BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TÔN THẤT TÍN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THỰC TẬP
NGÀNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT CƠ KHÍ
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THỦ
ĐỨC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục.
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Mỹ
Trinh
Nghệ An, Tháng 8 năm 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn và giúp đỡ quý báu từ quý Thầy Cô và anh chị. Với tình
cảm chân thành nhất, tôi trân trọng gửi lời cám ơn đến:
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Quản lý giáo dục,
quý Thầy Cô Trường Đại học Vinh cùng Ban Giám hiệu, Phòng Tổ chức cán
bộ Trường Đại học Sài Gòn đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu.
Phó giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Thị Mỹ Trinh đã tận tâm giúp đỡ, bồi
dưỡng kiến thức, phương pháp nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................... 6
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài ..........................................12
1.3 Một số vấn đề về hoạt động thực tập ngành Công nghệ kỹ
thuật cơ khí ở trường cao đẳng ............................................ 18
1.4 Một số vấn đề về quản lý hoạt động thực tập ngành Công
nghệ kỹ thuật cơ khí ở trường cao đẳng .............................. 24
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động thực
tập ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí ở trường cao đẳng . . . 29
Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động thực tập ngành Công nghệ
kỹ thuật cơ khí ở trường Cao Đẳng Công nghệ Thủ Đức ................. 33
2.1 Giới thiệu về Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức .......... 33
2.2 Thực trạng hoạt động thực tập ngành Công nghệ kỹ thuật cơ
khí tại Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức ................... 36
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động thực tập ngành Công nghệ kỹ
thuật cơ khí tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức ....... 51
2.4 Thực trạng các biện pháp đã sử dụng để nâng cao hiệu quả
quản lý hoạt động thực tập ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí
ở trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức .............................. 56
2.5 Đánh giá chung về thực trạng .............................................. 59
Chương 3. Một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động
thực tập ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí tại Trường Cao đẳng Công
nghệ Thủ Đức .................................................................................... 62
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp ........................................ 62
3.2 Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động thực tập
ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí ....................................... 63
3.3 Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề
xuất ..................................................................................... 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................... 91
học sinh sinh viên
KHKT
khoa học kỹ thuật
LĐTBXH
Lao động - Thương binh và Xã hội
NXB
nhà xuất bản
QLGD
Quản lý giáo dục
SX
sản xuất
TCCN
trung cấp chuyên nghiệp
TNHH
trách nhiệm hữu hạn
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
1.1.
Lý do về mặt lý luận:
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu một trong những nhiệm vụ
chủ yếu để phát triển đất nước trong giai đoạn 2011 - 2015 là: "Phát triển, nâng
cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa
học, công nghệ và kinh tế tri thức". Một bộ phận rất lớn của nguồn nhân lực là
những kỹ thuật viên được đào tạo từ các trường CĐ, TCCN.
Trong Hội nghị Hội nghị khu vực về đào tạo nghề tại Việt Nam đã diễn
ra trong 2 ngày 10, 11/10/2012 tại Thủ đô Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Lao động
Thương binh Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền khẳng định: “Để hướng tới đáp ứng
nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế của một nước công nghiệp vào
năm 2020, Chính phủ Việt Nam đã quyết định đổi mới toàn diện hệ thống dạy
nghề, nội dung, chương trình và các điều kiện đảm bảo chất lượng nhằm tạo ra
sự đột phá về chất lượng dạy nghề”.
Trong chương trình đào tạo trình độ CĐ, TCCN hệ thống các môn thực
tập sẽ trang bị cho SV, HS những kỹ năng nghề nghiệp từ cơ bản đến chuyên
sâu, hình thành thái độ lao động nghiêm túc, tác phong công nghiệp và lòng đam
mê nghề nghiệp. Đây là những phẩm chất và năng lực quan trọng của một kỹ
thuật viên trình độ CĐ, TCCN.
1.2.
Lý do về mặt thực tiễn:
Nhằm đào tạo những kỹ thuật viên “có năng lực và đạo đức tốt, yêu
nghề, sáng tạo, biết tự khẳng định giá trị, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc,
nâng cao chất lượng hoạt động thực tập ngành công nghệ kỹ thuật cơ khí tại
Trường CĐ Công nghệ Thủ Đức, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
của nhà trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1.
Khách thể nghiên cứu:
Quản lý hoạt động thực tập ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí tại trường
CĐ.
3.2.
Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động thực tập ngành
Công nghệ kỹ thuật cơ khí tại Trường CĐ Công nghệ Thủ Đức.
4. Giả thuyết khoa học:
Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ một số biện pháp quản lý hoạt động
thực tập ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí của trường CĐ công nghệ Thủ Đức
thì có thể nâng cao chất lượng hoạt động này của nhà trường.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thực tập ngành công nghệ
kỹ thuật cơ khí của trường CĐ.
Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động thực tập ngành công nghệ kỹ
thuật cơ khí của trường CĐ công nghệ Thủ Đức.
Đề xuất và thăm dò tính cần thiết khả thi của các biện pháp quản lý nâng
cao chất lượng hoạt động thực tập ngành công nghệ kỹ thuật cơ khí tại trường
CĐ Công nghệ Thủ Đức.
8. Đóng góp của luận văn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ:
- Góp phần tổng quan, hệ thống hóa lý thuyết, xây dựng các cơ sở khoa
học về quản lý hoạt động thực tập ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí ở trường
CĐ.
- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động thực tập ngành Công nghệ kỹ
thuật cơ khí ở trường CĐ Công nghệ Thủ Đức.
- Xây dựng các biện pháp quản lý cần thiết và khả thi để nâng cao chất
lượng hoạt động thực tập ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí ở trường CĐ Công
nghệ Thủ Đức.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.
Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã nêu một thực trạng của giáo
dục Việt Nam hiện nay là “Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển số
lượng với yêu cầu nâng cao chất lượng; năng lực nghề nghiệp của học sinh, SV
tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc”. Xu hướng tất yếu trong
đào tạo ĐH trên thế giới và cũng là một chủ trương lớn được Bộ GD-ĐT đặc
biệt chú ý trong thời gian gần đây là “Đào tạo theo nhu cầu xã hội” có nghĩa là
phải đào tạo ra con người lao động đáp ứng những gì mà xã hội cần, chứ không
phải đào tạo những gì mà nhà trường có hoặc đào tạo theo chủ quan của nhà
trường.
Luật Giáo dục ĐH đã nêu mục tiêu chung của hệ thống giáo dục này là
việc kết hợp giữa trường và doanh nghiệp SX. Điển hình là mô hình Dual System
thường được dịch là “đào tạo kép”. Mô hình này có nhiều ưu điểm nổi trội trong
việc nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề nên được nhiều nước trên thế giới
nghiên cứu áp dụng, tuy nhiên cũng tồn tại một số nhược điểm và đang được các
nhà giáo dục CHLB Đức nghiên cứu khắc phục. [7]
Tại một số nước ở châu Mỹ như Hoa Kỳ, Canada phương pháp DACUM
(Develop A Curriculum) được áp dụng để xây dựng, phát triển các chương trình
dạy nghề dựa trên việc mô tả và phân tích công việc. Với việc áp dụng phương
pháp này, các trường học có thể trả lời chính xác câu hỏi nên dạy những gì cho
người học để đáp ứng được nhu cầu của xã hội (hay người sử dụng lao động sau
này). [7]
Ở Việt Nam, Quyết định số 212/2003/QĐ-BLĐTBXH ngày 27/02/2003
của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH đã yêu cầu áp dụng DACUM vào phát triển các
chương trình dạy nghề. DACUM cũng đã được áp dụng tại nhiều trường như
Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, Trường ĐH An Giang, Trường
ĐH Trà Vinh, Trường ĐH Tiền Giang, Trường CĐ Công nghệ Thủ Đức,
Trường CĐ Kỹ thuật Lý Tự Trọng, Trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm,
Trường Trung học Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nguyễn Hữu Cảnh ... Đặc biệt, Dự án
ĐH cộng đồng Việt Nam Canada (thực hiện bởi Trường ĐH Trà Vinh và Viện
khoa học và công nghệ ứng dụng Saskatchewan) và Dự án Tăng cường các
trung tâm đào tạo nghề (thực hiện bởi Bộ LĐTBXH và Tổ chức Hợp tác Kỹ
thuật Thuỵ Sĩ). [5]
Tại Trung Quốc, quan điểm “ba kết hợp” nhằm kết hợp đào tạo với SX,
dịch vụ và chấp nhận yếu tố thị trường trong đào tạo nghề được quán triệt đến
các cơ sở đào tạo nhằm làm phong phú, đa dạng công tác đào tạo kỹ năng góp
phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng đào tạo. [7]
Chính phủ Hàn Quốc chia các trường đào tạo về kỹ thuật thành bốn
nhóm trên cơ sở ưu tiên cho việc đáp ứng nhu cầu thợ lành nghề được chuyên
dựng Hà Nội với các đơn vị sản xuất”. Trong đề tài này, tác giả đã phân tích mô
hình đào tạo kép ở CHLB Đức, mô hình đào tạo “luân phiên” (Alternation) ở
Pháp và đưa ra một số giải pháp về kết hợp đào tạo giữa trường Trung học Kỹ
thuật xây dựng Hà Nội với các đơn vị SX để nâng cao chất lượng đào tạo kỹ
năng nghề nhiệp. Tuy nhiên, đề tài chưa phân tích các vấn đề như: các cơ sở
khoa học của đào tạo nghề, chưa nêu được mô hình mà các nước châu Á như:
Trung Quốc, Thái Lan, ... đã áp dụng mà chỉ tập trung vào mô hình đào tạo luân
phiên của Viện đào tạo luân phiên về xây dựng và các công trình công cộng
(IFABTP) ở Cộng hòa Pháp. Giải pháp đề ra chủ yếu tập trung vào “quan hệ
giữa nhà trường và đơn vị sản xuất”. [21]
