LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kinh tế quốc tế nói chung và hoạt động thương mại quốc tế
nói riêng ngày càng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế đất nước. Nó
góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập nền kinh tế nước ta với các nước trong
khu vực và trên thế giới .
Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế là sự ra đời của hàng
loạt các phương thức thanh toán, đó là: phương thức thanh toán chuyển tiền
(Transfer Telegraphic_ T/T), nhờ thu (Collection), Giao chứng từ trả tiền
(Cash against document _CAD), Tín dụng chứng từ (Document credit). Với 3
phương thức thanh toán đầu tiên thì rủi ro được chia cho một bên là người bán
hoặc người mua, Ngân hàng chỉ là trung gian và không bị ràng buộc trách
nhiệm phải thanh toán thì phương thức Tín dụng chứng từ (TDCT) tỏ ra ưu
việt hơn, nó dung hoà được quyền lợi cho cả hai bên. Chính vì ưu điểm này
mà phương thức TDCT được ưa chuộng hơn, ước tính có khoảng 90% các
hợp đồng ngoại thương thoả thuận phương thức thanh toán bằng Tín dụng thư
(Payment by Letter of credit_ LC). Vì vậy, đòi hỏi các NHTM Việt Nam nói
chung và NHCT chi nhánh Hoàn Kiếm nói riêng phải chú trọng nâng cao chất
lượng phương thức thanh toán TDCT nhằm hoàn thiện hơn phương thức
thanh toán quốc tế quan trọng này để từ đó có thể thúc đẩy, kích thích cho
hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam với các nước trên thế giới.
Xuất phát từ thực tiễn trên cùng với quá trình thực tập tại phòng thanh
toán XNK của ngân hàng công thương chi nhánh Hoàn Kiếm, nhận thức được
tầm quan trọng của phương thức thanh toán này đối với kinh doanh XNK
cũng như đối với bản thân NH, em đã tìm hiểu và lựa chọn đề tài luận văn tốt
nghiệp “ Giải pháp nâng cao chất lượng thanh toán bằng phương thức tín
dụng chứng từ tại Ngân hàng công thương chi nhánh Hoàn Kiếm”.
2. Mục đích của đề tài
-Khái quát lý luận về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1
-Đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng phương thức
1.1.1 Khái niệm tín dụng chứng từ
Theo điều 2, UCP 600 định nghĩa TDCT được định nghĩa như sau:
“Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hoặc
tên gọi như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không huỷ ngang
của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”. Với định nghĩa như
vậy ta có thể hiểu rằng bản chất của TDCT là một sự cam kết thanh toán có
điều kiện bằng văn bản của NHPH. “Điều kiện”ở đây chính là việc người thụ
hưởng phải xuất trình được một bộ chứng từ hoàn hảo, vậy bộ chứng từ hoàn
hảo nghĩa là thế nào, ta phải hiểu nó ra sao, ta có thể đưa ra một số chuẩn mực
chung về bộ chứng từ hoàn hảo như sau:
+ Bộ chứng từ phải phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định
trong LC.
+ Giữa các chứng từ trong bộ chứng từ không có sự mâu thuẫn với
nhau.
+ Bộ chứng từ được lập đúng luật (theo quy định của UCP).
Cũng với cách định nghĩa này thì ta nên hiểu từ “tín dụng –credit”
không phải là một khoản vay thông thường mà là “tín nhiệm”. Điều này được
thể hiện rõ trong trường hợp người nhập khẩu ký quỹ 100% giá trị của LC, thì
thực chất NH không cấp bất cứ khoản tín dụng nào cho người mở LC, mà chỉ
cho người nhập khẩu vay “sự tín nhiệm” của mình .
Tóm lại thì “tín dụng” trong phương thức tín dụng chứng từ chỉ thể
hiện khoản “tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền của NH thay cho lời
trả tiền của nhà nhập khẩu.
