Một số biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa - Pdf 31

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
––––––––––––––

LÊ THỊ ĐÀO

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP
TRẺ KHUYẾT TẬT Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.05
Người hướng dấn khoa học: PGS.TS Hà Văn Hùng

NGHỆ AN, 2013


2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
––––––––––––––

LÊ THỊ ĐÀO

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP
TRẺ KHUYẾT TẬT Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA



: Cơ sở vật chất

CTS

: Can thiệp sớm

CPTTT

: Chậm phát triển trí tuệ

DSGĐTE

: Dân số - Gia đình –Trẻ em

ĐDĐC

: Đồ dùng đồ chơi

GD

: Giáo dục

GDĐB

: Giáo dục đặc biệt

GDCB

: Giáo dục chuyên biệt


: Mầm non

QL

: Quản lý

QLGD

: Quản lý Giáo dục

PHCN

: Phục hồi chức năng

TKT

: Trẻ khuyết tật

UBDS,GĐ&TE

: Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em

XH

: Xã hội


5
MỤC LỤC

13
16
16
17
17
18
22
24
28

KHUYẾT TẬT TRONG TRƯỜNG MẦM NON Ở HUYỆN NHƯ THANH,
TỈNH THANH HÓA

2.1. Thực trạng giáo dục hoà nhập trẻ KT trong các trường mầm non 28
huyện Như Thanh
2.1.1. Vài nét về đặc điểm giáo dục mầm non ở huyện Như Thanh
28
2.1.2. Thực trạng giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật trong trường mầm non 29
huyện Như Thanh
2.2. Thực trạng công tác quản lý giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật ở 33
các trường mầm non huyện Như Thanh
2.2.1. Vài nét về khách thể điều tra
34
2.2.2. Thực trạng về các biện pháp quản lý giáo dục hoà nhập trẻ khuyết 37
tật của các trường MN dạy hoà nhập ở Như Thanh
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP TRẺ

63

KHUYẾT TẬT Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN NHƯ THANH

96
2. Kiến nghị
98
2.1. Với các Bộ, Ban ngành liên quan
99
2.2. Với Bộ Giáo dục và Đào tạo
99
2.3. Với Bộ Y tế
100
2.4. Với Bộ LĐTBXH và các tổ chức XH nhân đạo
100
2.5. Với chính quyền và các tổ chức xã hội ở huyện Như Thanh
100
2.6. Kiến nghị với cha mẹ học sinh trẻ khuyết tật, giáo viên dạy hoà 100
nhập trẻ khuyết tật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

102

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Chưa bao giờ người ta lại nói nhiều đến yếu tố con người và vai trò của giáo
dục như hiện nay. Người ta cũng cho rằng giáo dục là chiếc chìa khoá vàng tiến
vào tương lai, một nước nghèo cũng có thể phát triển được miễn là nó đầu tư đầy
đủ vào vốn con người. Mà đầu tư vào vốn con người tức là đầu tư vào văn hoá,
giáo dục. Ông Tony Blair, thủ tướng Anh khi được đề nghị nói ba từ quan trọng
nhất hiện nay thì ông đã trả lời: "Education, Education and Education" (Giáo dục,
giáo dục và giáo dục). Qua đó có thể thấy được vai trò vô cùng quan trọng của giáo
dục, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, với xu thế toàn cầu hoá, khi cuộc cách

phương đã huy động trên 83% trẻ khuyết tật ở độ tuổi lớp 1 học hoà nhập theo
chương trình và sách giáo khoa mới. Bên cạnh những thành công nhất định của
giáo dục hoà nhập, chúng ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn: Đó là số lượng
trẻ khuyết tật được đi học còn ở mức hạn chế, chất lượng giáo dục hoà nhập còn
chưa cao, chưa đáp ứng được mong muốn của trẻ và gia đình trẻ...Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó một nguyên nhân đó là việc quản lý giáo dục