Nghiên cứu khác có liên quan là luận án tiến sĩ “Những giải pháp phát
triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Phan Chính Thức. Công trình này đề cập
đến hệ thống đào tạo nghề trên góc độ hệ thống cung ứng nhân lực lao động qua
đào tạo nghề cho nề kinh tế và đi sâu vào nghiên cứu thực trạng và các vấn đề
của hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam. Công trình cũng đã đề xuất một số giải
pháp nhằm phát triển hệ thống dạy nghề đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. [19]
Đề tài nghiên cứu khoa học “Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao
động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng” đã nêu lên kinh
nghiệm trên thế giới về gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề,
cách giải quyết các mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp, trong đó có
quan hệ về “liên kết đào tạo”. Đề tài đề xuất một số mô hình tổ chức đào tạo
nghề cơ bản, và một số giải pháp để gắn kết đào tạo và sử dụng lao động. [13]
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Xây dựng mô hình liên kết dạy nghề
giữa nhà trường và doanh nghiệp” do Trường Kỹ thuật công nghệ (Tổng Cục
dạy nghề) - Bộ LĐTBXH thực hiện năm 2004. Đề tài đã nêu rõ lý do và sự cần
thiết phải xây dựng mô hình liên kết dạy nghề giữa nhà trường và doanh nghiệp
đó. Vì vậy, nghiên cứu đề tài này không chỉ góp phần giải quyết các vấn đề
vướng mắc trong hoạt động đào tạo nhân lực của Trường CĐ Công nghệ Thủ
Đức mà còn góp một tiếng nói chung trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở
Việt Nam hiện nay.
1.2.
Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Chương trình đào tạo
Wentling (1993) cho rằng: “Chương trình đào tạo là một bản thiết kế
tổng thể cho một hoạt động đào tạo (đó có thể là một khóa học kéo dài vài giờ,
một ngày, một tuần hoặc vài năm). Bản thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội
dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì có thể trông đợi ở người học sau khóa học,
nó phác họa ra qui trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho
biết các phương pháp đào tạo và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học
tập, và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ”. Về
cấu trúc, Tyler (1949) cho rằng chương trình đào tạo phải bao gồm 4 thành tố cơ
bản của nó, đó là: 1. mục tiêu đào tạo; 2. nội dung đào tạo; 3. phương pháp và
qui trình đào tạo và 4. cách đánh giá kết quả đào tạo.
Như vậy chương trình đào tạo là bản kế hoạch thể hiện tổng thể các hoạt
động của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các
hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo.
Theo Luật Giáo dục 2005, “Chương trình giáo dục ĐH thể hiện mục tiêu
giáo dục ĐH; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung
giáo dục ĐH, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào
tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục ĐH; bảo đảm
yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác. Trên cơ sở thẩm định
của Hội đồng quốc gia thẩm định ngành về chương trình giáo dục ĐH, Bộ
thường thuộc chuyên ngành được đào tạo”. Tiếp theo đó, Luật Giáo dục ĐH lại
nêu mục tiêu đào tạo CĐ là “SV có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực
hành thành thạo, hiểu biết được tác động của các nguyên lý, quy luật tự nhiên xã hội trong thực tiễn và có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường
thuộc ngành được đào tạo”.
Qua hai mục tiêu đã nêu, ta nhận thấy Bộ GD-ĐT đã rất quan tâm đến
việc nâng cao kỹ năng thực hành của SV tốt nghiệp trình độ CĐ cũng như năng
lực lao động nghề nghiệp của họ.
Như vậy có thể nói rằng, thực tập là môn học chuyên ngành trong
chương trình đào tạo CĐ. Các môn học thực tập nhằm hình thành trong người
học “kỹ năng thực hành thành thạo” đáp ứng chuẩn kỹ năng nghề nghiệp và góp
một phần tạo “khả năng giải quyết vấn đề thông thường thuộc ngành được đào
tạo” để phục vụ cho cuộc sống lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Bên
cạnh đó, thực tập còn là một khâu quan trọng trong quá trình học, giúp SV củng
cố các kiến thức lý thuyết đã học, rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực
tiễn.
b. Hoạt động thực tập
Hoạt động thực tập là tập hợp những quá trình đào tạo nhằm triển khai
hoạt động giáo dục, các môn học thực tập trong chương trình đào tạo. Nó là một
phần của chương trình đào tạo.