3
1.1.2 Các bên tham gia
Chủ thể tham gia có thể là 4 hoặc nhiều hơn tuỳ thuộc vào loại LC.
Nhưng nhìn chung có các chủ thể sau đây:
• Người xin mở thư tín dụng (Applicant for L/C): Là người làm đơn mở,
yêu cầu NH phục vụ mình phát hành ra một L/C cho người XK hưởng, đơn
yêu cầu này được dựa trên nội dung của HĐTM đã ký kết giữa người NK và
• NH chuyển nhượng (Traserfering bank): Nếu thư tín dụng được
chuyển nhượng, NH này sẽ đứng ra chuyển nhượng thư tín dụng tới người
hưởng lợi thứ 2 theo yêu cầu của người hưởng lợi đầu tiên .
1.1.3 Quy trình nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ .
Sơ đồ 1.1 : Quy trình thanh toán tín dụng chứng từ
(8)
(7)
(2)
(10) (9) (1) (3) (5) (6)
HĐTM
(4)
Bước 1: Người nhập khẩu làm đơn mở thư tín dụng gửi đến NH của
mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng.
Bước 2: Căn chứ vào đơn xin mở thư tín dụng, NH mở thư tín dụng
sẽ kiểm tra, xem xét xem đơn mở thư tín dụng đó đã phù hợp hay chưa. Nếu
phù hợp NH sẽ tiến hành lập một thư tín dụng(L/C) và gửi tới NH thông báo.
Bước 3: NH thông báo thông báo L/C cho người XK sau khi đã
kiểm tra tính chân thực của L/C.
5
ISSUING BANK
APPLICANT BENEFICIARY
ADVISING BANK
Bước 4: Người XK kiểm tra L/C, nếu chấp nhận thì tiến hành giao
hàng theo điều kiện của hợp đồng, nếu không thì tiến hành đề nghị NH mở
L/C sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng.
Bước 5:Sau khi giao hàng, người XK lập bộ chứng từ theo yêu cầu
của thư tín dụng xuất trình thông qua NHTB, thông báo cho NH mở thư tín
dụng xin thanh toán.
Bước 6: NHTB thanh toán cho người XK trên cơ sở bộ chứng từ
xuất phù hợp với điều kiện của L/C.
1.1.4.2 Tính chất của thư tín dụng
Thư tín dụng là văn bản pháp lý quan trọng của phương thức TDCT.
Nó được hình thành trên cơ sở HĐTM nhưng khi L/C đã được mở rồi thì nó
hoàn toàn độc lập với HĐTM. Vậy khi thanh toán thì các chủ thể chỉ dựa trên
những điều khoản được quy định trong L/C để thực hiện. Chỉ cần có sự xuất
trình chứng từ phù hợp thì NH có trách nhiệm thanh toán phải chi trả tiền cho
người XK mà không cần quan tâm hàng hoá có hoàn toàn đúng như chứng từ
đã ghi hay không. Đó là cam kết trả tiền, mà cam kết này là:
Thứ nhất: Là một cam kết thực sự, nghĩa là L/C không phải chỉ là
một lời hứa, bởi lẽ nếu NH mở L/C không hoàn thành đúng như những gì đã
cam kết thì NH đó sẽ phải đứng ra chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Thứ hai: Là một cam kết có điều kiện, điều kiện hai chiều từ phía
người NK và từ người XK. Người NK phải có đơn yêu cầu mở L/C, phải có
năng lực tài chính và uy tín thì mới được NH đồng ý mở L/C. Còn với người
XK, NH chỉ tiến hành cam kết thanh toán khi người thụ hưởng(người XK)
xuất trình được một bộ chứng từ hoàn hảo.
Thứ ba: Là sự cam kết dự phòng, tức là NH chỉ cam kết xem xét các
hối phiếu xuất trình đúng thời hạn và kèm với các bộ chứng từ phù hợp với
điệu kiện của L/C, còn việc trả tiền hay không lại phụ thuộc và việc xem xét
bộ chứng từ thanh toán có thực sự phù hợp với L/C hay không. Đây là giới
hạn trách nhiệm của NH.
