được kinh nghiệm trong quá trình công
tác. Cụ thể: Bổ nhiệm lần đầu với chức danh hiệu trưởng ít nhất trọn một
nhiệm kỳ; Phó hiệu trưởng nam giới không quá 50 tuổi, nữ giới không quá 45
tuổi.
25
+ Giới tính: Cân đối giữa nam và nữ, chú ý bồi dưỡng và bổ nhiệm cán
bộ nữ trong quản lý để phù hợp với đặc điểm của ngành giáo dục, tỷ lệ cán bộ
nữ phải đạt trên 30%.
+ Chuyên môn được đào tạo: Có cơ cấu hợp lý về chuyên ngành,
chuyên môn cơ bản được đào tạo (tự nhiên và xã hội); đồng thời đảm bảo
chuẩn hóa và trên chuẩn về chuyên môn đào tạo. Cụ thể phải có trình độ Đại
học sư phạm trở lên và có thâm niên giảng dạy ít nhất 5 năm.
+ Chất lượng đội ngũ: Chất lượng được xem xét ở hai mặt: Phẩm chất
và năng lực chung, có nghĩa phẩm chất và năng lực của đội ngũ được tích hợp
từ phẩm chất và năng lực của từng cá thể: “Chất lượng của đội ngũ cán bộ là
sự tổng hợp chất lượng của từng cán bộ. Mỗi cán bộ mạnh, có đủ đức, đủ tài
sẽ tạo nên chất lượng và sức mạnh tổng hợp của toàn đội ngũ”.
Như vậy, để đánh giá được chất lượng chung của đội ngũ CBQL trường
THPT cần tập trung xem xét các chỉ số biểu đạt các mặt chung đồng thời xem