Theo Từ điển Giáo dục học, quá trình đào tạo là những hoạt động truyền
thụ kiến thức, huấn luyện kỹ năng, giáo dục thái độ nhằm giúp người học chiếm
lĩnh được một năng lực nghề nghiệp hoặc một năng lực liên quan đến những mặt
khác của cuộc sống.
Như vậy, hoạt động thực tập là tập hợp những hoạt động truyền thụ kiến
thức, huấn luyện kỹ năng, giáo dục thái độ theo nội dung, phương pháp đã được
quy định nhằm giúp người học chiếm lĩnh được năng lực nghề nghiệp đạt mục
tiêu của chương trình đào tạo. Cần nhấn mạnh rằng, hoạt động thực tập là tập
hợp quá trình đào tạo của nhiều môn học trong suốt quá trình thực hiện chương
a. Biện pháp
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, biện pháp là cách làm, cách giải
quyết một vấn đề cụ thể. Như vậy, nói đến biện pháp là nói đến những cách thức
tác động nhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái
nhất định theo chủ đích của nhà quản lý.
Trong phạm vi luận văn, biện pháp là những hoạt động nhằm tác động có
định hướng, có chủ đích đến một đối tượng hay một vấn đề nhằm thay đổi phẩm
chất, chất lượng của đối tượng hay vấn đề. Mỗi biện pháp đều có ưu điểm riêng,
phù hợp với đối tượng hay vấn đề.
b. Biện pháp quản lý hoạt động thực tập
Biện pháp quản lý hoạt động thực tập là những cách tác động của chủ thể
quản lý (lãnh đạo nhà trường, lãnh đạo khoa) có định hướng, có chủ đích đến
hoạt động thực tập nhằm đạt mục tiêu đã đề ra của hoạt động, đồng thời nâng
cao chất lượng đào tạo kỹ năng nghề nghiệp người học và có chú ý nâng cao
năng lực chuyên môn nghề nghiệp và sư phạm của GV.
Khi đề xuất các biện pháp quản lý cần lưu ý các nguyên tắc đảm bảo tính
mục tiêu, tính khoa học, tính hiệu quả và tính khả thi đồng thời đảm bảo sự đồng
bộ và tương thích giữa các nguyên tắc.
Các biện pháp này phải được thực hiện theo quá trình quản lý với sự
tham gia tích cực của các thành viên trong tổ chức từ dự báo, lập kế hoạch, tổ
chức thực hiện, chỉ đạo, lãnh đạo cho đến giám sát, kiểm tra, đánh giá. Trong đó
các hoạt động trên phải đan xen nhau, tác động, bổ sung lẫn nhau để hoàn thiện
biện pháp đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo.
1.2.5. Chất lượng hoạt động thực tập
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, chất lượng là “cái tạo nên phẩm chất,
giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”.
Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo
đã đề ra trong chương trình đào tạo.
XÃ HỘI
KẾT QUẢ
ĐÀO TẠO
MỤC TIÊU
ĐÀO TẠO
Kết quả đào tạo khớp với mục tiêu đào
tạo đạt chất lượng trong.
Sơ đồ 1.1. Quan niệm về chất lượng
1.3.
Một số vấn đề về hoạt động thực tập ngành Công nghệ kỹ thuật cơ
khí ở trường CĐ
1.3.1. Ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí trình độ CĐ
Theo Luật Giáo dục 2005 và Luật Giáo dục ĐH, CĐ là một trình độ đào
tạo trong hệ thống giáo dục ĐH.
Theo Danh mục giáo dục đào tạo cấp IV - Trình độ CĐ, ĐH mà Bộ GDĐT đã ban hành theo thông tư số 14/2010/TT-BGDĐT ngày 27/4/2010, ngành
Công nghệ kỹ thuật cơ khí là một ngành thuộc lĩnh vực công nghệ có mã số
52010201.
Chương trình khung giáo dục ĐH trình độ CĐ ngành Công nghệ kỹ thuật
cơ khí đã nêu mục tiêu đào tạo là: “Chương trình đào tạo các kỹ thuật viên trình
độ CĐ ngành Công nghệ kỹ thuật cơ khí có hiểu biết về các nguyên lý cơ khí cơ
bản, có kỹ năng thực hành thao tác công nghệ để có thể đảm đương các công
việc thuộc lĩnh vực kỹ thuật cơ khí như: chế tạo lắp ráp, vận hành, bảo trì các
thiết bị công nghệ, tổ chức và quản lý từng công đoạn SX ...