Chính vì những đặc điểm này mà thư tín dụng là phương thức thanh
toán chủ yếu trong thương mại quốc tế. Tuy nhiên, dù là một phương thức ưu
7
việt đến đâu thì cũng có những rủi ro nhất định. Vì vậy, khi tham gia thanh
toán, không những NH mà tất cả các bên tham gia đều phải nghiên cứu kỹ nội
dung của Tín dụng thư.
1.1.4.3 Nội dung của thư tín dụng :
Số hiệu L/C: Là nội dung bắt buộc, là số được ghi trên mỗi L/C để
trao đổi thư từ, điện tín liên quan đến việc thực hiện thư tín dụng. Trong quá
giao hàng một thời gian hợp lý nhằm đảm bảo thời gian lập bộ chứng từ, luân
chuyển chứng từ, lưu chứng từ tại NH.
Thời hạn trả tiền của LC: Là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền về
sau, điều này phụ thuộc vào quy định trong hợp đồng. Nếu việc đòi tiền bằng
hối phiếu thì thời hạn trả tiền được quy định ở yêu cầu ký phát hối phiếu, thời
hạn trả tiền của LC có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của LC hoặc có thể
nằm ngoài thời hạn hiệu lực của LC. Ví dụ nếu là thời hạn trả tiền ngay thì
phải nằm trong thời hạn hiệu lực của LC.
Thời hạn giao hàng: Căn cứ vào hợp đồng ngoại thương mà ngày
giao hàng được quy định trong LC. Thời hạn này phải sau ngày mở LC và
trước ngày hết hạn hiệu lực của LC.
Nội dung liên quan đến hàng hoá: Bao gồm tên hàng, số lượng,
trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, mã ký hiệu…
- Nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá: bao gồm điều kiện cơ sở
giao hàng (FOB,CIF,CFR), nơi gửi, nơi giao hàng, cách vận chuyển, cách
giao hàng…
- Những chứng từ người XK phải xuất trình: Đây cũng là nội dung rất
quan trọng của LC. Bộ chứng từ là căn cứ để NH kiểm tra mức độ hoàn thành
của nghĩa vụ giao hàng của người XK và đã thực hiện đúng quy định trong
thư tín dụng, để tiến hành việc trả tiền cho người XK. Thông thường bộ
chứng từ bao gồm:
+ Bản gốc thư tín dụng.
+ Hoá đơn thương mại.
+ Giấy tờ bảo hiểm.
+ Vận đơn.
+ Giấy chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá.
+ Bản kê khai hàng hoá.
9
+ Một số giấy tờ khác theo yêu cầu của người XK.
- Cam kết trả tiền của NHPH thư tín dụng: Là nội dung cuối cùng của
đã mở thì NHPH không được sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ trong thời hạn
hiệu lực của L/C nếu không có sự đồng thuận cuả người thụ hưởng và
NHXN (nếu có). Với loại thư tín dụng này thì quyền lợi nhà XK được đảm
bảo, do đó loại thư tín dụng này được sử dụng phổ biến trong thanh toán
quốc tế. Trong UCP 600 cũng thể hiện rõ điều này. “Nếu không có ghi chú
gì đặc biệt thì loại thư tín dụng được hiểu là thư tín dụng không thể hủy
ngang”
c) L/C không huỷ ngang có xác nhận (Confirmed L/C): Là loại L/C
không thể huỷ ngang, được một NH uy tín đứng ra đảm bảo thanh toán tiền
hàng cho người hưởng lợi khi ngân hàng mở gặp rủi ro không có khả năng
thanh toán. Nguyên nhân phát sinh ra loại L/C này là vì người hưởng lợi
không tin tưởng vào khả năng thanh toán của ngân hàng mở L/C. NHXN có
thể do người hưởng lợi chỉ định, hay NH mở lựa chọn nhưng phải được sự
đồng ý của người hưởng. Thông thường NH mở L/C phải trả thủ tục phí xác
nhận, có thể còn phải ký quỹ 100% giá trị L/C tại NHXN. Thư tín dụng này là
loại đảm bảo nhất cho người XK vì người XK được hai NH đứng ra cam kết
thanh toán tiền cho hàng hoá XK. Trên nguyên tắc, người nhập khẩu là người
phải trả phí xác nhận, nhưng thực tế với lợi ích mang lại cho nhà XK, nhà XK
phải trả phí xác nhận này .