8
hoà nhập còn nhiều bất cập, còn thiếu kinh nghiệm và mới về quy trình. Đặc biệt,
quản lý giáo dục hoà nhập trẻ KT là một chuyên ngành hẹp lại càng ít được chú ý,
quan tâm.
Vì những lý do trên mà vấn đề quản lý giáo dục hoà nhập trẻ KT trong các
trường mầm non cần phải được nghiên cứu để góp phần nâng cao chất lượng và
hiệu quả của giáo dục hoà nhập trẻ KT.
Huyện Như Thanh đã quan tâm đến công tác chăm sóc, giáo dục hoà nhập
trẻ khuyết tật. Theo thống kê của Phòng Lao động - Thương binh xã hội huyện
Như Thanh, ở Như Thanh hiện có 466 em bị tàn tật. Theo con số báo cáo của các
Phòng giáo dục - đào tạo các xã, thị trấn ở Huyện Như Thanh: Đến năm 2014-2015
đã phối hợp với Hội cứu trợ trẻ em tàn tật Thanh Hóa vận động trẻ khuyết tật còn
sức khoẻ ra lớp là 285 em (trong đó có 125 cháu ở độ tuổi mầm non). Hiện nay ở
Như Thanh có 17 trường thu hút 108 trẻ em khuyết tật học hoà nhập tại các nhóm,
lớp. Mặc dù, giáo dục hoà nhập trẻ KT ở Như Thanh đã đạt được một số kết quả
nhất định song đánh giá một cách khách quan còn nhiều vấn đề trong tổ chức thực
hiện, trong quản lý cần phải được bổ sung và hoàn thiện [17]. Vì vậy, chúng tôi
chọn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp quản lý giáo dục hoà nhập trẻ khuyết
tật ở các trường Mầm non huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa”
Với đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé vào việc xác định và
cải thiện các biện pháp quản lý tốt hơn trong GDHN trẻ KT ở các trường mầm non.
2. Mục đích nghiên cứu:

7.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học: Phân tích, xử lý số liệu điều
tra bằng các phương pháp thống kê toán học.
8. Đóng góp đề tài:
8.1. Hệ thống được cơ sở lý luận về quản lý GDHN trẻ khuyết tật ở các
trường Mầm non nói chung và huyện Như Thanh nói riêng.
8.2. Đánh giá được thực trạng quản lý giáo dục trẻ khuyết tật trong các
trường Mầm non ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
8.3. Đề xuất được một số biện pháp quản lý giáo dục trẻ khuyết tật ở các
trường Mầm non huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
Đây sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho đội ngũ quản lý và đội ngũ giáo viên các
trường Mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.


10
9. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia
thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý GDHN trẻ khuyết tật ở các trường
Mầm non.
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục trẻ khuyết tật ở các trường
Mầm non huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3: Một số biện pháp quản lý giáo dục trẻ khuyết tật ở các
trường Mầm non huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.


11
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP TRẺ KHUYẾT
TẬT Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON


một tiến bộ nào.
- Sau thời kỳ bị giam hãm trong bóng tối của nhà thờ, Thời kỳ ánh sáng và
cách mạng (1650-1800) là thời kỳ bùng nổ những tư tưởng mới tiến bộ hơn và
nhân đạo hơn. Locke (1832-1704) đã phân biệt được giữa người điên và người mất
trí: người điên đặt những tư tưởng sai cạnh nhau và lập luận dựa trên những tư
tưởng sai đó, còn người mất trí thì có rất ít hoặc không hề có sự liên kết suy nghĩ
nào. Philippe Pinel (1745-1826), một bác sĩ xuất sắc ở Paris, được coi là người đã
“phá bỏ xiềng xích” khi ông lãnh đạo bệnh viện tâm thần Bicetre năm 1793 và sau
đó là bệnh viện Salpetriere trong 3 năm. Phương pháp của ông là chăm sóc nhân
đạo, không lạm dụng thân thể và xiềng xích, điều trị nhẹ nhàng theo một lịch trình
thường xuyên và hệ thống, cung cấp sách giải trí, âm nhạc và việc làm trong các
lĩnh vực nông nghiệp. Trong tác phẩm “Một luận thuyết về sự mất trí”, Pinel đã
phân thành 5 loại bệnh: tình trạng u sầu hoặc mê sảng, điên nhưng không mê sảng,
điên có mê sảng, tâm thần phân liệt hoặc tình trạng mất cơ chế suy nghĩ, tình trạng
mất trí hay sự biến mất của các vùng trí tuệ và các cảm giác. Sau đó, Jean Mare
Gaspard Itard (1774-1836) bằng sự thực hành chăm sóc một “cậu bé hoang dã
vùng Aveyron” đã tạo ra một phương pháp có ảnh hưởng lớn tới thực hành ngày
nay: đó là ý tưởng vận dụng các mục tiêu, chiến lược hướng dẫn, giảng dạy vào
việc phát triển những nhu cầu và điểm mạnh của từng trẻ.
- Thế kỷ XIX, hai nhà giáo dục Edouard Seguin và Samuel Gridley Howe là
những nhà tiên phong trong việc đưa những phương pháp mới vào điều trị và giáo
dục cho trẻ khuyết tật. Hai ông đã làm việc với những trẻ vừa điếc vừa mù hoặc
những trẻ vừa mù vừa bị CPTTT và những trẻ bị CPTTT. Hai ông đã vận động tích
cực cho quyền của tất cả những người bị áp bức, tàn tật, kể cả người CPTTT.
Howe đã thành lập và thử nghiệm thành công một trường thí điểm cho người mất
trí từ năm 1855 có tên là “Trường Massachusetts cho trẻ KT và CPTTT”. Còn
Seguin cho rằng việc tập luyện sẽ tăng cường những liên kết cảm giác của các giác
quan với hoạt động tinh thần và việc tập luyện với một giác quan sẽ được truyền tới
một giác quan khác tạo thành một vòng tròn cảm giác-phản ánh-biểu hiện trong các


Head Start - Mỹ, một chương trình hướng vào GDHN cho trẻ khuyết tật. Chương
trình này đã giành được sự ủng hộ trên cả nước. Chính từ chương trình Head Start,


14
nhiều điều luật đã ra đời quy định việc can thiệp sớm cho trẻ như Luật công 99-457
ra đời năm 1986 tại Mỹ. Đạo luật này kêu gọi có: “một chương trình hoàn chỉnh,
chặt chẽ, đa ngành, đa chuyên môn trên các tiểu bang cho các dịch vụ can thiệp
sớm đối với tất cả trẻ sơ sinh bị khuyết tật và gia đình chúng”. Mặc dù đạo luật này
không đòi hỏi những dịch vụ phổ cập cho mọi trẻ dưới 6 tuổi, nhưng nó khuyến
khích các tiểu bang phục vụ trẻ từ 3 đến 6 tuổi và hình thành một chương trình tự
nguyện về việc cung cấp dịch vụ cho trẻ dưới 3 tuổi.[18].
Đến năm 1990, giáo dục đặc biệt đã bộc lộ những điểm yếu của nó. Phong
trào nhân quyền cũng là một nguyên nhân nữa làm dấy lên phong trào và xu hướng
mới đó là giáo dục hoà nhập. Tất cả trẻ em khuyết tật phải được cung cấp một nền
giáo dục hợp lí dựa trên chương trình giáo dục theo cá nhân trong một môi trường
ít hạn chế nhất. Việc quản lý giáo dục hoà nhập theo hướng trên đã được bắt đầu và
ngày càng hoàn thiện.
1.1.2. Ở Việt nam:
Giáo dục đặc biệt cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ XIX. Ngôi
trường đầu tiên dành cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam là trường dạy trẻ điếc ở Thuận
An (Sông Bé), do một linh mục người Pháp tên là Azemar thành lập cách đây trên
100 năm.
Năm 1903, ông Nguyễn Văn Chí, một người mù ở Pháp đã về nước thành
lập trường dạy trẻ khiếm thị tại bệnh viện Chợ Rẫy (Sài Gòn). Năm 1926, trường
nuôi dạy trẻ khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu ra đời tại Sài Gòn.
Năm 1936, tại 55 phố Quang Trung Hà Nội đã có một cơ sở dạy người
khiếm thị. Một cơ sở giáo dục đặc biệt được thành lập tại phố Hàng Lược cho trẻ
khiếm thính do một cô giáo dạy theo phương pháp dùng ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ
vào khoảng năm 1954. Sau đó, năm 1956, trường dạy chức nổi Braille cho thương

