Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội huyện đầm hà, tỉnh quảng ninh - Pdf 31

LỜI NÓI ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài:
Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu, mục tiêu xoá đói
giảm nghèo không chỉ có ở nước ta mà còn nhiều nước trong khu vực và trên
thế giới.
Nghèo đói không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội được
hưởng thụ thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gây ra những
hậu quả nghiêm trọng về vấn đề kinh tế xã hội đối với sự phát triển, sự tàn phá
môi trường sinh thái. Vấn đề nghèo đói không được giải quyết thì không một
mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế cũng như quốc gia định ra như tăng
trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hoà bình ổn định, đảm bảo các quyền con
người được thực hiện.
Sự phát triển ổn định xã hội là nhân tố cần thiết không thể thiếu ở bất kỳ
nền kinh tế nào. Đặc biệt Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi, phát triển
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc phát triển ổn định
đời sống, giảm dần khoảng cách phát triển giữa các vùng, khu vực, đối tượng
trong xã hội là yêu cầu cấp thiết có ý nghĩa quan trọng trên bước đường hội
nhập.
Để giải quyết yêu cầu cấp thiết trên, Nhà nước ta đã quan tâm đến việc
ban hành và thực hiện những chính sách ưu đãi đặc biệt là ưu đãi về tín dụng
đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác với mục đích trợ giúp
về năng lực tài chính để các đối tượng này có thể ổn định đời sống. Chính vì
vậy được sự quan tâm của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan chức năng, Bộ
Tài chính, Ngân hàng nhà nước thì hoạt động của các tổ chức tín dụng đã hỗ
trợ phần nào hoạt động sản xuất của hộ nghèo. Tuy nhiên với những đặc thù:
địa bàn, nguồn vốn huy động cho vay, giải ngân đối với hộ nghèo còn gặp
1


nhiều bất cập khó khăn mà các tổ chức tín dụng đặc biệt là Ngân hàng Chính
sách xã hội không thể giải quyết một cách đồng bộ.

QUẢNG NINH
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN MỞ RỘNG VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO

3


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CHO VAY HỘ NGHÈO
1.1. VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO:
1.1.1 Khái quát về hộ nghèo :
Nghèo là tình trạng thiếu thốn về nhiều phương diện như: Thu nhập thấp do
bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản của cuộc sống hàng ngày,
thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước
những đột biến, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định...Như vậy nghèo đói
được định nghĩa trên nhiều khía cạnh khác nhau. Việc đo lường được từng khía
cạnh đó một cách nhất quán là điều rất khó khăn.
- Hiện nay có nhiều quan điểm về đói nghèo nhưng có một định nghĩa
chung nhất có tính về hướng đánh giá, nhận diện đói nghèo được đưa ra tại hội
nghị các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức ở
Bangkok – Thái Lan tháng 9/1993 bàn về giảm đói nghèo như sau: “Nghèo là
tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu
cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh
tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”.
Nghèo đói được nhận diện trên 2 phương diện:
- Nghèo đói tuyệt đối: Một hộ nghèo được xem là nghèo tuyệt đối khi mức
thu nhập thấp hơn tiêu chuẩn nhỏ nhất ( mức thu nhập nhỏ nhất) được quyết định
bởi 1 quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định.
-Nghèo tương đối: Tình trạng mà một hộ gia đình thuộc về nhóm người có
thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địa điểm cụ thể và thời gian nhất
định. Như vậy nó được xác định trong mối tương quan xã hội về tình trạng thu

Lao động thương binh Xã hội) phương pháp này hiện đang được sử dụng để xác
định chuẩn nghèo đói của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia.
Chuẩn nghèo áp dụng cho mỗi thời kỳ lại khác nhau, tuỳ theo tình hình
phát triển kinh tế - xã hội

Giai đoạn

2001 - 2005

Bảng 1.1. Chuẩn nghèo của Việt Nam
Tiêu chuẩn nghèo
Khu vực
Mức thu nhập/người/tháng (Đồng)
Thành thị

150.000

Nông thôn đồng bằng

100.000

Nông thôn miền núi

80.000

và hải đảo
2006 - 2010

2011-2015



Thứ nhất: Nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo.
Thứ hai: Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên và xã hội.
Thứ ba: nhóm nguyên nhân do cơ chế chính sách.

*Nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo:
- Không có kiến thức và thiếu kinh nghiệm sản xuất, hộ nghèo thường bị giới
hạn trong hoà nhập cộng đồng bới phải sống ở vùng sâu, vùng xa, những nơi hẻo
lánh, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng ở mức thấp kém, thiếu phương tiện
thông tin, văn hoá, không được học hành. Lý do này khiến hộ nghèo luôn gắn với
phương pháp canh tác cổ truyền, chậm ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất, không có cơ hội và điều kiện để nâng cao trình độ dân trí.
-Thiếu kiến thức và kinh nghiệm sản xuất là một trong những nguyên nhân
cơ bản nhất dẫn đến nghèo đói và tái nghèo đói. Nếu mục tiêu đề ra là hỗ trợ vốn
cho hộ nghèo nhằm tạo điều kiện cho hộ nghèo thoát khỏi nghèo đói thì ngược lại
việc hỗ trợ vốn cho người nghèo thiếu kiến thức và kinh nghiệm làm ăn dường như
chỉ là một giải pháp cứu đói vì nếu không kết hợp với các chương trình khuyến
nông, khuyến lâm, chuyển giao kỹ thuật thì hộ nghèo lại rơi vào tình trạng tái nghèo
đói.
-Thiếu vốn sản xuất: Vốn được coi là yếu tố cực kỳ quan trọng là tiền đề để
giải quyết nghèo đói. Hộ nghèo thiếu vốn thường rơi vào vòng luẩn quẩn, sản xuất
kém, làm không đủ ăn phải đi làm thuê, để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hằng ngày.
Việc đi vay nặng lãi để đảm bảo cuộc sống cũng như để sản xuất, trong khi năng
suất lao động lại thấp lại bị đẩy vào vòng luẩn quẩn nghèo đói vẫn hoàn nghèo đói.

7


Hộ nghèo thiếu vốn sản xuất nhưng không dễ dàng đến được với các kênh tín dụng
chính thức vì:

chi tiêu không có kế hoạch lãng phí, lười lao động, mắc vào các tệ nạn xã hội.
*Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên và xã hội:
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nó tác động tới sản xuất nông nghiệp. Những
vùng điều kiện tự nhiên không thuận lợi thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, dẫn
đến mất mùa, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn
là những vùng có tỷ lệ nghèo đói cao. Mặt khác, một số vùng của nước ta do phải
gánh chịu hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề, mất người, mất của, cơ sở hạ tầng
phục vụ sản xuất và đời sống bị huỷ hoại. Đây là nguyên nhân gây nên nghèo đói
và các vấn đề xã hội khác cần phải giải quyết. Phần lớn hộ nghèo là những hộ sống
ở nông thôn nên so với thành thị bị lạc hậu, không chỉ biểu hiện ở cơ sở vật chất, hạ
tầng thấp kém mà còn có nhũng hủ tục, tập quán lạc hậu cản trở sự tiếp thu khoa
học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, gây tốn kém, lãng phí để dẫn đến nghèo đói.
*Nguyên nhân do cơ chế chính sách:
Hiện nay Chính Phủ đã có chính sách ưu tiên phát triển nông thôn đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng nhất là miền núi, khuyến khích sản xuất tạo công ăn việc
làm. Nguồn vốn đến với người nghèo chưa được tập trung, chính sách giáo dục, y tế
còn hạn chế. Đặc biệt là thị trường đầu ra nông sản đang là mối lo của người nông
dân. Các nhà điều tra xã hội học cho rằng vấn đề không phải vì người nghèo ở nông
9


thôn làm việc ít mà chính họ làm việc rất nhiều. Do chưa biết áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật nên năng suất thấp, chất lượng sản phẩm không cao nên sản phẩm làm
ra chỉ bán được với giá thấp.
Những nguyên nhân trên ít nhiều tác động qua lại lẫn nhau, nếu không có
những giải pháp tích cực đối với nhũng vùng nghèo, những hộ nghèo thì tình trạng
nghèo đói trong từng vùng sẽ ngày càng trầm trọng hơn.
1.1.2 Sự cần thiết phải hỗ trợ hộ nghèo :
Về khía cạnh kinh tế
Đói nghèo là một hiện tượng phổ biến và tồn tại khách quan trong nền

phủ, không vì mục tiêu lợi nhuận.
- Nguyên tắc cho vay: Cho vay hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh,
không cần tài sản bảo đảm. Hộ nghèo là những hộ được xác định theo chuẩn
nghèo của Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội ban hành. Cho vay phải hoàn trả
cả lãi và gốc theo đúng thời hạn đã thoả thuận.
1.1.3.2. Vai trò của tín dụng chính sách đối với hộ nghèo
Như đã phân tích nguyên nhân đói nghèo ở trên thì việc thiếu vốn sản xuất
là yếu tố chính khiến con người rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói, nguy cơ
đói nghèo luôn hiện hữu ở cuộc sống của họ, cung cấp tín dụng chính sách cho
các hộ nghèo sản xuất kinh doanh là một chìa khoá quan trọng để hộ nghèo vươn
lên thoát nghèo. Vai trò của tín dụng chính sách thể hiện ở các điểm sau:
11