Các loại L/C đặc biệt :
a) L/C chuyển nhượng (Transferable L/C): Là loại L/C không huỷ
ngang, theo đó người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hay toàn
bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cũng như quyền đòi tiền mà mình có được cho
những người hưởng lợi thứ hai, mỗi người hưởng lợi thứ hai nhận cho mình
một phần của thương vụ. Khái niệm chuyển nhượng đây là bao gồm chuyển
nhượng quyền thực hiện L/C và quyền được đòi tiền. Nhưng sự chuyển
nhượng phải được thực hiện theo đúng L/C gốc và mỗi L/C chuyển nhượng
chỉ có thể chuyển nhượng một lần. Việc chuyển nhượng L/C không có nghĩa
là hợp đồng mua bán cũng được chuyển nhượng. Người hưởng lợi ban đầu
11
tín dụng thư dự phòng hoặc yêu cầu bên đối tác mở cho mình nếu muốn
quyền lợi của mình được đảm bảo chắc chắn.
e) L/C đối ứng(Reciprocal L/C): Thư tín dụng đối ứng là loại L/C
không thể huỷ ngang và chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C kia đối ứng với nó
được mở. L/C đối ứng được áp dụng trong phương thức mua bán đổi hàng
hay gia công, nó đảm bảo quyền lợi cho người gia công bởi vì sản phẩm làm
ra có đặc điểm riêng do người đặt hàng quy định nên hầu như chỉ có người
đặt hàng tiêu thụ. Trong quan hệ giao dịch này thì người bán đồng thời cũng
là người mua và ngược lại.
f) L/C tuần hoàn (Revolving L/C): Là L/C không huỷ ngang mà sau
khi đã sử dụng hết giá trị của nó hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tự
động có giá trị như cũ và tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong
một thời hạn nhất định cho đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện.
Loại L/C này tạo điều kiện tốt cho nhà nhập khẩu mua được hàng hoá trong
suốt thời gian dài khi thị trường đang có lợi thế cho mình. Hơn nữa, giúp
cho nhà nhập khẩu khi mở L/C này không phải yêu cầu ngân hàng mở thêm
các L/C khác cho cùng một đơn đặt hàng, giúp nhà NK không bị đọng vốn,
không bị tính phí mở nhiều lần L/C. Loại L/C này được sử dụng với những
mặt hàng được mua bán thường xuyên, định kỳ, số lượng lớn, giao nhiều lần
trong một thời gian nhất định hoặc các bên mua bán quen thuộc và tin cậy
lẫn nhau.
1.1.5 Văn bản pháp lý điều chỉnh quan hệ thanh toán TDCT
a) Quy tắc thống nhất và thực hành về tín dụng chứng từ- UCP
Văn bản quốc tế thông dụng của phương thức tín dụng chứng từ là“Qui
tắc thống nhất và thực hành về tín dụng chứng từ” (Uniform Customs and
Practice for Documentary credit _ UCP) của Phòng thương mại quốc tế ấn
hành từ 1933 qua các năm sửa đổi 1951, 1962, 1974, 1983, 1993 và lần gần
đây nhất là năm 2007 với tên gọi là UCP 600. Được đánh giá là bản sửa đổi
toàn diện, sâu sắc và nhằm đáp ứng sự thay đổi về chiều sâu trong công nghệ
tin học, công nghệ vận tải… Tuy nhiên, những văn bản ra đời sau không huỷ