khuyết tật trong đó có trẻ CPTTT chủ yếu chỉ là nuôi dưỡng, các biện pháp y tế và
giáo dục chuyên biệt thành từng trường, lớp chuyên biệt cho trẻ khuyết tật. Đến
cuối những năm 80, giáo dục hội nhập và hoà nhập mới được biết đến thông qua
các tài liệu, đài, báo, các cuộc hội thảo khoa học, các lớp tập huấn, các đợt thăm
quan... Việt Nam đã học tập được kinh nghiệm từ nhiều nước và đã nhận thức được
quan điểm mới về tổ chức GDĐB cho trẻ khuyết tật. Các lớp tập huấn đã giúp


16
nhiều cán bộ nâng cao kiến thức và mở rộng hiểu biết về trẻ khuyết tật giúp chúng
ta có thêm hướng mới nhằm đem lại một cuộc sống tốt đẹp hơn cho trẻ khuyết tật.
Năm 1986, Phòng giáo dục trẻ điếc thuộc Trung tâm tật học - Viện Khoa
học Giáo dục đã tiến hành thực nghiệm 10 trẻ điếc ở độ tuổi 4-5, vào học hoà nhập
với trẻ bình thường trong các lớp mầm non thuộc trường Mầm non A Hà Nội. Kết
quả cho thấy tính ưu việt của loại hình giáo dục hoà nhập.
Theo tác giả Trịnh Đức Duy, giáo dục cho trẻ KT nên theo hai mô hình là
chuyên biệt và hoà nhập. Chuyên biệt là hình thức tổ chức thành trường riêng biệt
cho trẻ KT, có nội dung, chương trình riêng. Hoà nhập là hình thức đưa trẻ khuyết
tật vào học chung với trẻ bình thường, trong hoà nhập có bán hoà nhập: tổ chức cho
khuyết tật học ở lớp riêng trong trường phổ thông (hình thức lớp học chuyên biệt
trong trường bình thường-giáo dục hội nhập). [21]
Tháng 5 năm 1995, Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Viện Khoa học Giáo
dục đã triển khai chương trình giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật ở 33 tỉnh thành
trong cả nước, từ Mục Nam Quan (Lạng Sơn) đến mũi Cà Mau (Minh Hải).
Năm 1995, Trung tâm Đào tạo và Phát triển Giáo dục Đặc biệt (TTĐT&PT
GDĐB) thuộc trường Đại học Sư phạm Hà nội (ĐHSPHN) được thành lập. Đây là
cơ sở đầu tiên trên cả nước tiến hành các khoá đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy
trẻ khuyết tật trong đó có chuyên ngành CPTTT cho cả ba loại hình chuyên biệt,
bán hoà nhập và hoà nhập. [5]
Năm 1987-1997, Bộ Y tế đã chủ trì thực hiện chương trình "Phục hồi chức

chuyên gia GDĐB, xây dựng trung tâm tư liệu nguồn và tư vấn cho Bộ Giáo dục
và Đào tạo và trường ĐHSPHN về phát triển ngành học. [4]
Từ đó cho đến nay, nhiều Khoa GDĐB trong cả nước cũng đã được thành
lập đóng góp nguồn nhân lực về giáo dục đặc biệt cho cả nước.