- Cung ứng vốn giúp người nghèo hoạt động kinh tế hiệu quả hơn, nâng
cao thu nhập: Có vốn thì hộ nghèo sẽ có thêm tư liệu sản xuất, phát triển thêm
được nhiều loại hình kinh doanh sinh lời, năng suất lao động tăng cao, mở rộng
thị trường hàng hoá dịch vụ, vòng luẩn quẩn bị phá vỡ. Từ đó giúp nâng cao thu
nhập, và kinh nghiệm sản xuất kinh doanh.
- Tạo động lực giúp người nghèo vươn lên thoát nghèo: Nghèo đói là do
rất nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, song người nghèo thì rất khó
để tự mình thoát ra khỏi tình trạng nghèo đói thế, nếu như không có sự giúp đỡ
thì họ sẽ có tâm lý chán nản, tự ti, lười biếng. Tín dụng chính sách đã mở ra một
con đường giúp họ cải thiện đời sống và đây chính là động lực giúp họ cố gắng
lao động sản xuất để vươn lên thoát nghèo, vì họ biết rằng cơ hội cho họ là rất ít.
- Giúp nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường: Thông qua các chương
trình xóa đói giảm nghèo, những hộ nghèo được vay vốn sản xuất kinh doanh, họ
có điều kiện phát triển nhiều loại hình sản xuất, vì vậy cơ hội tiếp xúc với thị
trường là lớn, thông qua đó thì biết cách làm ăn đó là phải sản xuất những gì,
trồng cây gì, nuôi con gì sao cho mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, một mặt

+ Tín dụng cho hộ nghèo giúp hạn chế các mặt tiêu cực trong xã hội, giảm
tình trạng mất trật tự an ninh xã hội, tạo ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã
hội ở nông thôn.

13


+ Qua hoạt động của tổ tiết kiệm và vay vốn, kết hợp với các ban ngành,
hội đoàn thể ở địa phương đã nêu cao tinh thần tương thân, thương ái, giúp đỡ
lẫn nhau, tạo niền tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước.
+ Góp phần tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
tích cực, tạo ra nhiều ngành nghề, dịch vụ mới trong nông thôn do áp dụng khoa
học công nghệ, đẩy nhanh quá trình phân công lao động trong sản xuất nông
nghiệp nông thôn.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá mở rộng và hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo
Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng là mục tiêu quan trọng trong
hoạt động cho vay của ngân hàng và được đánh giá trên cở sở một số chỉ tiêu
sau:
Một là, số hộ thoát nghèo, tỷ lệ hộ thoát nghèo:
Số hộ thoát nghèo là chỉ tiêu quan trọng nhất nó phản ảnh trực tiếp hiệu
quả tín dụng của chương trình cho vay hộ nghèo, số hộ thoát nghèo càng cao thì
hiệu quả tín dụng càng lớn. Những hộ đã thoát nghèo là những hộ có mức thu
nhập bình quân cao hơn chuẩn mực nghèo đói hiện hành, có khả năng vươn lên
hoà nhập với cộng đồng.
Tỷ lệ hộ thoát nghèo phản ánh việc sử dụng và phát huy hiệu quả của đồng
vốn Ngân hàng cho vay, tỷ lệ này càng cao nghĩa là vốn cho vay của Ngân hàng
đã được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo được nâng
cao.

14

với Ngân hàng, hay chính xác hơn đó là chỉ tiêu này phản ánh mức độ rủi ro mà
Ngân hàng gặp phải. Tỷ lệ nợ quá hạn mà cao nghĩa là hiệu quả tín dụng thấp
đồng nghĩa với việc nhiều khoản vay bị hộ nghèo sử dụng sai mục đích, đến hạn
không có tiền để trả nợ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì hoạt
động của Ngân hàng.
Ba là, số hộ nghèo được vay vốn và tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn Ngân hàng:
+ Chỉ tiêu số hộ nghèo được vay vốn: tính theo số luỹ kế đến thời điểm
cuối kỳ báo cáo:

15


Số lượt hộ nghèo
được vay vốn

Luỹ kế số lượt hộ được
=

+
vay đến cuối kỳ trước

Số lượt hộ được
vay trong kỳ báo cáo

+ Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn:
Tỷ lệ hộ nghèo được vay
vốn Ngân hàng

=



x 100%

Chỉ tiêu này phản ánh quy mô tín dụng của chương trình cho vay hộ
nghèo so với các chương trình khác, nếu tỷ trọng này giảm đi có nghĩa là Ngân

16


hàng chính sách xã hội đã mở rộng đối tượng cho vay nhằm mục tiêu xóa đói
giảm nghèo toàn diện.