1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Trẻ khuyết tật
1.2.1.1. Quan niệm trẻ khuyết tật trên thế giới
Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật (the Declaration on the Rights of
Disabled Persons): Thuật ngữ "người tàn tật" có nghĩa là bất cứ những người nào
mà không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ hay từng phần những sự
cần thiết của một cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt


18
bẩm sinh hay không bẩm sinh trong những khả năng về thể chất hay tâm thần của
họ.
Quy tắc tiêu chuẩn của LHQ về bình đẳng hoá các cơ hội cho người tàn tật
(the United Nations Standard Rules on the Equalization of Opportunities for
Persons with Disabilities: Thuật ngữ "tàn tật" tóm tắt một số lớn các loại hạn chế về
chức năng xuất hiện trong bất kỳ một cộng đồng dân cư ở bất kỳ một quốc gia nào
trên thế giới. Con người có thể bị tàn tật do khuyết tật về thể chất, trí tuệ hoặc giác
quan, các tình trạng bệnh lý hay bệnh tâm thần. Các tình trạng khuyết tật, điều kiện
hoặc bệnh lý như vậy có thể là vĩnh viễn hoặc tạm thời.
Công ước của LHQ về quyền trẻ em (the United Nations Convention on the
Rights of the Child) đã đồng ý xác định trẻ em "là người dưới 18 tuổi". Trong công
việc thống kê, khảo sát và điều tra về người tàn tật, định nghĩa về người tàn tật nói
chung thường được áp dụng chung cho cả trẻ em tàn tật. [23]
Như đã được sử dụng trong phần này, thuật ngữ trẻ khuyết tật nghĩa là trẻ
được chẩn đoán là bị CPTTT, khuyết tật thính giác bao gồm điếc, có vấn đề về

này có thể gây ra do bệnh tật, tai nạn, bẩm sinh, hoặc các chất độc từ môi trường.
Tàn tật đề cập đến sự tổn hại, yếu hoặc rối loạn khả năng chức năng tâm lý/sinh lý.
Khuyết tật (mức độ cá nhân): Khả năng bị giảm hoặc mất khả năng thực
hiện do hậu quả của tàn tật. Khuyết tật đề cập đến việc giảm hoặc thiếu một số khả
năng ngăn cản các hoạt động trong điều kiện bình thường.
Tật nguyền (ở cấp độ xã hội): Trải qua khó khăn bởi một người do hậu quả
của khuyết tật khiến cho người đó không thể tham gia vào cuộc sống cộng đồng
một cách bình đẳng và hoàn thành vai trò bình thường (phụ thuộc vào tuổi, giới
tính, những yếu tố xã hội và văn hoá).
Các nguyên nhân của khuyết tật được phân chia thành các loại sau: 1)
Khuyết tật bẩm sinh, 2) Do chất độc từ chiến tranh, 3) Môi trường, 4) Bệnh tật, 5)
Tai nạn giao thông, 6) Tai nạn trong nhà, 7) Những tai nạn khác, 8) Bom, mìn chưa
được phát hiện, 9) Những nguyên nhân khác.
1.2.2. GD hòa nhập, GD hòa nhập trẻ khuyết tật
1.2.2.1. Giáo dục hoà nhập
Trong thời điểm hiện tại, hoà nhập cho người khuyết tật, đặc biệt là công tác
giáo dục hoà nhập, đang thu hút sự quan tâm rộng rãi trên quy mô toàn cầu. Để có
thể hiểu rõ hơn về các thuật ngữ sử dụng, tôi xin giải thích về khái niệm hội nhập


20
và hoà nhập trong lĩnh vực giáo dục cho trẻ khuyết tật. Thuật ngữ "hội nhập" có
nghĩa là cho các trẻ có nhu cầu đặc biệt được học tập tại những trường học bình
thường. Thuật ngữ "hoà nhập" mang nghĩa rộng hơn và không chỉ bó hẹp trong
phạm vi trẻ khuyết tật mà còn bao gồm tất cả các trẻ gặp một trở ngại bất kỳ trong
học tập. Nó mang ý nghĩa triết học rộng hơn trong quá trình chấp nhận tính đa dạng
và cách thức mà loài người xử thế với các trẻ thuộc các nhóm khác nhau và các nhu
cầu của chúng trong hệ thống trường học chính quy, dạy trẻ cách hiểu và chấp nhận
sự khác biệt. Nếu hội nhập có nghĩa là giải thể các trường học và đưa trẻ có khuyết
tật nặng và hoạt động của chúng vào xã hội rộng rãi, thì giáo dục hoà nhập phải cần

chung, tổng thể, cân đối. Muốn thế, phương pháp dạy học phải có hiệu quả và đáp
ứng được các nhu cầu khác nhau của HS; muốn dạy học có hiệu quả, kế hoạch bài
giảng phải cụ thể, chú trọng áp dụng phương pháp học hợp tác…[5] [18]
1.2.2.2. Giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật
Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật là phương thức giáo dục trong đó trẻ
khuyết tật cùng học với trẻ em bình thường trong trường ngay tại nơi trẻ sinh sống.
Giáo dục hòa nhập là "hỗ trợ mọi học sinh, trong đó có trẻ khuyết tật, cơ hội bình
đẳng tiếp nhận dịch vụ giáo dục với những hỗ trợ cần thiết trong lớp học phù hợp
tại trường nơi trẻ sinh sống nhằm chuẩn bị trở thành những thành viên đầy đủ của
xã hội". Hòa nhập không có nghĩa là "xếp chỗ" cho trẻ khuyết tật trong trường lớp
và không phải tất cả mọi trẻ đều đạt trình độ hoàn toàn như nhau trong mục tiêu
giáo dục. Giáo dục hòa nhập đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết để mọi học sinh phát triển
hết khả năng của mình. Sự hỗ trợ cần thiết đó được thể hiện trong việc điều chỉnh
chương trình, các đồ dùng dạy học, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt, các kỹ năng giảng dạy
đặc thù...Trong những năm qua, cùng với sự phát triển giáo dục nói chung, giáo
dục trẻ khuyết tật đã đạt được những thành quả quan trọng về nhiều mặt. Hệ thống
quản lý giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành ở 64 tỉnh, thành phố và bước đầu đi
vào hoạt động. Mạng lưới các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên
cho giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành và đang phát triển. Các chương trình
giáo dục trẻ khuyết tật được xây dựng và triển khai thực hiện. Phương thức giáo
dục hòa nhập phù hợp hoàn cảnh nước ta đang ngày càng được áp dụng rộng rãi.
Số trẻ khuyết tật đi học ngày càng tăng. Đến nay có hơn 269 nghìn trẻ khuyết tật
được đi học trong các trường, lớp hòa nhập và bảy nghìn trẻ trong các trường
chuyên biệt. Giáo dục hòa nhập cũng đứng trước những thời cơ lớn. Tuy nhiên,


22
thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế.
Cộng đồng chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của xã hội trong việc
giáo dục trẻ khuyết tật và về khả năng phát triển của trẻ khuyết tật khi được giáo

Tạo cơ hội cho các trẻ em khuyết tật có điều kiện được học tập, vui chơi, hòa nhập
với bạn bè cùng trang lứa. [5]