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng và hiệu quả tín dụng
1.2.3.1. Nhóm nhân tố khách quan
- Môi trường tự nhiên: Thiên tai, lũ lụt ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh
doanh của hộ nghèo, làm cho nguồn vốn tín dụng không phát huy hiệu quả của
nó.
- Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đât nước: Những năm qua kinh tế
trong nước cũng như thế giới có nhiều biến động theo hướng tiêu cực, lạm phát
tăng cao, khủng hoảng tài chính… Các Ngân hàng chạy đua lãi suất, điều đó đã
làm giảm quy mô cho vay của NHCSXH đối với hộ nghèo, dẫn đến không đảm
bảo nguồn vốn cho phát triển sản xuất.
- Môi trường pháp lý: Để hiệu quả tín dụng cho hộ nghèo được nâng cao thì đòi
hỏi môi trường pháp lý phải đồng bộ và hoàn thiện. Vì NHCSXH hoạt động
không vì mục tiêu lợi nhuận, đối tượng phục vụ chủ yếu là hộ nghèo – những
người nhận thức chung về pháp luật còn hạn chế. Điều này sẽ gây khó khăn cho
chương trình cho vay hộ nghèo và tất yếu dẫn đến hiệu quả tín dụng thấp.
- Chủ trương chính sách của Đảng: Hiệu quả tín dụng sẽ được nâng cao khi
Đảng và nhà nước có những chủ trương chính sách đúng đắn trong từng thời kỳ,
đó là việc ban hành các quyết định, các chương trình, mục tiêu quốc gia về xoá



- Cơ sở vật chất của Ngân hàng chính sách xã hội : Nếu cơ sở vật chất của
Ngân hàng thiếu thốn, phòng làm việc chật hẹp thì sẽ gây cản trở quá trình tiếp
đón, thực hiện giao dịch với khách hàng, làm gián đoạn công tác giải ngân.
NHCSXH muốn nâng cao hiệu quả tín dụng thì cần phải xây dựng tốt cơ sở vật
chất kỹ thuật, một mặt vừa phục vụ tốt quá trình làm việc của cán bộ Ngân hàng,
thuận tiện cho khách hàng đến giao dịch với Ngân hàng, một mặt vừa tạo tiền đề
để Ngân hàng có thể phát triển, mở rộng thêm nhiều loại hình dịch vụ khác để
phụ vụ tôt nhất nhu cầu của khách hàng. Đây chính là cơ sở làm tăng niềm tin
vào Ngân hàng của khách hàng, và để làm được điều này thì nhà nước, chính
quyền các cấp cùng phải ra sức đầu tư để làm hiện đại hoá cơ sở vật chất của hệ
thống NHCSXH.
- Phẩm chất, năng lực cán bộ Ngân hàng: Người nghèo là những người không
có tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay, để người nghèo thực sự giữ được chữ tín
đối với Ngân hàng thì trước hết phải để họ tin tưởng và coi ngân hàng chính sách
xã hội là một người bạn của họ, đây chính là trách nhiệm của đội ngũ cán bộ,
nhân viên Ngân hàng. Người nghèo là đối tượng rất dễ bị tổn thương vì thế khi
tiếp xúc, làm việc với họ thì đòi hỏi cán bộ Ngân hàng phải giữ một thái độ niềm
nở, tạo sự gần gũi, thân thiện với họ. Hơn nữa cho vay đối với hộ nghèo là một
hình thức cho vay chứa nhiều rủi ro vì hầu hết các hộ nghèo vay vốn đều không
có hoặc thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, khả năng hoàn trả vốn thấp, vì
thế đòi hỏi cán bộ Ngân hàng phải có năng lực, trình độ để hạn chế rủi ro. Bằng
cách thẩm định chính xác các dự án, đối tượng xin vay vốn, tư vấn những cách
thức sản xuất kinh doanh phù hợp cho từng đối tượng vay vốn để nâng cao hiệu
quả trên một đồng vốn.
1.2.3.3. Nhóm nhân tố thuộc về bản thân người nghèo
19



-Đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài
21


-Hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn
-Hộ nghèo về nhà ở
-Dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn
-Thương nhân hoạt động tại vùng khó khăn.
2.2 THỰC TRẠNG MỞ RỘNG VÀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ
NGHÈO Ở NHCSXH HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH.
2.2.1 Một số điều kiện tự nhiên và xã hội có ảnh hưởng đến hoạt động cho
vay ưu đãi hộ nghèo ở huyện Đầm Hà.
Đầm Hà là một huyện ở miền Đông của tỉnh Quảng Ninh,phía tây bắc giáp
huyện Bình Liêu, phía đông bắc giáp huyện Hải Hà, phía tây nam giáp huyện
Tiên Yên và phía đông nam giáp biển, ngoài biển là quần đảo Vạn Mặc.
Đầm Hà có diện tích tự nhiên rộng 41.436 ha, trong đó trên 80% diện tích là đồi
núi. Núi Đại Hoàng Mô (Tài Voòng Mố lẻng) 1.106m, núi Tế Hoàng Mô (Say
Voòng Mố lẻng) 1.025m. Địa hình thấp dần về phía nam. Vùng phía nam huyện
là một cánh đồng trung du đông dân cư và là một vùng trọng điểm nông nghiệp.
Sông Đầm Hà dài 25km bắt nguồn từ nhiều dòng suối trên các triền núi phía bắc
đổ về, mùa mưa hay có lũ lớn. Phù sa của sông Đầm Hà và sông Đồng Cái
Xương đã bồi tụ nên một dải bãi triều ven biển, tạo nên một tiềm năng nuôi
trồng đánh bắt thủy hải sản.
Khí hậu ở Đầm Hà vừa chịu ảnh hưởng của núi cao vừa mang tính chất
biển. Độ ẩm trên 80%, lượng mưa trung bình năm lớn, trên 2000mm/năm. Gió
mùa đông bắc thổi mạnh, vùng núi hay có sương muối, nhiệt độ có khi dưới
4oC.

22


những sắc thái đặc thù chung trên toàn quốc (không phải là cho vay thương
mại nhưng cũng không phải cấp phát của Ngân sách Nhà nước), hộ nghèo
được ưu đãi lãi suất, thủ tục cho vay đơn giản, không phải thế chấp tài sản,
được giải ngân trực tiếp tại xã, quy trình cho vay được xã hội hoá thông qua
việc bình xét và giám sát của cộng đồng xã hội, cấp chính quyền ở xã, đã thực
sự là cơ hội cho các hộ nghèo.
Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, Chính phủ đã hình thành một chương
trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo, thực hiện xã hội hoá, đa dạng hoá các
kênh huy động vốn và hỗ trợ mọi mặt cho các hộ nghèo. Trên cơ sở chủ
trương của Đảng về xoá đói giảm nghèo, Chính phủ đã tiến hành nhiều giải
pháp đồng bộ để hỗ trợ các hộ nghèo, vùng nghèo như: Đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng; chương trình định canh định cư, phân bố lại dân cư chương trình
chuyển giao kỹ thuật, khuyến nông khuyến lâm; chương trình tạo việc làm.
Trong thực tế phần lớn các tổ chức tín dụng trong nước đều có mạng lưới
ở khu vực nông thôn, cho vay có tính chất tác động đến nông nghiệp, nông
thôn và xoá đói giảm nghèo. Nhiều hộ nông dân được vay vốn ưu đãi xoá đói
giảm nghèo, vươn lên thành hộ trung bình và hộ khá, trở thành khách hàng
của các TCTD khác. Hoặc trong cùng một hộ nông dân, vừa vay vốn ưu đãi,
vừa vay vốn NHTM...
2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ VIỆC MỞ RỘNG VÀ HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ NGHÈO
Sau 11 năm đi vào hoạt động đến nay NHCSXH huyện đã ổn định tổ
chức đi vào hoạt động bình thường; với 08 cán bộ nhưng do có phương pháp
triển khai mạng lưới phục vụ phù hợp với địa phương (gồm 01 điểm giao dịch
tại NHCSXH huyện và 08 điểm giao dịch lưu động tại các xã trong huyện) .
NHCSXH huyện Đầm Hà đã khẳng định được vai trò, vị thế loại hình tín dụng
24


chính sách phù hợp với thực tiễn hiện nay và phát huy được vai trò, nhiệm vụ
mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status