1.3. Một số vấn đề lý luận về quản lý GD hoà nhập trẻ KT
1.3.1. Sự cần thiết của QLGD hòa nhập trẻ khuyết tật
Trẻ em khuyết tật chịu nhiều thiệt thòi khi phải đối mặt với sự phân biệt, đối
xử ngay trong gia đình, xã hội và cộng đồng. Vì vậy, giáo dục hòa nhập được coi là
xu hướng chung của phần lớn các nước trên thế giới và trong đó có Việt Nam.
Theo Phó Giám đốc Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục Nguyễn Thị Thái, trong
điều hành các hoạt động trường học, giáo dục trẻ khuyết tật hòa nhập là con đường
chủ yếu để thực hiện những quyền cơ bản của mọi trẻ em, nhất là quyền được giáo
dục. Trẻ khuyết tật được hưởng quyền học tập bình đẳng như những học sinh khác
và cùng học với trẻ em bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh
sống - đây cũng là cơ hội để mọi trẻ em khuyết tật được tiếp cận giáo dục một cách
bình đẳng và có chất lượng. Để có một cuộc sống hòa nhập với trẻ em khuyết tật
thì gia đình, nhà trường phải tạo mọi điều kiện để các em được cắp sách đến
trường, được học tập, hoạt động, tham gia các phong trào như mọi trẻ em khác ở
trong nhà trường. Giáo dục hòa nhập đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết để mọi học sinh
phát triển hết khả năng của mình. Sự hỗ trợ cần thiết đó được thể hiện trong việc
điều chỉnh chương trình, các đồ dùng dạy học, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt, các kỹ năng
giảng dạy đặc thù...Thực tế ở Việt Nam cho thấy, giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
còn gặp nhiều khó khăn như: cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
dạy trẻ khuyết tật chưa được đào tạo, bồi dưỡng đủ về số lượng và chất lượng để
đáp ứng nhu cầu đi học ngày càng tăng của trẻ khuyết tật... Tuy nhiên bằng những
cố gắng của ngành giáo dục trong những năm qua, giáo dục trẻ khuyết tật đã đạt
được những thành quả quan trọng về nhiều mặt. Nhận thức của các địa phương,
nhất là đội ngũ cán bộ, giáo viên đã có sự chuyển biến rõ rệt, giúp cho nhiều trẻ em
khuyết tật được tiếp nhận, chăm sóc và giáo dục tại hệ thống các cơ sở giáo dục
trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nhiều thầy giáo, cô giáo không quản ngại khó
khăn, vất vả dành tâm huyết, tình thương yêu và tinh thần trách nhiệm của mình

khác).
Đáp lại không đúng ý người khác nói, nhất là ở nơi ồn ào.
Có giọng nói to hoặc nhẹ nhàng một cách không bình thường.


25
Cau mày hoặc nhướn người lên phía trước khi nghe người khác nói. Thường
nhìn sát mặt người nói.
Phản ứng chậm sau khi nghe giới thiệu, chỉ dẫn và nhìn sang người khác
Đưa ra câu trả lời không thích hợp với câu hỏi.
Bỏ sót một số âm khi nói và thay vào một số âm khác, phát âm sai một số từ.
Phát triển ngôn ngữ chậm, sử dụng ngôn ngữ sai ngữ pháp so với lứa tuổi.
Thường khó xác định được hướng âm thanh phát ra.
Có xu hướng tự tách biệt ra khỏi hoạt động chung.
Tai bị chảy mủ, hay bị viêm họng , bị cảm lạnh, viêm amidan.
* Trẻ khiếm thị
Thế nào là trẻ khiếm thị? Trẻ khiếm thị là trẻ có khuyết tật thị giác, khi đã
có phương tiện trợ giúp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động cần sử
dụng mắt.
Căn cứ vào mức độ khiếm khuyết của thị giác người ta chia tật thị giác thành
hai loại: mù (blind) và nhìn kém (low vision).
a) Nhìn kém
Nhìn quá kém: Thị lực còn từ 0,04 đến 0,08Vis khi có các phương tiện trợ
giúp tối đa. Trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong học tập khi sử dụng mắt và cần được
giúp đỡ thường xuyên trong sinh hoạt và học tập.
Nhìn kém: Thị lực còn 0,09- 0,3 Vis khi đã có các phương tiện trợ giúp tối
đa trẻ vẫn gặp khó khăn trong hoạt động. Tuy nhiên trẻ có khả năng tự phục vụ, ít
cần sự giúp đỡ thường xuyên của mọi người, còn chủ động trong mọi hoạt động
hàng ngày
b) Mù : Gồm hai mức độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status